Hôm nay,  

Mỗi ngày một mới

20/12/202218:58:00(Xem: 3909)
Tản mạn

altar

 

Nhật tân – Nhật nhật tân – Hựu nhật tân (Trích sách ĐẠI HỌC)

1. Tiễn Phạm Mạnh Tiến

Sống an nhiên, chẳng đợi cũng chẳng cầu:
Ta với người sớm muộn kh
ác gì nhau.
Đi trước hay về sau th
ì cũng vậy,
thế gian n
ày có dừng bước lại đâu!

D
ù nhân gian cứ biến thái sắc mầu
người đi trước, ta vẫn buồn rười rượi
v
ì sinh ly tử biệt – tình vời vợi
cứ đọng lại niềm đau ray rứt mãi...

Hãy để tiếc thương tha hồ từng trải
đến v
ô cùng vô tận kiếp con người
Phận người như phận con tằm ấy
vương tơ cạn sức sống – chưa th
ôi!

(July 05, 2022)

2. Gởi lời thăm hỏi

 

Tám tám tuổi đời trôi như mây
V
ẫn ta luân lạc ở phương này
B
ạn bè, tri kỷ nay vắng ngắt
Rượu rót một mình một mình say!

(Trần Thiện Hiệp)

 

Được đọc bài thơ mới của bạn, tôi bật ra vài ý để chia sẻ với bạn ta:

 

Tôi nay cũng đến tám mươi rồi bạn ơi
lu
ân lạc lâu nay, đây đã là nhà rồi
th
ân hữu mấy năm nay cũng vơi gần hết
Tri kỷ b
ây giờ chỉ còn... nhớ khôn nguôi.

3. Ngẫu hứng

Vào sáng thứ năm 15 tháng 12 năm 2022, tôi nhận được qua email bài dưới đây:

 

Tứ Đổ Tường

"Tứ Đổ Tường" là câu nói vắn tắt của "Tửu sắc tài khí tứ đổ tường". Câu này bắt nguồn từ một giai thoại văn chương giữa Tô Đông Pha, đại văn hào đời Tống, và thiền sư Phật Ấn, trụ trì chùa Đại Tướng Quốc.


Một hôm Tô Đông Pha đến thăm thiền sư Phật Ấn, ông thấy trên tường có bài thơ:


酒色財氣四堵牆,
人人都在裏面藏.
誰能跳出圈外頭,
不活百歲壽也長.

Tửu sắc tài khí tứ đổ tường,
Nh
ân nhân đô tại lý diện tàng.
Thùy năng khiêu xu
ất khuyên ngoại đầu,
Bất hoạt b
ách tuế thọ dã trường.

Dịch nghĩa:

Rượu, sắc dục, bài bạc, nghiện ngập (là) bốn bức tường vây kín
Ngư
ời người (đều) bị giam giữ ở bên trong
Ai (là) ngư
ời thoát ra khỏi cái vòng đó
(D
ẫu) không sống trăm tuổi thì cũng đã là sống lâu (trường thọ) rồi.

Bùi Phạm Thành dịch thơ:


Rượu Tình Bài Nghiện bốn bức tường
Người người bị giữ ở trung ương
Ai m
à thoát khỏi vòng giam đó
Ch
ẳng sống trăm năm cũng thọ trường.

Thể Lục Bát:

Rượu Tình Bài Nghiện là tường
Người người ai cũng bị giam ngay v
ào
Ai mà thoát kh
ỏi tường rào
Cũng là trư
ờng thọ dẫu nào trăm năm.

Tô Đông Pha xem xong viết một bài thơ bên cạnh rằng:


飲酒不醉是英豪,
戀色不迷最為高.
不義之財不可取,
有氣不生氣自消.

Ẩm tửu bất túy thị anh hào,
Luy
ến sắc bất mê tối vi cao;
Bất nghĩa chi t
ài bất khả thủ,
Hữu kh
í bất sinh khí tự tiêu.

Dịch nghĩa:

Uống rượu không say mới là người anh hào
Th
ấy sắc đẹp (mà) không mê thì mới là tay cao


(Th
ấy) tiền tài bất nghĩa (thì) không lấy (không nhận)
C
ó sẵn tính nghiện ngập nhưng không vướng vào (thì nó) tự mất đi.

Bùi Phạm Thành dịch thơ:


Rượu uống không say mới anh hào
S
ắc dục không mê ấy mới cao
Tiền t
ài bất nghĩa không thèm nhận
Nghiện ngập kh
ông vương tự tiêu hao.

Thể Lục Bát:


Anh hào uống rượu không say
Không mê s
ắc dục cao tay là người
Ham tiền cờ bạc kh
ông chơi
Nghi
ện ngập không vướng ắt thời tiêu tan.

Bài viết trên của Bùi Phạm Thành đã khiến tôi hào hứng “cái kiểu táy máy học hỏi” của riêng mình, bằng cách diễn ra ý tưởng vừa nẩy sinh trong đầu. Từ bài thơ đề trên tường của thiền sư Phật Ấn, tôi viết là:


Sắc bài rượu hút – tứ đổ tường
sống đời tục lụy chẳng ai kh
ông.
Ai vướng m
à thoát bốn vòng ấy
kh
ông sống trăm năm, cũng thọ khương.

Còn bài thơ của Tô Đông Pha thì tôi ứng đối rằng:


Rượu uống không say – mới hào hùng
yêu mà đừng đắm – rõ cao sang
tiền t
ài bất nghĩa không màng tới
nghiệp ngập
dứt rồi – tự thênh thang.

*

Sáng hôm chủ nhật 18 tháng 12- 2022, tôi nhuốm cảm lạnh từ sáng thứ bảy nên đành hủy bỏ mấy cuộc hẹn vui vầy cuối năm với bằng hữu. Bức bách nằm nhà, tôi tình cờ được theo dõi trận đấu giành chức vô địch bóng đá World Cup 2022: Đội Argentina tranh tài với đội Pháp gay go đá đến quá phút thứ 120 mà vẫn hòa 3-3, rồi cuối cùng Pháp thua ở lượt đá 5 quả phạt đền! Chưa bao giờ lại có một trận tranh đấu hào hứng đến như vậy.


Riêng tôi vẫn còn lưu luyến với khung cảnh “Tứ đổ tường” và cuộc đời, nên tôi liền viết thêm:


Làm người ắt biết tứ đổ tường
Sống đời tục lụy – cớ sao kh
ông!
M
ê mà đừng đắm chìm vô mãi
từng trải – vượt qua – ấy đời thường!

4. Tự nhủ

Hai tuần lễ nay, một trong vài người bạn thân thiết cùng tuổi của trên sáu mươi năm cuộc đời của tôi đã bỏ ra đi. Từng đêm, giấc ngủ của tôi luôn bị quấy rầy ba bốn lần; bao nhiêu nỗ lực trấn an mà tôi thường sử dụng lâu nay xem ra không còn hữu hiệu, tới độ tôi tự thấy rất ngạc nhiên, chẳng ngờ được tình trạng bất thường ấy lại có thể xẩy đến cho mình mạnh bạo như vậy...

Nhưng rồi, không biết tự bao giờ, âm điệu của những bản nhạc mùa Giáng Sinh trong các chương trình truyền hình bắt đầu nổi lên, vang xa, tràn lan ra ngoài đường phố, lọt vào tai tôi và len lỏi hòa với nhịp thở từng phút của tôi... khiến tôi rúng động:

Hãy cứ nhẹ nhàng đi với nhau
Sống đời gian kh
ó đã nát nhầu
vội v
àng hành hạ chi mãi thế
cho t
âm thanh thản – chẳng mong cầu.

– Phạm Quốc Bảo

(19/12/2022)

 

Má ơi! Thế giới vô thường, thay đổi và biến hoại trong từng phút giây nhưng lòng con thương má thì không biến hoại, không thay đổi, không suy hao. Nguyện cầu ngày đêm cho má, hướng phước lành đến cho má. Cầu chư Phật, chư Bồ Tát, chư hiền thánh tăng ba đời mười phương gia hộ má vượt qua đau bệnh để sống an lạc trong những ngày tháng tuổi già bóng xế.
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Rõ ràng thằng bé đã thức. Nhưng khi An bước đến bên giường, mắt cu cậu nhắm tịt lại vờ như đang ngủ. An cù vào nách con : — Giả bộ này. Giả bộ này… / Bin uốn éo người, cười khanh khách. An xốc con dậy, hôn vào đôi má phúng phính: / — Con đánh răng rồi ti sữa cho ngoan nhé. Mẹ đi làm đây. / Bin choàng vòng tay nhỏ xíu quanh cổ mẹ, giọng ngọng nghịu: / — Mẹ ứ đii… / Bà đưa tay đỡ lấy cu Bin: / — Sang đây bà bế. Chiều mẹ lại về với Bin nào. / Chỉ nũng nịu với mẹ chút thôi, chứ Bin rất ngoan. Chưa bao giờ em khóc nhè, vòi vĩnh như những đứa trẻ khác. Sự hiểu chuyện của con, nhiều khi làm An nghe buốt lòng.
Chiếc ghế đá hầu như rất quen thuộc, dù nó cũng như mọi chiếc ghế khác trong công viên. Tháng Sáu. Bầy ve kêu inh ỏi. Chúng vô tư thật! Đoan ngồi xuống. Mấy buổi chiều nay, tan học, Đoan ghé khu vườn rộng lớn này, như một người trở về, cảm giác thật khó tả. Chợt nghe trong đầu vẳng lại lời của một bài thơ:
Cuộc đời trung úy Đỗ Lệnh Dũng, một sĩ quan VNCH, là biểu tượng bi tráng của lòng trung thành, khí phách giữa chiến tranh tàn khốc, và là minh chứng cho nỗi đau kéo dài của những người lính và thương phế binh miền Nam sau cuộc chiến.
Lớn hơn anh Hợp một tuổi, tháng 4 năm 1975, anh Đăng chưa xong năm thứ nhất về Cơ khí ở Phú Thọ, vận nước xoay chiều, ba anh cũng phải đi "học tập cải tạo" như hơn ba trăm ngàn Sĩ quan QLVNCH. Là con trai đầu lòng, anh Đăng bỏ cả ước mơ, bỏ trường về quê, điền vào chỗ trống của người chủ gia đình mà ba anh bỏ lại. Anh sinh viên kính trắng của Phú Thọ bỗng chốc trở thành phụ xe, lơ xe, cũng đổi đời như gần hai chục triệu người dân miền Nam.
Bây giờ trời đã tối, nhiều người đi ngủ sớm. Bọn trẻ học bài dưới bóng ngọn đèn dầu ở ngoại ô, ngọn đèn đường gần bờ sông. Trước hàng rào kẽm gai, một người lính mang súng đi đi lại lại, một đôi tình nhân đi chơi về muộn. Ngọn đèn hỏa châu sáng bừng góc trời một lát rồi tắt. Người yêu quê hương đã đi ra khỏi mảnh đất của những hận thù dai dẳng mà vẫn muốn trở về. Người nông dân muốn cày lại thửa ruộng của mình. Người thợ sửa đồng hồ muốn ngồi lại cái ghế vải nhỏ thấp của mình sau tủ kiếng bày đồng hồ cũ và mới. Lò bánh mì chiếu sáng nhấp nhô bóng những đứa trẻ bán bánh mì đứng trước cửa sổ với bao tải lớn đựng bánh nóng mới ra lò. Con chim về ngủ muộn biến mất trong bụi cây chỗ anh đứng.
Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.