Hôm nay,  

Viết từ hồ Sammamish

05/01/202308:33:00(Xem: 3955)
Tùy bút

tmt 2

Trần Mộng Tú & Hồ Sammamish trước nhà.


 

Tôi muốn giới thiệu đến mọi người về hồ Sammamish ở trước cửa nhà tôi, mà nhóm bạn văn ở Seattle chúng tôi đặt tên cho là Dòng Sông Thanh Thủy (Một tựa sách của nhà văn Nhất Linh). Cái hồ nhỏ thôi, dài có mười một cây số và rộng hơn hai cây số, ở về phía đông của hồ Washington, thuộc tiểu bang Washington, miền tây bắc nước Mỹ.

 

Nhà chúng tôi may mắn đuợc ở trước mặt một ngã rẽ của hồ, một khúc hồ rẽ làm ba nhánh, như một nhánh cây có hai chạc, ngã ba rẽ ngoặt quành sau hai vách núi nên trông giống một cửa sông nhỏ. Hai bên bờ nhà san sát chen nhau trong những khu rừng trồng thông, tùng, bách và phong. Về phía đông bắc của hồ có dẫy núi Cascade nằm uốn lượn song song với nước chạy suốt về phía tây nam, đứng trước cửa nhà trông được cả một vòng cung một trăm tám mươi độ theo thứ tự trên cao nhìn xuống: trời, núi, nhà cửa, cây và hồ. Vào những ngày trong trẻo, ít mây, chỏm núi Rainier hiện ra tình cờ cùng với cái vòng cung đó, đẹp như một nét cọ cuối của họa sĩ hạ xuống trong những bức tranh Tầu, mềm mại nhưng chứa đầy sức mạnh. Vào mùa Hạ thì những cánh buồm trắng nhỏ xuất hiện, không biết từ đâu tới, rẽ vào, trông xa xa như đàn Sếu trắng la đà trên mặt nước. Mùa thu thì bờ bên này trông sang bờ bên kia thấy được Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san. Ai thấy cảnh đó cũng thành “thi sĩ “được. Mùa Đông dãy núi Cascade sẽ phủ đầy tuyết trắng như mây quàng cổ núi, và chao ôi! thỉnh thoảng sau cơn mưa nắng lóe lên chúng tôi được ngắm cầu vồng ngũ sắc bắc qua dòng nước từ đầu núi này đến chân núi kia và chiếc cầu vồng đó thế nào cũng theo tôi vào giường tối hôm đó, giấc ngủ của tôi lơ mơ dưới một tấm chăn bảy màu.

 

Tôi đôi khi, một mình đứng ngắm ngã ba sông nước đó, cám cảnh lưu vong của mình hay tự nói:

 

Chẳng biết nơi đâu là chốn quê nhà

 

Có khi câu Thơ cũng bật ra:

 

Nắng trên núi mưa dưới sông

Trong hân hoan đã mênh mông nỗi buồn

Bên kia bờ giải mây vương

Bên này tôi đứng mù sương với tình

(TMT)

 

Chúng tôi vào những ngày mùa Hạ hoặc bất cứ vào mùa nào có ngày nắng đẹp, hoặc khi có bạn xa tới đều họp nhau trên cái deck trước nhà tôi cùng uống vang đỏ nên tôi đã thay tên hồ Sammamish bằng Dòng Sông Thanh Thủy vì một bạn thân của chúng tôi, anh Nguyễn Tường Thiết là con út của nhà văn Nhất Linh, hơn thế chúng tôi đều là độc giả của Nhất Linh.

 

Tôi không có thời giờ để cả ngày ngồi ngắm quang cảnh của hồ như một số bạn bè thường hỏi. Nhưng quả thật cái hồ Sammamish lúc nào cũng ở đó cho tôi ngắm và nó thay hình đổi dáng tùy giờ, tùy ngày, và tùy mùa. Có lúc sáng sớm dậy đẩy nhẹ cánh cửa ở phòng ngủ ra ngòai hành lang, không thấy cái hồ đâu cả, không thấy núi, không thấy những hàng cây, những ngôi nhà lớn nhỏ, chỉ thấy một vùng không gian trắng như sữa đục bồng bềnh trôi vào đến giường ngủ. Không có bầu trời, không có chân trời, không có mặt nước, hành lang cũng biến mất. Vội vàng quay vào chạy mấy bực cầu thang xuống bên dưới, mở cửa chính, thì chao ôi, mấy bực thềm bỗng đâu mất, hình như cái gì giống mây và sương trộn lẫn vào nhau tràn cả vào nhà. Không dám bước ra, nếu bây giờ mà bước ra một bước liệu có bị cuốn trôi đi không? Mà cuốn đi đâu? Hồ đâu? Bờ đâu? Núi đâu?

 

Đấy, hồ Sammamish như thế đó nên tôi không tả tiếp nữa, vì còn bốn mùa, còn ngày mưa, ngày nắng nữa, nó thay đổi vô chừng cùng với dẫy Cascade trên cao, với tuyết trắng mùa đông, thông xanh mùa xuân, hạ, phong đỏ mùa thu. Có thể tôi sẽ làm cho người nghe khó chịu lắm vì không biết tôi mê hay tỉnh khi tôi viết. Tốt hơn hết tôi nên ngừng tả về cái hồ ở đây và viết về một chuyện khác, không làm độc giả bối rối.

 

Tôi chỉ muốn nhắc độc giả là tất cả những bài viết, những bài Thơ của tôi từ bao nhiêu năm nay đều được viết từ căn phòng sách nhỏ ở ngôi nhà đối diện với mặt hồ Sammamish nên nó có lơ mơ, lạ lẫm và “dấm dớ” (như lời một chị bạn thường nói) thì chính là lỗi tại thổ ngơi.

 

– Trần Mộng Tú

(Tháng 1/2023)

Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.