Hôm nay,  

Dị nhân tân truyện

12/10/202220:44:00(Xem: 3709)
Truyện ngắn

sad man


Đất Mơ vào thời hiện đại vô cùng rực rỡ, xe cộ như mắc cửi, máy bay bay giàn trời luôn. Những tưởng thế là cực thịnh rồi, nào ngờ giờ đây người ta còn chế ra nhiều thứ còn kinh khủng hơn, xe tự động chạy chẳng cần người lái, thiên hạ lên xe cứ ngả người ra mà hưởng thụ mặc cho xe chạy sao đó thì chạy. Máy bay cũng tự bay, thậm chí bay ra trận bỏ bom ì xèo rồi bay về chẳng cần phi công nữa. Người đất Mơ thông minh tinh anh phát tiết, thiên hạ không biết rồi mai này sẽ còn tiến bộ đến đâu nữa.

 

Đất Mơ vốn là nơi tụ hội của trai tứ chiếng gái giang hồ, danh môn chính phái lẫn bàng môn tả đạo cũng kéo về phó hội. Nơi này xứng là đất lành chim đậu, trong số thiên hạ đổ về đây, có kẻ sanh sau đẻ muộn, tánh tình khù khờ, may nhờ tổ đãi sao ấy nên cũng đến được đất Mơ. Y vốn chậm lụt hậu đậu nên bạn bè thường gọi là thằng Đậu. Y vốn người đất Định xứ Nam, sanh ra và lớn lên trong một gia đình tiểu thương. Ba mẹ bảo bọc kỹ quá nên khi ra đời ngơ ngáo hổng làm được việc gì hết ráo. Tướng người y cũng tầm thước như mọi người, trán và phần từ chóp mũi trở xuống bằng nhau, bởi thế trí huệ cùn mằn chẳng khá, sinh lực lẫn sinh dục cũng yêu yếu làng nhàng, duy có phần giữa khuôn mặt và mũi khá dài đó là dấu hiệu của những ý tưởng, tư tưởng vô cùng vô tận. Khổ nỗi y chỉ biết suy tư thế thôi chứ chẳng thể biến thành hành động. Ý tưởng thì bao la nhưng cứ mãi là ý tưởng, kể cũng tiếc thay cho y!Vì xuất thân học trò dài lưng tốn vải, trói gà không chặt, hơn nửa đời ngơ ngáo chẳng làm nên trò trống gì, trong khi lũ bạn đồng trang lứa đã là ông nọ bà kia ngôi cao lộc cự. Y được cái thật thà như đếm, khổ nỗi người đời thì bảo:” Thật thà là cha đứa dại” thế thì đủ biết sự thể thế nào rồi.

 

Đậu đến đất Mơ làm cu li, hơn hai mươi năm ròng ngày ngày vào hãng cày chung với bọn cu li đen, trắng, mễ, xì, rệp… Thế rồi cơn dịch cúm Tàu tràn đến, người đất Mơ chết quá trời luôn, nhà thương không có thuốc chữa, hãng xưởng đóng cửa hà rầm, ấy vậy mà hãng nơi Đậu làm thì lại khác, chẳng những không đóng cửa mà còn làm ăn khấm khá hơn cả lúc thường. Đậu thật thà nhưng có tánh gàn, vào hãng không chịu đeo khẩu trang. Tay đốc công kêu lại:

 

– Hey, Dean (số là sau khi Đậu đậu quốc tịch nên đổi tên tây cho nó theo trào lưu thời thượng) Where is your mask?

 

Đậu sớn sác:

 

– Oh sorry, I didn’t see Mark today

 

– No, I say the mask

 

– It’s ok, I ready mark on my card

 

Tay đốc công xẵng giọng:

 

– Let me tell you again, wear your mask please!

 

– Oh, thanks sir, I will study more math

 

bấy giờ gã đốc công điên tiết giơ hai tay lên trời, vẻ mặt giận dữ, giọng gằn lại:

 

– I lost hear or you crazy?

 

Đậu lập tức trả lời như cái máy mà chẳng kịp nghĩ:

 

– Both

 

Thế là cả hãng được trận cười bể bụng luôn, cười như thể chưa từng được cười bao giờ.

Cũng với tay đốc công ấy, nhân mấy tháng trước Đậu được khen là cu li xuất sắc của tháng, y đến bắt tay và chúc mừng:

 

– Hi, Dean, congratulation for your success

 

Đậu lập tức phản ứng:

 

– Thanks, but I am not suck or sex

 

– Oh no, not my mean, I say success

 

Lần này Đậu sững cồ luôn:

 

– I am not suck or sex ok!

 

Tay đốc công giơ hai tay lên trời, mấy cu li làm chung với Đậu giải thích cho Đậu, bấy giờ Đậu mới nhận ra nên rối rít xin lỗi và cảm ơn tay đốc công.

 

Một lần nọ, Đậu cùng với một vị sư đi ra phi trường đón mấy vị sư khác từ đất Định sang. Đậu hăng hái bước ra thông dịch giúp cho mấy nhà sư mới sang. Nhân viên hải quan hỏi:

 

– How many months are you staying in the U.S.?

 

Đậu ba chớp ba nháng:

 

– Six monks.

 

Tay nhân viên hải quan lập lại câu hỏi lần nữa, lần này thì Đậu trả lời trớt quớt:

 

– They are no sick, good monks.

 

Tay nhân viên hải quan lắc đầu quầy quậy rồi đóng mộc để cho các nhà sư thông quan. Đại khái Đậu là thế, dầu có kể đến tết Công Gô cũng không hết chuyện của Đậu.

Đậu tập tành viết lách, làm thơ, thậm chí viết đối nữa chứ. Khổ nỗi Đậu viết được vài vế ra thì tắc tị, không làm sao viết được vế đối, vì thế đành để dở dang khơi khơi vậy, tỷ như câu:

 

– Cây sầu đông mọc ở đồng sâu chẳng ở đầu sông cớ sao đông sầu.

 

Hoặc là câu mới nhất gần đây:

 

– Nhân dân tệ sức mạnh không tệ quan vơ vét thậm tệ nên nhân dân tệ.

 

Không biết các cụ có ý kiến ý cò chi không chứ bọn bạn của Đậu thì cười khẩy:

 

– Khéo vẽ vời, dư hơi rảnh ráng, toàn sính những thứ nhọc thân mệt tâm mà chẳng được xu teng nào.

 

Đậu bày đặt đua đòi viết lách, mon men bon chen vào chiếu văn của các cụ. Ban đầu bài gởi đi mà chẳng bao giờ thấy có hồi âm, bao nhiêu điện thư gởi bài cứ hệt như NASA gởi thông điệp vào vũ trụ tìm kiếm người ngoài hành tinh, chỉ có gởi mà chẳng có phản hồi. Thế nhưng rồi “Thánh nhân đãi kẻ khù khờ”, ngày kia có một tờ báo lớn của cư dân gốc mít ở xứ đất Mơ chịu đăng bài của Đậu, đăng chơi vậy thôi chứ hổng có nhuận bút gì hết ráo. Nhiêu đó đủ làm Đậu sướng lâng lâng mấy ngày liền, tâm thần bay bổng, trí tưởng tượng lập tức được kích hoạt. Đậu ngỡ từ đây mình đã thành danh, đã là tay ghê gớm lắm rồi, có thể ngồi chung chiếu với các cụ mà xưa nay thiên hạ bảo là cây đa cây đề. Không thể dùng bút mực nào tả nổi sự hưng phấn của Đậu. Đậu hãnh diện đi đứng khuỳnh ra khác với vẻ khúm núm khép nép mọi ngày, mặt thì câng câng lên không còn nét rúm ró sợ sệt bẩm sinh. Đậu nói năng cũng khác hẳn đi, lý sự toàn những ngôn từ mà người nghe hiểu được chết liền! Hôm nọ Đậu cả gan viết bài bàn về nội chiến năm xưa, không hiểu là Đậu liều lĩnh hay quá thật thà mà dám viết chuyện tướng tá phe ta dụ khị binh lính ở lại chiến đấu còn mình thì bỏ chạy như vịt. Đậu còn tưng tửng dẫn chứng nhiều địa điểm giặc chưa đến mà ta đã chạy từ khuya, giặc tấn công quyết liệt mà phe ta chỉ lo kèn cựa không biết người biết ta… Thế là hôm sau cả một cơn bão tố ập xuống, vô số những lời chụp mũ chửi rủa và vô số đồ này đồ nọ được tung ra, nào là:” Ếch nằm đáy giếng bàn chuyện chính trị, ăn cháo đá bát, nằm vùng, thân địch, hai mang...” Trong khi ấy thì phe kia cũng chụp lên đầu Đậu bao  nhiêu là cái nón cối kinh khủng và đầy hoang tưởng:” Đồ phản động, thế lực thù địch, biệt kích cầm bút, xuyên tạc phá hoại đường lối chi đó...”. Sở dĩ bên kia chụp mũ giấy lên đầu đậu là vì Đậu dám viết sự thật về nạn những nhiễu hà hiếp dân, nạn quan lại tham ô, nỗi dân oan mất đất, mất nhà. Chuyện giặc Tàu cướp biển, đảo, lấn biên giới, tung hàng độc hại, cài người phá hoại. Rồi những nỗi bất công trong xã hội, những tu sĩ dựa hơi quan quyền để cầu danh văn lợi dưỡng và quan trọng hơn  hết là Đậu dám viết sự cắt đất nhượng biển của triều đình. Đậu bị đám tiểu yêu, tân hồng vệ binh trên mạng ảo ào ào tấn công, chúng phun ra những ngôn từ nhơ bẩn nhất mà chúng có thể nghĩ ra, chúng hung hãn và hồ đồ cứ như kiến lửa, chó săn và bò đỏ… Sự việc căng thẳng quá khiến bạn bè của Đậu sợ vạ lây nên giãn ra hết, không một ai dám lên tiếng bênh vực Đậu, thậm chi mật vụ còn bắn tin cho Đậu thông qua thân nhân:

 

– Bảo thằng Đậu im mồn đi, bằng không sẽ có rắc rối!

 

Đậu ngấm đòn, tâm tư lung lay, nhiệt huyết tụt xuống như hạ huyết áp. Đậu chán nản, quăng bút xé giấy thề không viết nữa. Đậu vốn biết người làng Vực xưa nay vốn thế, rất cực đoan, quá khích và hẹp hòi. Đậu quên béng lời của một vị thức giả từng cảnh báo:” Đừng có đụng đến người làng Vực, ổ kiến lửa đấy! Viết về cái hay của ta cái dở của địch thì ta thương địch ghét, bằng như viết về cái dở của ta cái hay của địch thì ta thù địch thương. Chú em đứng giữa mà phân tích cái hay cái dở của cả hai bên thì bị ăn đòn cả hai phía. Người làng Vực dù trong hay ngoài cũng đều chỉ thích nghe khen khoái nịnh chứ không chịu nghe sự thật. Chú em cẩn thận, giữ mồm giữ miệng, bằng không thì cả khối nón cối lẫn mũ giấy của hai bên ụp lên đầu”

 

Thật tình mà nói thì Đậu đâu có quên lời cảnh báo, chẳng qua là vì thật thà quá cỡ thợ mộc, cứ tin vào câu danh ngôn:” Khen mà khen phải là bạn ta, chê mà chê phải là thầy ta”. Lâu nay những tưởng “ Thuốc đắng dã tật” nào ngờ người làng Vực không bao giờ chấp nhận!

 

Khi Đậu tập tành viết lách, ban đầu làm thơ tình, cũng yêu nhau, xa nhau, thất tình ai oán. Rồi còn viết văn mộng mơ cô này cô kia… dần dần nhận thấy sao mà nhạt và vô duyên chi lạ nên dẹp hết. Kế đến viết về dân tình quốc sự, bấy giờ Đậu thấy khâm phục những người dám nói, dám làm những chuyện vì dân vì nước. Những cây bút can đảm dám lên tiếng vì sự thật, vì sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, dám tranh đấu cho nhân quyền và nhất là những người hy hiến vì chánh pháp. Trong số họ có không ít người trở thành thần tượng của Đậu. Nếu ngày xưa Đậu hâm mộ những người viết văn làm thơ thì giờ thấy buồn cười quá, ba mớ văn thơ ấm ớ vu vơ để rồi vụng về áo thụng vái nhau, thật vô tích sự, chẳng làm chi nên đời. Mạng net bây giờ toàn những chuyện nhảm nhí khoe ăn chơi, khoe bậy bạ để câu like. Nhóm sĩ người làng Vực thì toàn thơ dở hơi tình tay ba tay tư, tình già kép trẻ, gái tơ mơ đại gia…Đậu cười khẩy, gạt qua bên cho đỡ rối, nếu lúc trước ngứa miệng bình này nọ thì giờ Đậu chẳng còn muốn bình nữa, chỉ tổ mệt! Dần dần cư dân trên mạng cũng né Đậu như né hủi vì Đậu không chịu áo thụng vái nhau. Đại để là thế, thiên hạ cho Đậu khờ, Đậu hậu đậu, thậm chí có người còn bảo dị nhân hay quái nhân tân thời là vậy.

 

Đậu sống ở đất Mơ nhưng tâm tư vẫn thương nhớ đất Định, ngày đêm thường nghĩ nhớ về đất Định, hình ảnh đồng quê hay góc phố cứ lung linh trong tâm tưởng y. Cuối năm ấy y làm một chuyến y cẩm hồi hương. Đậu vẽ ra trong đầu bao  nhiêu là chuyện sẽ làm, sẽ đi thăm nơi này nơi kia, sẽ viếng người thân kẻ sơ, họp mặt với bạn văn bọn chữ nghĩa…

Máy bay đáp xuống phi trường, mọi người chen lấn xếp hàng rồng rắn để chờ nhân viên hải quan đóng mộc. Dòng người câm nín nhẫn nhục và cố nhã nhặn chờ đến lượt mình, khác hẳn lúc huênh hoang khoác lác khi ở đất Mơ. Chờ đến rã cẳng chân mà dòng người nhích từng tí một. Đến lượt Đậu trình hộ chiếu, tay nhân viên lầm lì mặt không có tí biểu cảm. Hắn ta cũng như những nhân viên khác, ngồi sau cái quầy được thiết kế cao và che chắn hết mọi tầm nhìn của khách. Hắn ta cầm sổ thông hành và thị thực của Đậu lật qua lật lại một lát mới hỏi cộc lốc:

 

– Tên gì?

 

Đậu bực mình nhưng vẫn cố gắng từ tốn:

 

– Đậu Nguyễn.

 

– Quê quán ở đâu?

 

– Đất Định.

 

– Về làm gì?

 

– Thăm gia đình.

 

– Bao lâu?

 

– Ba tuần.

 

– Visa này làm ở đâu?

 

– Dịch vụ bán vé máy bay bao trọn gói.

 

Đã năm phút trôi qua mà y vẫn không đóng mộc, không trả lại sổ thông hành. Hắn ngồi yên, mắt quét lia lịa dòng người đang xếp hàng để lượng định con mồi. Đậu vẫn kiên nhẫn chờ, không chờ thì cũng không biết phải làm gì, trước khi đi, bạn bè đã bỏ nhỏ với Đậu:” Kẹp năm hay mười đô vào sổ thông hành, để mọi việc suôn sẻ và nhanh chóng”. Đậu ghét cái thói vòi vĩnh, lót tay nên không kẹp tiền vào. Đậu hiểu người làng Vực lắm, dù sống ở đất Mơ, đất Định, đất cựu, đất tân… thường ngày chê bai chỉ trích này nọ, thậm chí nói  năng hùng hổ, chụp nón cối này nọ... nhưng khi về đến hải quan xứ quỡn là ngoan ngoãn như cừu non, cụp đuôi như cún con, mặt mày lấm la lấm lét, kẹp tiền vào sổ thông hành cho nó lành. Đậu không kẹp tiền, Đậu quyết chống lại cái thói vòi vĩnh này, cả Đậu và tay nhân viên hải quan như so găng xem ai bản lãnh hơn. Trong đầu Đậu chợt nảy ra ý nghĩ:” Mày không thể kéo dài mãi, mày phải trả lại giấy tờ để tao đi mà tranh thủ vòi đứa khác, bằng không đồng bọn của mầy sẽ vớt nhiều hơn”. Quả thật linh như bà phán, chừng một phút nữa mà không vòi được tiền cà phê bánh mì, hắn ta đành hậm hực đóng mộc và trả lại giấy thông hành cho Đậu.

 

Ra khỏi sân bay, lập tức Đậu cảm nhận cái nóng như táp vào mặt, dòng người và xe cộ trên đường như dòng lũ ào ào bất tận. Người nhà Đậu sau khi biết Đậu không chịu kẹp tiền nên bị hành bèn càm ràm:

 

– Sau bao nhiêu năm mà Đậu vẫn cứ là Đậu, sao không chịu kẹp tiền vào sổ thông hành như người ta? Nhỡ nó làm dữ hay kiếm cớ này nọ có phải khổ thân không? Đậu ơi là Đậu! Đậu sao mà đậu thế!

 

–– Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 10/22

Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.