Hôm nay,  

Đà Lạt, một mùa xuân

03/01/202317:13:00(Xem: 4561)
Truyện

IMG_3987


Thuỷ chạy đến nhà tôi buổi chiều muộn, hớn hở:

 

– Công ty của anh tao có chuyến chiêu đãi nhân viên đi Đà Lạt năm ngày, mà phút cuối anh tao và bà chị dâu bận việc nên nhường hai chỗ cho tụi mình, mày muốn đi không?

 

Ôi, Đà Lạt, thành phố mộng mơ mà tuổi mười tám tôi chưa hề bước chân đến đó. Tôi thích lắm, hỏi Thuỷ:

 

– Bất ngờ quá, dĩ nhiên là đi rồi, nhưng tụi mình phải chuẩn bị gì đây, ngày nào lên đường, liệu có ảnh hưởng chuyện đi học?

 

Thủy hào hứng:

 

– Đi vào cuối tuần này, tụi mình chỉ nghỉ học 3 buổi, bây giờ sắp Tết, đi học cũng chẳng học gì đâu, thầy cô cũng thoải mái. Mình đi theo đoàn, được miễn phí tiền xe và tiền nhà nghỉ, đâu dễ gì có dịp khác.

 

Tối hôm đó, sau khi tôi xin phép gia đình, hai đứa bàn bạc đủ thứ chuyện và chuyện tài chánh eo hẹp của tuổi học trò cũng làm chúng tôi tính toán kỹ lưỡng. Vì muốn chụp thật nhiều hình cho chuyến đi mà không phải tốn tiền nhiều, chúng tôi quyết định mua hai cuộn phim trắng đen Kodak, thay vì một cuộn phim màu rất đắt tiền, khi lên tới Đà Lạt sẽ tìm một người chụp hình, nhờ họ chụp, trả tiền công, rồi đem về Sài Gòn rửa tại các tiệm chụp hình.

 

Vừa đến thành phố sương mù, nhận phòng là hai đứa tôi xuất phát ra đường vì muốn tận hưởng từng phút từng giây vẻ đẹp của Đà Lạt. Cao nguyên những ngày gần Tết thật lạnh nhưng rất thú vị theo từng cơn gió rít, chúng tôi được dịp diện áo khoác áo măng tô mà ở Sài Gòn chưa có cơ hội. Bước qua khu đồi nhà nghỉ là xuống con dốc, đi bộ vài trăm mét là đến trung tâm chợ Đà Lạt, chưa kịp ngắm phố phường xung quanh thì bốn năm người thợ chụp hình đã vây đến, chào hỏi chúng tôi chụp hình. Tôi nói với Thuỷ:

 

– Tụi mình ra góc chợ uống sữa đậu nành nóng rồi từ từ quan sát, chọn một thợ chụp hình mà mình tin tưởng và nói chuyện... giao kèo.

 

Vừa uống sữa, Thuỷ chỉ tay về phía bên kia đường:

 

– Hay là mình chọn anh chàng kia đi, nhìn anh ta trẻ trung nhanh nhẹn hơn mấy ông sồn sồn hồi nãy…

 

– Và đẹp trai nữa chứ!

 

– Hứ! Thì đó chỉ là một phần, cái chính là trẻ trung, mới đủ… sức khoẻ và vui vẻ trèo đèo xuống thung lũng với tụi mình cả ngày được.

Hai đứa tiến tới, anh chụp hình nhìn chúng tôi với một nụ cười chào hàng rất có duyên và thân thiện (ui chao, hễ ai có răng khểnh giống tôi là tôi có cảm tình liền hà!). Sau khi nghe chúng tôi trình bày, anh giới thiệu tên là Quang, đồng ý chấp nhận giá cả, chỉ thêm một điều kiện là tại các nơi thoả thuận, như Hồ Xuân Hương, Thác Cam Ly, Thung Lũng Tình Yêu, Đồi Cù… chúng tôi phải chịu khó chờ anh ấy chụp hình cho những người khách du lịch khác nữa (anh ấy đeo 3 máy trên mình, trong đó một máy chụp riêng hai cuộn phim chúng tôi).

 

Phải công nhận anh ấy nhiệt tình, hẹn nhau chụp hình bốn buổi của hai ngày, mỗi lần đến chỗ hẹn là anh ấy luôn đứng chờ sẵn, nụ cười tươi rói túc trực trên môi. Anh hướng dẫn chúng tôi chụp đủ kiểu dáng, góp ý bối cảnh không thiếu góc chụp nào. Đáp lại, chúng tôi thong thả ngắm cảnh trong khi chờ anh ấy bận rộn ngang dọc quay cuồng với những du khách khác, và lần nào xong chúng tôi cũng mua cho anh ấy ly nước, miếng bánh như lời cám ơn.

 

Trước khi đến ngày hẹn giao phim, Thuỷ bỗng lo lắng:

 

– Ê, có khi nào anh ta… lừa tụi mình không? Anh ta làm bộ chụp bấm ào ào, rồi đưa mình cuốn phim hư cũ, làm sao mình biết được? Coi như anh ta vừa được tiền công vừa được hai cuốn phim mới, ngon lành!

 

Tôi cũng đâm lo:

 

– Thì lỡ leo lưng cọp phải chịu chớ sao! Tự dưng mày làm tao cũng bắt đầu lây rồi nè, lo thật!

 

Hôm sau, đến nơi, anh ấy trao cho chúng tôi hai cuộn phim và bất ngờ tặng thêm tấm hình màu của hai đứa chụp chung và riêng mỗi đứa một tấm hình màu:

 

– Tặng hai cô mấy tấm hình màu làm kỷ niệm xứ sương mù nhé, hai cô thiệt… dễ thương!

 

Tôi nhanh nhẩu:

 

– Ủa, anh chụp mấy tấm này lúc nào mà tụi tui không biết?

 

Anh ấy có vẻ mắc cỡ:

 

– Có mấy lúc thấy hai cô làm dáng xuất thần quá, tôi liền cảm xúc chuyển qua máy của tôi vì hình màu sẽ đẹp hơn nhiều.

 

Nhỏ Thuỷ làm tới:

 

– Vậy là anh vi phạm hợp đồng rồi nhé, chụp ảnh người ta ngoài dự định mà hổng… xin phép!

 

Thấy anh ấy bối rối, tội nghiệp quá chừng, tôi phải nhảy ra cứu:

 

– Nhưng ba tấm hình này quá đẹp, đúng như anh nói, nhìn hai đứa tôi rất tự nhiên và… dễ thương hết sức nên chúng tôi chịu… nhận, và không làm khó dễ anh nữa!

 

Sau khi trả tiền, nói lời cám ơn và chia tay, về nhà nghỉ, Thuỷ quả quyết:

 

– Vậy là anh ta lừa mình rồi Loan ơi!! Anh ta tặng mấy tấm hình màu để… nhẹ tội và mình khỏi nghi ngờ đó.

 

– Mày đa nghi quá, mà tao thấy anh ấy rất chân tình, dễ mến, yêu nghề say sưa, chỉ dẫn tụi mình từng li từng tí, sửa từng lọn tóc trên trán, cách đứng tạo dáng bên hồ, bao giờ đúng ý anh ấy mới chụp. Chưa kể anh ấy không ngại ngần giúp đẩy hai đứa lên yên ngựa chiều theo ý tụi mình muốn làm gái "cao bồi" khi đứa nào cũng lóng nga lóng ngóng vì con ngựa quá cao, rồi đến Thác Cam Ly mày suýt té vì đôi dép lưới bị vướng cây dại, nếu không có anh ta đỡ thì giờ này chắc mày còn nằm ở bệnh viện chớ còn thời giờ mà ngồi đây nghi ngờ lung tung.

 

– Tao vẫn biết thế, nhưng sao cũng vẫn lo lo. Thời buổi này kẻ xấu thiếu gì, mình lại là khách phương xa, chắc gì gặp lại lần thứ hai, nên họ cũng có đủ cách lừa đảo.

 

– Mà thôi, chúng mình chờ hạ hồi phân giải.

 

Buổi sáng ngày tạm biệt Đà Lạt, hai đứa vừa bước qua chợ, gặp ngay chàng chụp hình ngay cổng chợ, mừng rỡ:

 

– Chào hai cô, hôm nay hai cô về Sài Gòn phải không?

 

– Đúng vậy anh ạ, xe chờ ở cuối đường, cho mọi người một tiếng để đi chợ.

 

– Hai cô mua sắm xong chưa?

 

– Tụi tôi đã mua xong từ hôm qua, giờ chỉ ra đây uống sữa đậu nành và ngắm núi đồi Đà Lạt lần cuối trước khi về với Sài Gòn nắng bụi. Mà anh đứng đây... chờ tụi tôi hả?

 

Anh thợ chụp hình bối rối:

 

– Đâu có! Tui ra đây tìm... khách chụp hình, hay là mời hai cô vào quán uống sữa nhé?

 

Nhỏ Thuỷ ghé vào tai tôi, thì thào:

– Thấy chưa, khi không anh ta mời mình đi uống sữa làm gì cho tốn tiền, chắc là "chôm" hai cuốn phim Kodak của chúng mình rồi.

 

Vào quán, nói loanh quanh chuyện Đà Lạt, anh ấy bắt chuyện:

 

– Lần đầu đến nơi đây, hai cô có sợ lạnh không?

 

Tôi mơ mộng:

– Không anh ạ, trái lại là rất mê khí hậu Đà Lạt, chiều qua tụi em đi dạo khắp các con đường xung quanh nhà nghỉ, ngắm những ngôi nhà bé bé xinh xinh có giàn hoa nơi cổng, dọc theo mấy ngọn đồi, đẹp như khung cảnh của xứ Châu Âu xa xôi, tuyệt vời lắm.

 

– Còn cô Thuỷ, sao không nói gì?

 

Nhỏ Thuỷ đỏ mặt:

 

– Tôi hả, tôi sẽ nhớ lúc đi lễ nhà thờ Con Gà, và cà phê nhà hàng thủy tạ ở Hồ Xuân Hương.

 

Anh ấy nháy mắt:

– Vậy là hai cô thích bài hát “Thành Phố Buồn” của Lam Phương có Đà Lạt “tiếng chuông chiều chầm chậm thê lương”.

 

Tôi cãi lại:

 

– Không hề anh ạ! Bài hát đó nghe buồn quá, dành cho mấy người lớn tuổi, thất tình, còn tụi em mới bước vào tuổi… yêu đời, ở Sài Gòn bây giờ các chàng trai thiếu nữ chỉ mê mẩn bài hát Mimosa của Đà Lạt mà thôi.

 

Anh ấy gật gù, bỗng cất giọng ngân nga:

 

– Mimosa... vì sao em tới, Mimosa... vì đâu em đến nơi này, Đà Lạt đồi núi chập chùng, Đà Lạt trời mây nước mênh mông?

 

Trời ơi! Hễ đến câu "Mimosa, từ đâu em tới" là anh nhìn lần lượt hai đứa chúng tôi, đến khi ảnh nhìn tôi, ánh mắt chan chứa tình cảm, như là đang hỏi... tôi vậy á!

 

Tôi reo lên:

 

– Ôi, anh hát hay quá, lẽ ra anh nên làm ca sĩ mới phải.

 

Nhỏ Thuỷ lườm tôi:

 

– Tại mày ca dở nên thấy ai hát cũng hay.

 

Bỗng anh hỏi:

 

– Tôi thỉnh thoảng cũng lên Sài Gòn, hai cô ở đâu, nếu không có gì phiền hà thì cho tôi địa chỉ để tiện dịp tôi ghé thăm được không?

 

Tôi và Thuỷ nhìn nhau, mấy cái vụ “cho anh xin số nhà” này ở Sài Gòn tụi tui gặp hoài, thường là chúng tôi từ chối, vì mấy thằng bạn chung lớp chung trường gạt ra còn không hết, kết thêm bạn mới làm gì, nhưng lần này nhìn vào mắt anh ấy, có gì đó níu kéo, thúc đẩy, làm tôi mềm lòng nhưng tôi không dám trả lời vì sợ nhỏ Thuỷ lại lườm tôi, ai dè nó còn mau mắn hơn tôi:

 

– Anh cứ đến Gò Vấp, hỏi Ngã Năm, rồi hỏi nhà máy Z.751 và hỏi hai tên này là tìm ra tụi tôi.

 

Thủy bắt anh "hỏi" mấy lần. Tôi tội nghiệp gỡ rối:

 

– Vì khu Z.751 chỉ có xóm nhỏ của tụi tôi, ai cũng biết nhau.

 

Trên xe trở về Sài Gòn, tôi hỏi Thuỷ:

 

– Nhà ngươi nghi ngờ người ta, sao còn chỉ đường tìm nhà làm gì?

 

Cô nàng ngượng ngùng chẳng dám trả lời. Tôi tiếp:

 

– Mày một vừa hai phải thôi! Anh ấy tặng mình ba tấm hình màu, giá không rẻ đâu nhe, rồi bữa nay mất hai ly sữa đậu nành và hai tô bún bò Huế, rồi anh ấy còn mất cả buổi sáng ngồi quán nói chuyện với mình, thì hai cuộn phim Kodak cũng chưa đủ cho anh ấy lấy lại vốn, thậm chí còn lỗ là đằng khác, ở đó mà nghi ngờ người ta.

 

Về tới Sài Gòn, chúng tôi đem phim đi rửa, nhưng phải chờ hai tuần mới có hình. Nôn nao, hồi hộp, lo sợ, rồi cũng đến ngày lấy hình. Các tấm hình đều đẹp, như ý, và đầy đủ không thiếu tấm nào. Hai đứa ngồi ngay công viên Nhà Thờ Đức Bà ngắm nghía xuýt xoa từng tấm hình. Nhỏ Thuỷ sau khi vài chục lần xem hết xấp hình, ngước lên nhìn tôi, mơ màng:

 

– Thì ra tao đã vu oan giá hoạ cho “người ta” …

 

Tôi được dịp chì chiết nó:

 

– Tao đã bảo rồi, “nhìn mặt mà bắt hình dong” thì anh ấy không thể nào là loại người lừa đảo, hơn nữa, chính mày là người lựa chọn anh ấy ngay từ phút đầu, phải không?

 

Suốt đoạn đường đạp xe về nhà, nhỏ Thuỷ cứ tủm tỉm cười, đôi má ửng hồng, có lúc còn e thẹn, ngập ngừng hỏi tôi:

 

– Tụi mình nói anh ấy đến khu Z.751, liệu ảnh có tìm ra không nhỉ?

 

Còn tôi ư, tôi còn nhớ cả khuôn mặt anh vừa chạy vừa vẫy tay chào chúng tôi khi chiếc xe lăn bánh rời Đà Lạt. Nhưng anh Quang ơi, anh thích ai trong hai đứa chúng tôi, chả lẽ anh thích…cả hai đứa, chả lẽ anh tặng hình màu, rồi bỏ thời gian “vô tình” gặp chúng tôi buổi sáng chia tay, mời đi uống sữa, ăn sáng, rồi xin điạ chỉ ở Sài Gòn, để muốn thăm… cả hai đứa??

 

Tôi lắc đầu, chẳng muốn nghĩ ngợi xa xôi, nhưng thật sự cầu mong “anh cứ hẹn nhưng anh đừng đến nhé”, để tôi mãi được thấy nhỏ Thuỷ bạn tôi xinh tươi “má đỏ môi hồng” khi nhớ về Đà Lạt, và để tôi giữa trời Xuân nắng hiu hiu của Sài Gòn, lòng vẫn phơi phới rạo rực, tiếp tục những vần thơ còn dở dang:

 

Tôi đến Đà Lạt một chiều Xuân

Bên thác Cam Ly dừng bước chân

Có ai theo tôi từng con dốc

Mai tôi về, Sài Gòn bâng khuâng!

 

– Kim Loan

Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.