Hôm nay,  

Thủy tinh hóa

27/10/202209:52:00(Xem: 4246)
Truyện ngắn

NguyenKhai 036
Tranh Nguyên Khai.


Hai hôm nay tôi bị cảm, thấy đau cuống họng, thỉnh thoảng ho và mệt mỏi, có ngậm kẹo ho, ăn cháo trứng hành hoa theo cách chữa dân gian, thấy không bớt. Chiều nay bỗng nhớ ra ngày xưa mà ốm kiểu này thế nào Mẹ cũng bắt “xông”. Tôi đun một nồi nước xông với lá sả, vỏ cam và ngải cứu khô (ba thứ này tôi luôn có sẵn trong nhà). Tôi chỉ mặc một cái áo lót mỏng rồi ngồi trước nồi nước xông vừa bắc ra khỏi bếp còn sôi sùng sục, nhờ chồng chùm một cái chăn lên.

 

Tôi ở trong một cái lều kín mít với cái khăn lau mặt, từ từ hé mở nắp nồi cho hơi nóng của nước xông tỏa ra. Tôi hít nhè nhẹ cái mùi thơm của lá sả, lá ngải cứu và vỏ cam vào lồng ngực. Hơi nước nóng xông lên làm mí mắt nặng trĩu vì sũng nước.

 

Tôi nghe văng vẳng bên tai: Thủy Tinh Hóa… Thủy Tinh Hóa… ngăn chặn sự chết… Con người không cần phải chết hẳn… Cứ cho vào cái bồn này… Thời gian và sự chết sẽ ngưng lại…

 

Tôi hít một hơi thật dài, mùi hương của cây cỏ tràn vào mũi tôi tỏa lan trong lồng ngực. Hơi nước nóng trong nồi xông ra làm đầu tóc và ngực tôi bắt đầu ướt, hai mắt tôi mờ đi. Tôi thấy mình như bay vào một cõi nào khác ra ngoài cõi tôi đang sống.

 

Tiếng nói lại cất lên:

 

Trong cái bình nitrogen này, một ngày hay trăm năm cũng vậy, chết chỉ là một quá trình đông lạnh.

 

Tôi thấy tôi được đặt vào một cái bình thủy tinh khá to, họ đổ vào đó một chất lỏng gì đó tôi không biết và hình như tôi được nằm chung với khá nhiều người. Có tiếng nói lao xao:

 

Thời gian và sự chết sẽ ngưng lại. Ngưng sự chết để hồi sinh trong tương lai.

 

Hơi nóng trong nồi còn nóng lắm, vẫn bốc lên những hơi nước xông qua cái vung mới mở một nửa làm rát ngực tôi. Mắt tôi vẫn mờ và hồn tôi vẫn lâng lâng.

 

Bên trong cái bồn hóa chất này đã có 199 người và một số thú cưng được bảo quản lạnh để chờ tái sinh trong tương lai. Nghĩa là ngăn thời gian và sự chết xâm nhập họ. Ngăn họ đông máu và ngăn họ tỉnh lại. Họ được Thủy Tinh Hóa để chờ những phát minh trong tương lai sẽ chữa lành và cứu họ sống lại.

 

Tôi đã nằm trong đó cùng với 199 người kia cho chẵn 200 người.

Tôi quơ tay sang bên phải. tôi chạm vào một thân hình săn chắc hình như của một người đàn ông. Ông ta hơi nhích người ra một chút. Đây là một con người lịch sự.

 

Ồ anh bao nhiêu tuổi vậy?

 

Không có tiếng trả lời, tôi cũng không hỏi thêm nữa. Tôi nằm im một lúc tôi lại vung tay sang bên trái, tôi chạm vào một mớ tóc khá dài, đây chắc là một phụ nữ còn trong tuổi thanh xuân, chắc là phải trẻ hơn tôi. Tóc cô hơi tung ra chạm cả vào má tôi, tôi khẽ nhích xa cô một chút cho lịch sự. Hình như tôi nghe thấy tiếng cười khúc khích của trẻ nhỏ và tiếng sủa khe khẽ của một con chó.

 

Hơi nước nóng vẫn xông ra ở đâu đây làm mờ cả mắt tôi đang nằm cạnh ai đó trong một cái buồng rất lạ, cái buồng toàn nước lóng lánh như thủy tinh. Tôi thu hai tay lại đặt trên bụng, da bụng của một phụ nữ đã ba lần sanh nở. Tôi nằm im và tôi biết chắc chắn người đang nằm trong cái buồng này chính là tôi, không còn ngờ vực gì nữa. Tôi là người mẹ có ba đứa con mà. Nhưng tại sao chồng tôi lại đặt tôi vào đây nằm cùng với những người xa lạ này. Mai kia anh có sẽ vào nằm cùng với tôi không?

 

Hơi vẫn bốc ra khi như sương nóng, khi như mây, khi như khói, tôi bềnh bồng trong một dung dịch trong suốt.

 

Tôi quờ quạng hai tay và đụng vào nóc chăn trên đầu.

 

Có tiếng nói ở bên ngoài:

 

Xong chưa em?

 

Tôi úp một bàn tay lên ngực mình, có nhịp đập rất nhẹ dưới bàn tay tôi. Tôi đã trở về.

 

– Trần Mộng Tú

 

Má ơi! Thế giới vô thường, thay đổi và biến hoại trong từng phút giây nhưng lòng con thương má thì không biến hoại, không thay đổi, không suy hao. Nguyện cầu ngày đêm cho má, hướng phước lành đến cho má. Cầu chư Phật, chư Bồ Tát, chư hiền thánh tăng ba đời mười phương gia hộ má vượt qua đau bệnh để sống an lạc trong những ngày tháng tuổi già bóng xế.
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.