Hôm nay,  

Sapa, Bàn Tay Nhỏ

16/12/202218:29:00(Xem: 5172)
Ký

sapa

Trẻ thơ ơi, xin đến cùng tôi

Chia hạt cơm rơi, hay bát nước đầy

Cùng ngủ ven sông, hay gối bụi cây…

(Tâm Ca, Phạm Duy)

           

Tôi gặp em một sáng mùa đông, khi tuyết mơ màng rơi và gió hắt hiu lạnh của một ngày lễ trang trọng: Giáng Sinh. Em chen lấn trong đoàn hướng dẫn du lịch. Tôi không để ý, cho đến khi em nắm tay tôi lay lay, ngước đôi mắt ấu thơ nhìn, như quen biết nhau đã từ lâu lắm. Tôi nhận ra mặt em sáng rỡ dù lem luốc với mái tóc bù rối, không lược và chắc là cũng chẳng có gương soi.

Tiếng nói, đôi khi đã không còn mang ý nghĩa gì, tôi nắm bàn tay em lạnh giá mà rùng mình, tôi muốn ẵm em để sưởi ấm, khi thấy tuyết mỏng rơi trên tóc em một màu trắng xoá.

 

Em không nói tiếng Việt, tôi chẳng biết tiếng Dao. Thật thà, giơ hai bàn tay nhỏ xíu em cho tôi hiểu em lên bảy. Chạy vội về hotel tôi tìm thêm áo ấm, jacket tôi choàng lên vóc dáng em bé nhỏ, dài thậm thượt trông vừa tội nghiệp vừa rất dễ thương.

 

Đêm qua tuyết rơi, Sapa lạnh hơn mùa đông của California. Dù đã lo xa mang đủ mọi thứ khăn choàng, áo ấm, tôi vẫn run theo từng cơn gió se sắt lạnh của vùng núi cao. Chương trình sáng nay, đoàn chúng tôi sẽ đi thăm thung lũng Mường Hoa. Mường Hoa, cái tên nghe thơ mộng với hoa anh đào đang chớm nở, thắm hồng và rực rỡ.

 

Em lẽo đẽo, lén lút đi với tôi cùng đoàn người rộn ràng, nói cười qua đủ mọi thứ ngôn ngữ.

Chỉ có em và tôi, lặng im suốt những chặng đường dài. Thung lũng dốc, sâu, vòng vo qua nhiều con đường đất trơn ướt. Sống quen ở thành phố, thiên hạ rón rén từng bước đi, và tôi cũng dò giẫm gót chân theo. Em đứng đợi, đưa ra đôi bàn tay bé xíu, lẫm chẫm dắt tôi qua những vũng nước nhỏ, những khe đất loanh quanh. Em sợ tôi té ngã, dù tôi nhanh nhẹn với những bước chân dài.

 

Tuổi thơ em,

Tôi phải ẵm, phải bồng

Cớ sao em?

Đưa bàn tay nhỏ

Dắt díu tôi qua nhiều con phố

Dật dờ.

Những suối, những truông…

(LCG)

 

Tôi tách rời đoàn du khách, về nhà theo em. Nhà. Dù đẹp như dinh thự hay chỉ là một túp lều nhỏ, tự nó đã ấp ủ đầy ý nghĩa của những ngọt ngào, yêu thương và ấm áp. Nhà em lạnh, tối âm u, dù chiều chưa tắt nắng. Chút khói thơm từ bếp lửa cho tôi biết “nhà” đang sửa soạn bữa cơm chiều. Ánh lửa hắt ra từ bếp hồng, đỏ ấm áp trên những khuôn mặt hiền hòa, đang ngồi sưởi cho bớt lạnh những đôi tay. Không ai nói một câu tiếng Việt nào đã làm tôi lúng túng, dù chỉ là vài ba câu xã giao. Tôi cúi đầu chào như một lễ nghi không thể thiếu tới hết mọi người. Ba Mẹ, Ông Bà Nội, thêm Ông Bà Ngoại, vài ba con nít… Rất đông người sống lúp xúp trong mái tranh nghèo nhỏ bé.

Họ rất vui khi líu lo cùng tôi, dù chẳng ai hiểu ai một chút gì. Rất khó khăn tôi loay hoay vẽ trên giấy, xin phép họ cho em ở cùng tôi đêm nay. Một đêm Noel lạnh giá. Rất lịch sự, họ mời tôi ở lại cùng ăn tối. Tôi uống với họ chút rượu cần, loại cay cay nhạt nhạt, rượu rót tràn như nước suối trong chén nhỏ. Tôi ráng uống dù vị đắng làm cho đôi môi tê dại. Thêm khói bếp mịt mù, đã làm mắt tôi cay nồng như xoa ớt.

 

sapa 1
Nhà thờ Đá, Sapa.

 

Nhà thờ “Đá”, ngay trung tâm thành phố Sapa, đêm nay đông đầy những giáo dân. Vang vọng trong không gian, là rộn rã những bài thánh ca quen thuộc. Đèn sáng giăng khắp phố cho tôi nhớ lại những Giáng Sinh tấp nập của Sài Gòn năm xưa. Những đêm mặc áo đẹp, theo Ba Mẹ, đi dự Thánh Lễ ở nhà thờ Đức Bà.

 

Tuổi nhỏ tôi được nuông chiều nên nhõng nhẽo. Mười hai tuổi, tôi vẫn nằm lăn ra khóc ăn vạ, bắt đền. Vẫn hay dỗi hờn vô lý rồi bướng bỉnh nhất định không ăn cơm, chờ cho đến khi Mẹ dỗ dành, năn nỉ, có khi phải thêm cả những lời hăm dọa đòn roi... Nhớ về những ngày thơ ấu cũ, tôi chợt bóp nhẹ tay em như một lời xin lỗi. Tôi đã mắc nợ em, khi được quá nhiều những ân sủng của đời… Mà sao đôi khi tôi vẫn còn thở than, trách oán?

 

Vậy, còn những cuộc đời như em trên khắp cùng đất nước, khắp một quê hương lầm than, rách rưới. Các em đã có bao giờ than thở, và có được quyền oán trách với ai không? Phản ứng từ một sự xót thương, tôi cúi xuống ngả đầu trên tóc em. Tôi hít hà cái mùi chua nồng một cách thương yêu. Tóc em như còn có cả cái hương ủ ê của đất, thêm với mùi âm ẩm, dãi dầu của những nắng cùng mưa.

 

Chúng tôi bước vào ngôi Thánh Đường trong tiếng thánh ca thanh thoát và xôn xao của một ngày lễ thiêng liêng.

 

*

 

Tôi đoán đây là lần đầu tiên em bước vô một khách sạn. Em vui với bình hoa tươi thắm, mọi ghế bàn trong phòng khách và ngay cả những miếng xà bông nho nhỏ, xinh xinh. Ṛụt rè em nằm trên sofa, cam tâm như đó là nơi em sẽ ngủ đêm nay Tôi ẵm em nằm bên cạnh, và cảm nhận ra nhiều vui thích trong đôi mắt lấp lánh, ngây thơ. Em chợt líu lo hát, âm thanh bé bỏng, véo von. Tôi không hiểu gì, nhưng tưởng tượng ra em đang nói lên cùng thế giới. Nói về những ước ao nhỏ xíu, nhưng xa tắp, muôn trùng... Bàn tay em nhỏ bé, bao giờ mới vói được tới những ước mơ?

Tôi ôm em trong lòng, em cười rất tươi, nụ cười chan chứa hân hoan, và đầm ấm.

 

Em đã chẳng thao thức cùng tôi, đã chẳng thiết tha lắng nghe những bản nhạc Giáng Sinh vẫn còn lác đác, vọng lan man trên đường phố. Soãi dài tay, em chìm trong giấc ngủ. Tôi nhìn ngắm em như soi giọi lại tuổi thơ mình, một đời sống rất khác. Giật mình, lòng nhói đau khi mắt tôi nhìn ra đôi gót chân em nứt nẻ. Xót xa, tôi xoa nhẹ lên màu đen của những dấu ấn, những dấu vết tượng trưng cho một tuổi thơ nhọc nhằn, lam lũ. Nước mắt tôi rơi trên đôi gót chân em. Nước mắt giàn giụa, tưởng chừng như có thể tẩy trắng hết những vết đen, sâu và dài như ngàn lát dao cắt xuống. Tôi ngậm ngùi nhớ lại những bước nhỏ vô tội,  em đã tung tăng, đã bước thoăn thoắt cùng tôi sáng nay. Em chưa hiểu ra rằng, đôi gót chân nứt nẻ rồi đây, em sẽ phải giẫm đạp lên mọi thứ chông gai, và vướng víu với tất cả những tai ương đầy gay gắt, điên đảo của đời người.

 

Tuyết rơi và

 rơi

 Em có lạnh

 Xoa lên tóc

Thơm mùi đất ướt

Tôi hỏi em

Nhà, tận mãi đâu?

 

Sapa sáng nay

Lòng như than lửa

Từ biệt em

Tôi khóc thảm thương

Đã có bao lần, tôi trở lại

Khói chiều lam dẫn bước chân tìm

Nhớ tay nhỏ,

Ngày xưa, tóc ướt

Em ở đâu?

Mù mịt cánh chim.

[ LCG]

 

– LêChiềuGiang

Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.