Hôm nay,  

Tản thần văn thời mắc dịch

02/10/202210:21:00(Xem: 3582)
Phiếm

Hái_dừa


Đọc Sử Ký Tư Mã Thiên có đoạn Thái sử công viết đại ý rằng. Nhà nọ có cậu con trai thời trẻ ăn chơi phóng túng, trai gái dặt dìu chẳng may tửu sắc quá độ lâm trọng bệnh rồi chết. Đám tang anh ta người đưa tiễn rất đông toàn là phụ nữ trẻ có, già có, sồn sồn có, công nương quý phái đài các lầu vàng điện ngọc cũng có mà các cô thôn nữ làm lụng nơi nương rẫy thậm chí mấy cô ca nữ lầu hồng kỹ viện đến gái ăn sương bến xe xó chợ cũng rất nhiều. Bạn của phụ thân anh ta mới an ủi người cha già đang ủ rũ sau xe tang: Nhà ông thật có phúc huệ lớn cậu cả quy tiên mà người đưa đón có hàng vạn. Bậc công hầu khanh tướng không dễ có mấy ai. Nghe người ta khen tặng con mình ông ta không những không cám ơn còn mắng nhiếc con trai: Đồ bất hiếu tử ấy ông đừng nhắc nó làm gì, tôi hận nó mà còn sống tôi nọc đánh trăm roi cho bỏ cái tật quyến luyến đàn bà mà không lo làu thông kinh sử, không biết in năm bảy tập thơ để đời ngưỡng vọng như Lý, Đỗ, Thôi, Hàn. Đáng lẽ tôi không đưa đám nó nhưng nghĩ tình máu mủ mới đưa nó một thôi đường chứ trong bụng không muốn tí nào. Gặng hỏi mãi ông cụ mới thố lộ nội tình.Đấy ông xem người tới nhà quàn đưa đám toàn đàn bà con gái, các bậc trưởng giả lèo tèo vài người mà cũng là bọn thường ngày đàn đúm ăn chơi rượu chè cờ bạc với nó, có thấy ai trong ban biên tập các tờ báo lớn hay chủ biên các văn đàn nổi tiếng không? Điều đó chứng tỏ khi còn sinh thời hắn thi ân, ong bướm vật vờ đầu mày cuối mắt với bọn đàn bà thê thiếp mà không kính trọng bậc trưởng giả nên kiếp chết kiếp mất mà họ vẫn không thèm tống tiễn. Đám tang mà không có áo mũ cân đai, vét tông, tế, điếu, cáo phó, vòng hoa, của các bậc văn hào, thi bá trong văn bút, văn lâm đưa đám thì nó chẳng là tiện dân là gì. Nói xong ông nhìn lên trời khóc ngất rồi thổ huyết lai láng. Bà con láng giềng xúm lại khuyên giải hồi lâu mới nguôi ngoai.

 

(Đọc đến đây kẻ hèn sực nghĩ cuộc trần thân đời mình bỗng dưng lạnh toát sống lưng về cái tội in mấy tập thơ toàn thơ tình không có những bài thơ ca tụng đức độ tài ba của các bậc công hầu khanh tướng ở lưỡng viện quốc hội danh vang bốn biển uổng một đời cầm bút làm thơ tản thần vội mở ngay laptop làm một lúc chín bài thơ thời sự chính trị gắn thẻ cho các bậc facebooker trưởng giả trong làng văn cả hải ngoại lẫn trong nước còn một mớ thơ tình gói đến bảy lớp giấy nilon đào sâu chôn chặt đưới gốc khế sau nhà chờ ngày quang phục tình ca.)

 

N g u y ễ n H à n C h u n g có thơ rằng:


Bạn có bằng lòng không?

 

 Kết bạn trên facebook

các bậc học giả ít
giới tài nữ quá nhiều
in thơ năm bảy tập
toàn trị thơ tình yêu

 

Đáng căng nọc mà đánh

kẻ quyến luyến má hồng

xa các bậc tôn trưởng

viết phê bình nghiên cứu
làm sao thơ có thể
phục vụ nhiều nhơn dân


Sách xưa dạy như thế
ta lấy làm tủi thẹn
ra gốc khế sau nhà
đào sâu và chôn chặt
không để lòi chữ ra

Mai đây đi tàu suốt
tiễn biệt thơ tản thần
không lẽ chỉ tài nữ
mới thiệt là tri âm!

Bình ngắn của GSTS Sấu Mã:

Nhà thơ đang “tự vấn”. Nói bằng giọng của mình, về bất cứ điều gì mà chả quý. Ông Tản Đà vừa viết văn thuyết lý, vừa viết văn chơi đấy thôi. Thơ tình của huynh, dù bị gói trong mấy lớp nilon, vẫn cứ… thụ tinh được như thường. Huynh không moi lên, sẽ có người moi. Chả cứ gì giới nữ lưu. Không có thụ tinh, dòng đời đóng băng và chết ngắc à!

 

– Nguyễn Đức Mù Sương

VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.