Hôm nay,  

Căn nhà cuối cùng

05/10/202220:43:00(Xem: 3901)

Truyện ngắn

DSC_0489-1536x1024

Đài Việt Nam trên ti vi đang quảng cáo rầm rộ nhà quàn Mây Chiều – một nhà quàn lớn và nổi tiếng trong thành phố –  sẽ chiêu đãi hai bữa ăn chiều tại nhà hàng Thiên Thai vào tuần lễ này để giới thiệu chương trình giảm giá mới của họ. Giá đất mộ huyệt và service tang lễ giảm 20% .

 

Nhà quàn thật là thâm thúy. Đầu tháng mười, đầu mùa Thu, thời tiết dịu dàng lại, mây gió hiu hiu làm người ta dễ chạnh lòng liên tưởng đến mùa Thu cuộc đời. Chắc người tham dự sẽ đông lắm. Anh chị Bông cũng sẽ đi tham dự. Hai vợ chồng từ bấy lâu nay vẫn muốn chu tất cho “căn nhà” cuối cùng của cuộc đời mình, mà ai cũng cần phải có, không muốn cũng không xong.

 

Năm giờ chiều chủ nhật anh chị Bông đến nhà hàng Thiên Thai đã thấy khá đông người, nhìn quanh hầu hết toàn là những ông bà tuổi chiều tà. Có vài người trẻ trẻ chắc là đi tham dự để “mua nhà” cho cha mẹ già hay người đau bệnh quỹ thời gian không còn là bao. Anh chị Bông ngồi vào một bàn với những người xa lạ, Các bà “chiều tà” nhưng ai cũng ăn diện và trang điểm tươi như hoa, cứ tưởng như các bà đang đi ăn đám cưới hay sinh nhật bạn bè. Mua mộ phần là để đấy và ai cũng ước mơ mình sống lâu trăm tuổi. Người ta nói chuyện với nhau về nhà cửa con cháu, về tuổi già và cái chết. Mọi người đồng quan điểm mình lo trước hậu sự là đỡ phiền cho con cháu sau này. Anh chị Bông thì nói với nhau chuyến này chắc sẽ mua hậu sự với giá rẻ đây.

 

Tiệc tàn anh chị Bông ra lấy hẹn với chị Tiên, một nhân viên nhà quàn. Hẹn nhau đi xem đất nghĩa trang vào ngày mai.

 

Từ ngày sang định cư ở Mỹ gia đình chị Bông đã mấy lần dọn nhà và hai lần mua nhà. Chị Bông vốn nhát gan sợ ma, tiêu chuẩn khi đi thuê nhà hay mua nhà ngoài chuyện gần chợ búa, điều quan trọng nhất là phải ở chốn sáng sủa đông vui, mặc dù chị Bông luôn cảm xúc thích thú với những cảnh vắng vẻ hoang sơ, bóng cây thâm u, đường dài cô quạnh, sông nước đìu hiu… Căn nhà đầu tiên chị Bông mua nằm đối diện một trường tiểu học, sáng trưa chiều người ta chở con đến và đón con về thật đông đúc nhộn nhịp, dù hàng ngày chị Bông phải hứng chịu cảnh kẹt xe ngay trước cửa nhà, nhưng nhìn lũ học trò giờ ra chơi chạy đùa vui vẻ, giờ tan học chúng tung tăng ra về là chị yên tâm và vui lây.

 

Vài năm sau chị Bông muốn đổi nhà khác rộng rãi hơn. Lần này anh Bông lại phải chiều theo vợ, căn nhà chị Bông chọn phía sau có một khu apartment lớn. Chị Bông đã sang tận nơi xem khu apartment ấy, số người thuê đông, trẻ con chạy chơi trong các sân cỏ apartment náo nhiệt chẳng thua kém gì khu trường tiểu học của căn nhà trước .

 

Mỗi lần ra vườn sau ngắm hoa lá cành xong chị Bông đều nhìn qua khe hở hàng rào, phóng tầm mắt sang khu apartment và hài lòng lúc thấy có kẻ đi người lại. thỉnh thoảng còn có xe police lượn qua lượn lại và có khi nửa đêm nằm bên nhà chị Bông còn nghe tiếng còi xe cảnh sát hú bên kia. Đôi lúc cao hứng chị Bông ước gì được trở lại cái thuở đi thuê mướn nhà chị sẽ chọn nơi “lý tưởng” này, dù nó “lu bu” thế nào nhưng đông vui là chị Bông thích rồi. Hàng xóm của chị Bông nhiều người Mễ, mà gia đình Mễ vốn truyền thống ở chung nhiều người, nhà nào cũng xe cộ đậu tràn lan từ trước cửa và tràn xuống lề đường.

 

Thế là căn nhà chị Bông được ưu ái bao quanh bằng các hàng xóm Mễ và hàng xóm khu apartment. Hết nghe nhạc tiếng Spanish phía trước thì có nhạc giật gào thét của mấy chú mấy cô Mỹ đen phía sau. Chưa kể thỉnh thoảng còn được nghe những tiếng cãi nhau từ apartment, giọng Mỹ đen thật tốt, âm thanh sang sảng vượt khoảng cách không gian, vượt hàng rào gỗ vọng sang nhà chị Bông. Vui lắm.

 

*

 

Trưa thứ hai anh chị Bông đến nhà quàn Mây Chiều gặp chị Tiên. Nhà quàn này anh chị Bông đã đến vài lần thăm viếng tiễn đưa người quá cố nên chẳng xa lạ gì. Nhưng bước chân vào chốn này chị Bông luôn cảm giác ớn lạnh với tông màu nâu  của nhà quàn, từ cánh cửa, bàn ghế đến những bức tranh treo tường. Những thứ không biết nói đã đành mà cả mấy nhân viên tiếp khách, hình như cũng ít nói,  họ lịch sự từ tốn, đi đứng và ăn nói nhẹ nhàng làm như sợ…đánh thức những hồn ma đang nằm trong nhà quàn hay đang yên nghỉ trong nghĩa trang rộng lớn ngoài kia, quanh nhà quàn này.

 

Vợ chồng chị Bông được mời vào một phòng tiếp khách, đi qua hai hành lang hẹp im ắng chị Tiên cẩn thận dặn dò coi chừng va đầu vào một cái kệ ở góc tường. Lời dặn không thừa vì chị Bông trông thấy một quan tài mở sẵn trong một căn phòng mở cửa nên vội vã đâm sầm bước nhanh. Chị Tiên thấy và trấn an:

 

– Chị đừng sợ. Quan tài trưng bày cho khách xem ấy mà, không có xác người nằm trong ấy đâu.

 

Chị Bông run sợ mà vẫn tò mò:

 

– Khiếp quá, sao lại để quan tài trong phòng khách. Thế chị làm ở nhà quàn có… thấy ma bao giờ chưa?

 

– Ma thì chưa thấy hình bóng nó ra sao nhưng có thấy hiện tượng ma rồi. Tôi thường làm việc ở nhà quàn đến 7 giờ chiều mới về, có một buổi chiều muộn tôi đang say sưa làm cho xong một số việc tồn đọng bỗng nghe tiếng trẻ con cười nói ngoài cửa. Tôi nói vọng ra “các cháu đừng làm ầm ĩ quá nhé” thì chúng im ngay. Tôi nghĩ chắc cha mẹ chúng đang cầu kinh bên phòng chapel nên chúng chạy ra ngoài chơi. Lại nghe tiếng trẻ con cười nói khúc khích, tôi lại nhắc nhở cho chúng im. Nhưng đến lần thứ ba nghe tiếng chúng cười nói nữa tôi không kiên nhẫn chịu trận vì không thể làm việc được, liền mở cửa ra ngoài thì không gian hành lang vắng tanh, chẳng thấy một đứa trẻ con nào và tôi bước sang phòng chapel mới biết nãy giờ chẳng có ai trong ấy. Tôi hoảng sợ vội cuốn gói ra về ngay lập tức dù công việc còn dở dang…

 

Chị Bông rùng mình:

 

\– Ma trẻ con đấy, chúng nghịch ngợm dọa nát chị ngay trước cửa phòng làm việc.

 

– Ừ, từ ngày ấy là tôi đổi giờ giấc làm việc, ra về sớm từ 5 giờ chiều. Vào mùa Thu và mùa đông chiều tối rất nhanh, tôi cũng rời khỏi nhà quàn… rất nhanh.

 

Chị Tiên sẵn đà kể tiếp:

– Làm ở nhà quàn 15 năm nhưng tôi ít khi dùng restroom trong nhà quàn, mỗi lần cần là tôi chạy sang tiệm 7-Eleven bên kia đường gần nhà quàn để đi nhờ. Có lần một nhân viên nhà quàn vào restroom và cô ta thất thanh chạy bay ra ngoài hét to lên “Có Ma”. Khi cô vào cuộn giấy toilet tissue trong restroom không người mà vẫn đang tự động rolling thả một đống giấy xuống sàn nhà.

 

Chị Bông tò mò hỏi thêm:

 

– Thế những nhân viên khác có sợ ma không chị?

 

Hầu hết ai cũng yếu bóng vía khi làm trong nhà quàn, thế nên chỉ một thời gian ngắn là họ thôi việc, nhà quàn phải thường xuyên tuyển nhân viên là thế. Mấy nhân viên chúng tôi bảo nhau khi làm việc một mình trong phòng nên mở nhạc cho có âm thanh, có tiếng động, vì hồn ma chỉ hiện về nơi vắng vẻ, im ắng. Thế là từ đó tôi luôn mở nhạc khi làm việc.

 

– Vậy chị vừa làm việc vừa tha hồ nghe nhạc tình Bolero.

 

Chị Tiên dãy nảy lên:

 

– Ấy chết. Ngồi một mình nghe nhạc Bolero thở than ảo não. Thí dụ như Chế Linh ai oán rên rỉ “Nếu mai anh chết em có buồn không?” Hay “Đáp mộ cuộc tình” thì càng rùng rợn hơn. Bởi thế tôi toàn mở nhạc kích động huyên náo dù chẳng thích nghe loại nhạc này bao giờ.

 

Chị Bông khen:

 

– Chị Tiên thật can đảm khi làm việc cho nhà quàn. Tôi thà thất nghiệp ăn mì gói chứ không đi làm nhà quàn đâu.

 

– Cô nhân viên trang điểm xác chết mới can đảm gan dạ chị ạ, cô ta làm việc một mình trong phòng với mấy xác chết, trang điểm người này xong đến người kia. Cô cận kề, sát mặt với mặt người chết để đi từng màu sắc phấn son cho khuôn mặt tái nhợt, thâm tím hay méo mó, sứt mẻ biến dạng vì bệnh hoạn vì tai nạn được trở về bình thường và tươi tắn lại.

 

– Chị ơi, thí dụ ai mà bảo tôi ngủ chỉ một đêm trong bất cứ căn phòng nào của nhà quàn, sáng ra cho tôi 100 ngàn đồng tôi cũng từ chối ngay lập tức.

 

Anh Bông nghe chuyện nãy giờ mới lên tiếng nhắc nhở vợ:

 

– Không ai thừa thì giờ và thừa tiền để thách đố bà như thế đâu. Chúng ta đi mua đất huyệt mà bà làm như đi phỏng vấn chị Tiên chuyện rùng rợn ở nhà quàn.

 

Chị Tiên vội trở về với công việc:

 

– Nào mời anh chị ra ngoài đợi tôi lấy xe đưa anh chị đi một vòng nhìn tận mắt nghĩa trang rộng lớn của chúng tôi trước khi anh chị chọn mảnh đất nào.

Chị Tiên lái xe chiếc xe màu đen của nhà quàn đưa khách đi một vòng quanh nghĩa trang, giới thiệu những khu đất trống chưa chôn và những khu mồ mả đã chôn. Chôn kiểu hỏa táng an táng và lần đầu tiên chị Bông nghe đến kiểu chôn nổi trên mặt đất. Khi chết cũng mỗi người mỗi ý thích không ai giống ai.

 

Anh chị Bông đang đứng trước một khoảnh đất mới bên cạnh một bóng cây khá to cao, đối diện bên kia là dãy hàng rào gỗ sân sau của khu nhà cư dân, khu nhà có lầu kiểu dáng khá đẹp sang.

Không biết mặt mũi chủ nhân những căn nhà sát khu nghĩa trang nhưng chị Bông cũng thầm khâm phục và ngưỡng mộ họ đã dám mua nhà nơi này, từ cửa sổ lầu nhìn sang hay chỉ cách một hàng rào gỗ với vài chục bước chân là hàng xóm của họ, những mồ mả hàng hàng dãy dãy .

Chị sẽ chọn nơi này, có người sống ở gần là có sự đông vui

 

Anh Bông hiểu ý vợ:

 

– Mua “căn nhà” cuối cùng bà cũng chọn chốn đông vui.

 

Chị Bông thở dài:

 

– Cho dù lúc ấy em có tiêu diêu miền cực lạc nhưng em vẫn sợ vắng vẻ cô đơn.

 

Chọn xong đất vợ chồng chị Bông lại lên xe theo chị Tiên trở lại văn phòng để làm giấy tờ. Thấy một chiếc xe rác nhỏ đậu trong một lô đất nghĩa trang, hai người công nhân đang nhặt hoa trên từng ngôi mộ vứt vào thùng rác gần đó. Chị Bông hỏi và chị Tiên giải đáp:

 

– Mỗi năm hai lần vào đầu tháng Tư và đầu tháng Mười nghĩa trang lại vứt bỏ hoa cũ trên mộ. Thân nhân biết trước hoặc lấy hoa về hoặc lại mua hoa mới đặt lên mộ cho sáu tháng kế tiếp. Hoa trên mộ cho vui lòng người dưới mộ và vui mắt người sống. Dĩ nhiên là hoa nhựa để chịu đựng thời tiết nắng mưa.

 

Vào văn phòng chị Tiên liệt kê giá cả đất đai, bia mộ và hàng chục thứ khác mới thấy bao nhiêu thứ tốn kém từ nhỏ nhặt nhất nhà quàn cũng đều tính vào người chết với giá đắt hơn ngoài chợ. Mang tiếng là được giảm  20% nhưng giá thành vẫn cao, giảm giá chỉ là cách quảng cáo chào hàng để thu hút khách hàng mà thôi. Hèn gì chủ nhà quàn nào cũng giàu có.

 

Đời người chỉ một lần chết mấy ai tính toán thiệt hơn, biết là đắt cũng đành chấp nhận.

 

Chị Bông hỏi chị Tiên:

 

– Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, ngày mai ngày kia nhưng cũng có thể một hai chục năm nữa. Nếu lúc ấy nhà quàn Mây Chiều đã chật kín và đóng cửa thì tôi có mất “nhà” không? Tôi nghe nói khi nghĩa trang đã kín hết chỗ thì chủ nghĩa trang sẽ giao cho thành phố quản lý. Nghĩa trang thuộc về thành phố, thành phố cắt cỏ chăm sóc nghĩa trang như chăm sóc cảnh quan đường xá.

 

Chị Tiên khẳng định:

– Đúng thế. Nhưng mấy chục năm nữa nhà quàn Mây Chiều vẫn còn đất chôn, vẫn hoạt động và… chờ anh chị.

 

– Tôi thấy nhà quàn “Greenwood” trong thành phố này vừa đóng cửa nên lo xa thế thôi.

 

Anh Bông góp ý:

 

– Chắc họ đóng cửa vì kinh doanh không hiệu quả. Nhà quàn Mây Chiều vừa to lớn vừa khôn khéo, họ quan tâm đến cộng đồng rộng lớn của người Việt Nam ở đây nên đã thuê mướn nhân viên người Việt như chị Tiên để thu hút khách hàng Việt và họ đã thành công.

 

Giấy tờ giá cả xong xuôi anh chị Bông ra về sau khi đã hẹn ngày gặp chị Tiên lần nữa để trả tiền.

Nếu trả góp thì phân lời là 2 chấm. Anh chị Bông không muốn đến cuối đời còn “trả góp” làm giàu cho chủ nợ nên sẽ trả tiền mặt.

 

Hai vợ chồng ra xe chị Bông than thở:

 

– Mình mua nhà mấy lần, lần nào em cũng vui thích khi được đi xem nhà và chờ mong ngày dọn vào, nhưng lần mua “nhà” cuối cùng của chúng ta thì trái lại em chẳng tha thiết gì mà thấy lòng nao nao buồn.

 

– Bà buồn vì tiếc tiền phải không? Món tiền mua căn nhà cuối cùng cũng bằng tiền mua căn nhà đầu tiên của chúng ta khi mới đến Mỹ đấy.

 

Chị Bông trầm tư:

 

– Cũng tiếc tiền nhưng chỉ là chuyện nhỏ. Em đang nghĩ đến căn nhà hiện thời của chúng ta, cái phòng ngủ rộng thênh thang, cái phòng tắm sạch sẽ sáng láng… Em nghĩ đến khu vườn sau đầy hoa hồng vào mùa hè, mùa thu, nghĩ đến patio chiếc chuông gió đong đưa. Căn nhà em đã ưng ý với hàng xóm xung quanh. Vậy mà cũng chỉ là nơi ở tạm, rồi một ngày nào đó em sẽ từ giã nó để dọn vào căn nhà… cuối cùng này.

 

Anh Bông vụng về chia sẻ:

 

– Người ta ở lâu đài, biệt thự rồi cũng lìa đời, cũng bỏ nhà cửa  ra đi. Bà tiếc gì căn nhà quèn của chúng ta.

 

Anh Bông lái xe từ từ trong nghĩa trang để hai vợ chồng cùng nhìn ngắm nơi chốn mà một ngày nào đó hai vợ chồng sẽ gởi nắm xương tàn. Nhìn những dãy mộ, mộ bia nằm, mộ bia đứng, mộ cao, mộ thấp. Họ là ai, bao nhiêu tuổi, thành phần giàu nghèo sang hèn thế nào chị Bông làm sao biết được. Nhưng chị biết chắc một điều họ sẽ là hàng xóm trăm năm của chị. Chị Bông lại thấy từ xa hai anh công nhân vẫn đang nhặt hoa trên mộ vứt vào thùng rác. Rồi chị Bông sẽ vào ở đây, “căn nhà” cuối cùng chị vừa mua xong.  Ngày nào đó không phải như những lần dọn vào nhà mới như trước kia chị  đã từng hớn hở vui tươi, lần cuối cùng này chị sẽ không tự dọn vào được. Ai sẽ đưa chị vào nhà? và trên nấm mộ ai sẽ đặt cho chị bó hoa?

 

Họ có nhớ mỗi chu kỳ 6 tháng nhà quàn sẽ dọn dẹp hoa cũ và có ai sẽ mua hoa mới đặt lên mộ, lên trước cửa căn nhà vĩnh cửu của chị không?

 

– Nguyễn Thị Thanh Dương.

 

Cũng như các trại tỵ nạn khác, ở Thailand cũng có một khu “nhà tù” dành cho những người tỵ nạn không chấp hành quy định của Bộ Nội Vụ Thái hay của Cao Ủy tỵ nạn. Thời hạn ở tù tùy theo mức độ phạm quy, có khi từ một vài ngày cho tới một hai tuần. “Tù nhân” cũng đủ loại, nhẹ thì có những người mua lén đồ ngoài hàng rào, thức quá giờ giới nghiêm, quên làm vệ sinh khu nhà được phân công, nặng hơn là thành phần đánh lộn, gây mất trật tự trong trại, trộm cắp vặt, trốn ra ngoài trại đi chơi.
Tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève chia đôi đất nước Việt Nam, người Pháp thất bại ở mặt trận Điện Biên Phủ, trả lại chủ quyền miền Bắc cho việt cộng. Việt Minh kéo từ mạn ngược và khắp nơi chúng đã ẩn náu về tiếp thu thủ đô Hà Nội và sau đó, toàn thể các tỉnh thành phía Bắc cho vào tới vĩ tuyến 17. Chúng ta mất một nửa giang sơn. Pháp có 80 ngày chuyển giao Hà Nội, 100 ngày giao Hải Dương, 300 ngày trả Hải Phòng, rồi chấm dứt. Việt cộng nằm vùng trong miền Nam cũng tự do ra Bắc tập kết, dù rất ít, nhưng làn sóng người miền Bắc di cư vào Nam thì đông nườm nượp… như nước vỡ bờ, họ chạy trốn, họ sợ cộng sản, họ sợ cái chế độ tam vô đang rượt đuổi sau lưng. Họ ra đi lánh nạn, đa phần phải bỏ lại gia sãn của cải, mồ mả cha ông… họ ra đi nhanh, mau lẹ nhất là các thành phố Hà Nội Hải Phòng, các xứ họ đạo công giáo Bùi Chu, Phát Diệm… có người vội vã đến chỉ ôm theo một tấm ảnh đức mẹ Maria… họ rủ nhau cứ xuống Hải Phòng là có tàu há mồm, há mồm chờ sẵn, chờ họ lên tàu và chở họ vô miền Nam.
Hà Nội có mùa Thu, Ninh Thuận quê tôi ở đó chỉ có hai mùa nắng gió. Buổi sáng mai hôm ấy mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn tôi đi qua con đường làng Xóm Động, rồi đến con đường cái quan tráng nhựa. Mẹ tôi nắm lấy tay tôi dẫn tôi đi qua cầu "Ông Cọp", rồi cầu "Nước Đá" và đến tận cửa trường tiểu học Phan Rang. Tôi cúi đầu đi qua cổng trường có tấm biển lớn có hàng chữ Tây: "Indochine Francais- École Primaire De Phanrang"...Giữa sân trường có cột cờ với lá cờ ba màu của Pháp treo tận chót vót. Trường của tôi hình như vừa quét nước vôi và có cửa kiến, tôi thoáng nghe mùi cửa sổ mới sơn.
Trước năm 1975, ngày đó tôi còn là một cậu thiếu niên ham thích đọc tiểu thuyết trinh thám mạo hiểm của Người Thứ Tám với nhiều câu truyện phiêu lưu, hồi hộp của chàng điệp viên Z-28 đào hoa, đẹp trai Tống Văn Bình. Tôi còn nhớ chàng điệp viên tài giỏi, võ nghệ siêu quần của chúng ta được phái đi thi hành một nhiệm vụ tình báo tại Maldives, một đảo quốc mà khi chúng ta nhìn về phía chân trời, nơi Trời và Biển gặp nhau, vì chính chúng ta cũng đang sống trên mặt nước...
Khoảng gần ba giờ chiều tôi rời khách sạn Ninh Kiều, cuối đường Hai Bà Trưng, nhìn ra sông Cần Thơ. Trời hanh nóng và đứng gió. Giấc ngủ trưa dài sau bữa ăn nhẹ, khiến tôi tỉnh táo và phấn chấn hẳn lên. Hãy còn sớm, hai giờ nữa tôi mới có hẹn với gia đình người bạn thân ở nhà hàng Hoa Sứ. Thời gian đủ để tôi dạo chơi và ghé chợ Cần Thơ tìm mua một vài thứ đồ lưu niệm… Vài cơn gió nhẹ mang theo hơi nước từ dòng sông thổi dọc theo công viên thật dễ chịu. Bến Ninh Kiều ngày nay thật khang trang và đẹp. Đi dọc mé sông, từ đây tôi có thể nhìn thấy chiếc cầu treo Cần Thơ sừng sững, hiện đại. Phía trước khách sạn là nhà hàng nổi và không xa là chiếc du thuyền nhà hàng lộng lẫy về đêm. Du khách vừa ăn tối vừa dạo cảnh quanh sông và có cảchương trình văn nghệ thật đặc sắc của miền Tây sông nước
Nàng tỉ tê với nhỏ bạn về những cuộc “thảo luận” sôi nổi của vợ chồng nàng. Bằng mọi giá, nàng muốn giữ cho đứa con có tuổi thơ tươi đẹp, hạnh phúc. Bao năm qua, đã có lúc nàng buồn rầu nghĩ, mình như con gà đẻ trứng vàng. Chỉ được việc, nhờ biết đẻ trứng vàng. Nàng không dám đề cập đến chuyện tiền bạc, sợ làm chồng buồn, cho rằng nàng cậy sức mạnh kim tiền lấn áp chồng. Nàng rất may mắn trong cuộc sống ngoài xã hội. Chưa ra trường, nàng đã nhận được hợp đồng làm việc với một trong những hãng hàng đầu của nước Đức. Ngược lại, chồng nàng quá lận đận. Cả năm trời, anh chạy đôn, chạy đáo tìm việc, mà vẫn phải nằm nhà. Nàng tự nhủ, tài lộc trời ban, gia đình sống thoải mái, chứ tính toán chi mà mất hòa khí vợ chồng. Tháng tháng, nàng thanh toán nợ to, nợ nhỏ, hàng hàng lớp lớp chi phí tất yếu của xã hội văn minh.
Xíu tiếp tục cuộc hành trình bất tận của mình, đừng tưởng Xíu chơi hoang hay đi rông, phiêu bạt giang hồ vô tích sự. Chính sự lang bạt kỳ hồ của Xíu và anh em nhà Xíu đã đem lại mưa thuận gió hòa, đem lại nguồn sống cho loài người và vạn vật muôn loài. Lần này Xíu quay về lại góc Đông Nam Á châu, nơi có dòng sông thiêng liêng chảy qua.
Tôi không phải là thi sĩ, nhưng chắc cũng giống như những thi nhân của đất Việt, thường gửi gấm tâm tình u uất vào những vần thơ của mình. Những bài thơ viết xong, tôi cặm cụi chép vào nhật ký, xen vào những lời than thân trách phận, hờn mây khóc gió. Cuốn nhật ký, tôi cất kỹ trong ngăn kéo ở cái table de nuit cũ kỹ bên cạnh chiếc giường nhỏ trong phòng ngủ. Cũng may là má chưa lục ra đọc lần nào...
Cuối cùng, vợ tôi cũng đồng ý một cách vui vẻ cho tôi lấy vợ bé. Một hành động vượt ra ngoài quan niệm ái tình nghiêm túc của bà. Vợ bé tên Hà, do vợ lớn đặt. Tên khai sinh của Hà là Đỗ thị 451. Vợ lớn nói, số này hên, cộng lại là 10. Hà lai Ái Nhỉ Lan. Ở lứa tuổi gần ba mươi, chưa lấy chồng, không có con, một thân hình phước đức cho bất kỳ người đàn ông nào, sáu mươi bảy tuổi, như tôi.
Kế hoạch của anh ấy thật là hợp lý: anh ấy sẽ giấu tôi phía sau cốp xe Austin-Healey, một chiếc xe dạng rất thấp mà anh vừa mới mua bên Áo và đã tháo kính che gió ra. Chúng tôi chỉ cần đi qua bên dưới rào chắn, trong khi mấy tên cảnh sát nhân dân Vopo*2/ thì bận lo kiểm tra giấy tờ như thường lệ. Rolf đã tính toán nhiều lần, tính đi tính lại, anh lại còn xì bớt hơi các bánh xe: như thế cái xe sẽ không vượt quá 90 cms bề cao. Anh chỉ cần cúi đầu xuống, nhấn mạnh vào cần tăng tốc, thế là chúng tôi sẽ qua bên kia địa phận đất Mỹ! Một "bờ thành" nhỏ làm bằng gạch sẽ bảo vệ tôi khỏi những lằn đạn có thể xảy ra. Và rồi sau đó là tự do...
(Viết cho bằng hữu tháng tư 1954. Chúng tôi 300 thanh niên trình diện trại Ngọc Hà động viên vào Đà Lạt cùng hát bài ca Hà Nội ơi, năm 20 tuổi chưa từng biết yêu. Sau 21 năm chinh chiến, tháng tư 75 khóa Cương Quyết hát tiếp. Bao nhiêu mộng đẹp, tan ra thành khói, bay theo mây chiều. Ngày nay, tháng 7-2024 vào nursing home thăm bạn cùng khóa. Ba anh bạn đại tá lữ đoàn trưởng mũ xanh mũ đỏ cùng đại đội võ bị ra đánh trận Quảng Trị chỉ còn Ngô Văn Định. Ghé lại bên tai nghe Định hỏi nhỏ. /Bên ngoài còn mấy thằng,/ Còn liên lạc được 4 thằng. Ngoài 90 cả rồi.Tôi báo cáo./ Thằng Luyện mới đến thăm./ Định nói./ Luyện nhảy Bắc 21 năm biệt giam mà còn sống. Hay thật./ Tôi nói./ Bạn yên tâm. Ngoài này còn thằng nào chơi thằng đó./ OK bạn còn sống lo cho anh em.)
Năm Giáp Ngọ 1954 có thể gọi là năm đại diện cho tuổi thơ tôi. Chỉ trong một năm 1954 đã có quá nhiều biến cố xảy ra dồn dập trước mắt chú bé mười hai tuổi mà suốt trong đời chưa có thời điểm nào đặc biệt như vậy...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.