Hôm nay,  

Trái tim mỗi người

11/01/202308:58:00(Xem: 4423)

Truyện

anh-tinh-yeu-tuoi-gia


Từ ngày gặp lại bà, ông cảm thấy mình trở lại tuổi thanh xuân tràn trề sinh lực. Trái tim ông đã đóng băng từ lâu, nay bỗng tan ra dưới nắng xuân hồng ấm áp dịu êm… Dường như ông không còn khái niệm về tuổi tác của ông và bà. Trong mắt ông, bà vẫn là cô gái ngày xưa, người yêu của ông cách đây hơn ba mươi năm.

 

Thật ra, cảm giác trên chỉ từ từ hình thành sau khi ông gặp bà năm bảy lần và giờ đây đã dần dần ổn định. Chứ hôm đầu tiên ngồi đối diện với bà, ông như không tin ở mắt mình. Em đấy ư? Ông quặn lòng khi nhìn vào đôi mắt bà không còn trong xanh như xưa. Và dù được chăm chút tô vẽ kĩ lưỡng vẫn hiện lên mờ mờ bàn chân chim ở phía đuôi. Hai gò má dù phủ lớp phấn dày, khá công phu vẫn không che giấu được những nếp nhăn và những đốm nâu lão hóa. Mái tóc được uốn gọn, khéo léo, sang trọng với thuốc nhuộm màu hạt dẻ vẫn để lộ ra những chân tóc thưa thớt và chắc đã có nhiều sợi bạc… Chưa bao giờ ông chứng kiến sức tàn phá ghê gớm của thời gian đến như vậy.

 

Đó là một buổi chiều Sài Gòn vừa dịu nắng. Sau khi đón bà từ sân bay Tân Sơn Nhất về một khách sạn mà ông đã đặt phòng trước cho bà, ông đưa bà đến quán cà phê. Ngồi đối diện với ông, bà có vẻ lúng túng vụng về, luôn tay vuốt tóc, không dám nhìn thẳng vào mắt ông. Ông dịu dàng âu yếm nhìn bà, như muốn trấn an bà về điều gì đó mà ông chưa rõ… Nhưng rồi không hiểu sao sau đó, những nét già trên khuôn mặt bà dần dần trẻ lại. Như một phép màu. Và giờ đây bà dường như trở lại  hình ảnh cô gái ngày xưa, người ông đã từng yêu thương và mãi mãi yêu thương nhưng đã không cùng bà nên duyên vợ chồng bởi số phận trớ trêu.

 

Từ ngày gặp lại ông, bà cũng cảm thấy mình trẻ hẳn ra, nhẹ nhàng nhanh nhẹn năng động lên gấp bội. Như loài mai ủ rũ héo hon suốt mùa đông tưởng chừng không còn sức sống, bỗng một sáng xuân, người ta tỉa cành ngắt lá cho mai tích nhựa vào thân, người ta tưới nước tràn trề để mai nhú ra bao nhiêu là mầm là nụ. Tất cả đều xanh mượt, căng tròn , mũm mĩm… Cũng như ông , bà dần dần mất đi khái niệm tuổi tác. Bà thấy mình trở lại tuổi đôi mươi. Tâm hồn vui phơi phới. Mắt bỗng sáng long lanh. Môi bỗng đỏ mọng và má bỗng ửng hồng.  Cái nắm tay đầu tiên sau bao năm xa cách làm bà nghe như có luồng điện chạy dài từ đỉnh đầu tới gót chân. Và cái nhìn của ông, cái nhìn quen thuộc gần gụi thân thiết, hiền từ bao dung chở che, nồng nàn ấm áp chân thành, chứa chan cảm thông yêu thương trìu mến… khiến bà nao cả lòng.

 

Cũng như ông, lần đầu tiên gặp lại ông, bà vô cùng kinh ngạc! Mái tóc ông đã bạc trắng. Đôi mắt đã sậm màu mỏi mệt sau cặp kính lão. Hình dáng, bước chân… đều thay đổi. Lúc đó bà muốn khóc quá chừng nhưng kìm lại được. Bà chợt nghĩ tới mình , hẳn bà cũng già đi nhiều lắm? Chắc chắn rồi! Chính điều nầy làm bà bối rối. Cũng may, quán cà phê vườn đang nhạt nhòa dần trong khoảnh khắc hoàng hôn, che bớt dùm bà những bước chân khắc nghiệt tàn nhẫn của thời gian. Bà khôn ngoan ngồi khuất trong bóng tối của chậu nguyệt quế, tìm lại được sự tự tin.

 

Hóa ra thời gian giống như bụi bặm, nó ẩn khuất, tiềm tàng trong từng hạt không khí nên có thể luồn lách khắp mọi nơi. Đồ đạc dù được che chắn kĩ càng đến cỡ nào, nó vẫn len lỏi vào được.

Họ nhìn nhau rưng rưng ngậm ngùi.

 

– Em về chơi được bao lâu ? Ông đã biết nhưng vẫn cứ hỏi để cả hai bớt lúng túng.

 

– Em tính ở lại hai tháng. Bà mỉm cười trả lời câu đã thuộc lòng.

 

– Em sẽ ăn Tết ở đâu?

 

– Có thể em về Hội An.

 

– Tại sao lại có thể?

 

– Vì  tới giờ phút nầy em cũng chưa có quyết định dứt khoát. Em có nhiều nơi để đến và về nhưng chỗ nào thú vị nhất thì em chưa nghĩ ra.

 

Câu chuyện cởi mở dần … Bao kỉ niệm êm đềm hạnh phúc của một thời tuổi trẻ được đánh thức. Có lẽ thần ái tình thấy tội nghiệp họ, biết không cần phải bắn thủng tim của họ nữa mà chỉ nên tặng mỗi người một đôi hài có mũi sau gót chân để họ đi ngược lại thời gian. Quá khứ giúp họ tìm lại tuổi xuân nồng nhiệt tự nhiên. Tình xưa giúp họ vượt qua ranh giới hiện tại.

 

Họ tìm lại được nhau thật tình cờ như nhiều cái tình cờ vẫn thường xảy ra trong cuộc sống. Tại một tiệc cưới, ông tình cờ ngồi gần một bà mập mạp. Ông liên tục tiếp thức ăn cho bà, rất lịch sự. Đáp lại nồng hậu của ông, bà cũng liên tục tiếp thức ăn cho ông. Chuyện đông chuyện tây, chuyện cổ chuyện kim, chuyện trên trời dưới đất, bà cứ say sưa khiến người ngoài tưởng họ là đôi bạn thân thiết từ lâu hoặc có thể còn hơn thế nữa. Sự nhiệt thành quá mức của bà đôi lúc làm ông bối rối ngượng nghịu. Nhưng cũng nhờ vậy mà bà nhắc đến tên Cẩm Tú Cầu. Ông giật mình. Cái tên hiếm gặp, cái tên vẫn nằm sâu trong một ngăn tim kín đáo nhất của ông. Qua vài thông tin ngắn gọn, ông chắc chắn đây là Cẩm Tú Cầu của lòng ông. “Anh biết chị ấy ư? Anh muốn liên lạc không ? Tui có số phone của chỉ nè!” Ông run run ghi. Rồi ông là người trong bàn đứng dậy đầu tiên sau lời xin lỗi nhã nhặn.

 

Ông nhanh chân về nhà. Bấm dòng số dài ngoằng, ông cẩn trọng dò đi dò lại rồi mới nhấn nút gọi. Tiếng chuông bên kia đầu dây đổ dài. Ông hồi hộp, hơi thở ngắn và cạn. Hình như khá lâu mới có người cầm máy: “Hello!” Giọng nam. Ông giật thót tim: “A lô A lô! Có phải nhà Cẩm Tú Cầu đó không ạ?” “Cẩm Tú Cầu?…” “Vâng, làm ơn cho tôi gặp Cẩm Tú Cầu!” Một thoáng im lặng… “À… À… Đó là mẹ tôi, nhưng có gì quan trọng mà ông gọi vào giờ nầy?” “Tôi từ Việt Nam…” “ OK! ông chờ máy nhé!” Sực nhớ ra giờ nầy bên ấy, ông ngại ghê nhưng việc đã lỡ.

Giọng bà lạ huơ lạ hoắc, phải tới hơn mươi phút sau ông mới tìm lại được âm sắc quen thuộc của bà. Sau mấy lời thăm hỏi, bà nhắc: “Stop nghen! Mai em sẽ gọi lại cho anh.” Cũng từ hôm đó, cứ cách vài ngày, ông chưa kịp gọi cho bà thì bà đã gọi về cho ông. Hai ông bà cứ vậy mà say sưa bao nhiêu là chuyện. Con gái ông ngạc nhiên và mừng lắm khi thấy cha mình độ rày mặt mày cứ hớn ha hớn hở, thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình.

 

Càng nói chuyện qua điện thoại, họ càng khao khát được gặp nhau. Bàn tới bàn lui, bà quyết định về Việt Nam ăn Tết. Họ hồi hộp. Sung sướng. Náo nức. Mong chờ.

 

Ngày bà về, dù đã chuẩn bị kĩ tinh thần trước đó nhưng có lẽ ông sẽ rất khó nhận ra bà nếu bà không cho trước dấu hiệu, bởi đâu còn hình dáng mảnh mai của cô thiếu nữ ngày nao.

 

Trong bữa ăn sáng ở một quán phở, ông dè dặt:

 

– Hay là… chúng ta cùng đi du lịch dịp Tết nầy …

 

Bà háo hức:

 

– Đi đâu vậy anh?

 

– Hà nội, Huế… Nha Trang, Đà Lạt…

 

Bà cầm tay ông lắc lắc, hệt ngày xưa, giọng nũng nịu:

 

– OK!… Nhưng anh sẽ ăn nói với bọn nhỏ như thế nào?

 

Ông âu yếm nhìn bà:

 

– Em yên tâm. Anh đã sắp xếp mọi chuyện.

 

Rồi họ bên nhau trong một khách sạn ở Đà Lạt. Họ hoàn toàn bất ngờ về chính mình và bất ngờ về nhau. Ông mãnh liệt, cuồng nhiệt, tận tình quá đỗi. Bà đậm đà, nồng nàn, lãng mạn xiết bao. Thì ra… Cuộc đời đẹp quá! Đáng yêu quá! Ông lắng nghe sức sống trào dâng trong từng mạch máu, từng tế bào. Hừ, phen nầy ông quyết tâm mai mốt về nhà, sẽ lên kế hoạch chăm sóc kĩ hơn cho sức khỏe của mình, điều mà bấy lâu nay ông chưa bận tâm đúng mức. Ông sẽ đi tập dưỡng sinh. Mỗi chiều, ông sẽ chơi tennis thêm một tiếng nữa. Sẽ đặc biệt chú ý chế độ ăn uống, sẽ bỏ thuốc lá… Chưa bao giờ ông có được hạnh phúc nầy, yêu và được yêu, hết lòng hết dạ. Ông tận hưởng cảm giác quá đủ, thậm chí có thể nói là tràn trề... Ông dạt dào cảm xúc hàm ơn bà, người đã cho ông được hồi sinh, giúp ông thấm thía tận cùng niềm hạnh phúc được làm người trần thế. Bà là tất cả cho phần đời còn lại của ông. Ông thầm hối tiếc, giá như ông bà gặp nhau sớm hơn. Thật quá lãng phí!

 

Đà Lạt se lạnh. Trong tấm mền dày cộm ấm áp cùng hơi ấm tỏa ra từ thân thể ông, bà cảm thấy mình bé bỏng và nhẹ thênh. Vậy thì bà còn cần gì nữa? Ở tuổi nầy, bà thực sự đang yêu và thực sự được yêu ư? Bà đang ở trong cõi thực ư? Đến bây giờ, bà mới nhận ra tình yêu là điều có thực mà cả quảng đời đã qua bà luôn nghi ngờ. Trái tim bà rộn rã ngân nga những giai điệu xuân thì. Nhà cửa, xe cộ, tiền bạc bà phải vật lộn, đổ mồ hôi, lao đao lận đận bon chen mấy chục năm qua ở xứ người bỗng trở nên vô nghĩa phù phiếm! Ừ, hết thảy chẳng là gì cả! Bà đang hạnh phúc. Hạnh phúc quá lớn quá lạ và quá bất ngờ khiến bà như đang sống trong giấc mơ đẹp nhất đời. Bà đang trôi bồng bềnh bồng bềnh trong đám mây hư thực, thực hư…Và điều chắc chắn như đinh đóng cột là bà chẳng hề phí công khi vượt qua nửa cái hành tinh xanh đáng yêu nầy để bây giờ có ông bên cạnh.

 

Rồi họ say sưa háo hức bàn chuyện tương lai. Họ tin cuộc hạnh ngộ nầy là thiên duyên bởi tất cả diễn ra như có sự sắp xếp hợp lý: Ông bà đều trong cảnh góa bụa, quan trọng hơn nữa là ngày xưa họ đã từng là người tình sâu đậm của nhau. Giờ đây họ thật lòng khao khát được có nhau, nương tựa nhau trong khoảnh đời còn lại. Bà sẽ về Việt Nam. Họ sẽ xây một ngôi biệt thự … Họ sẽ an nhàn tận hưởng mùa xuân đang trở lại…

 

*

 

Thế nhưng sau khi nhận cú điện thoại của bà từ Mỹ, báo tin chuẩn bị tiến hành thu xếp mọi việc để về nước, ông bỗng đắn đo băn khoăn. Bao nao nức ước ao cùng bà chung sống bỗng lắng xuống. Những ngọn sóng cuồn cuộn dữ dội đã từng nhào lộn tung hứng ngoài khơi giờ đang rất đỗi hiền lành, nhẹ nhàng vỗ vào bờ.

 

Có nên chăng?

 

Xưa nay ông quen sống một mình trên tầng lầu. Một mình nên tha hồ thích làm gì thì làm. Tới bữa, nếu muốn ăn cùng vợ chồng đứa con gái thì ông xuống tầng dưới . Còn không, ông gọi điện thoại kêu con Đẹt bưng lên. Ông ăn mặc tùy tiện, thường cứ quần xà lỏn, áo may- ô, mát mẻ thoải mái. Muốn ngồi muốn nằm ở tư thế nào cũng được. Muốn tắm hay muốn ở dơ tùy thích… Chiều, sau khi ở sân tennis về, ông cùng mấy người bạn ngồi khề khà vài lon bia, nói chuyện tào lao tào đế chơi. Tối, ăn cơm xong, ông nằm khềnh ra tấm nệm trải trên sàn nhà, dang rộng tứ chi hết cỡ cho đỡ mỏi. Rồi mở TV xem. Dễ chịu khoan khoái không thể tả hết!

 

Nhưng nếu ở với bà, ông có còn được tự do như vậy nữa không? Chao ôi! Bao nhiêu là thói quen sống của ông. Những thói quen dễ chịu. Những thói quen như những nếp li trên quần áo đã chết cứng theo thời gian, khó lòng ủi thẳng ra được. Ông e ngại, nếu sống với bà, liệu bà có chấp nhận? Hay cuộc sống của ông sẽ bị đảo lộn? Hay suốt ngày ông lại phải chịu đựng những tiếng kèo nhèo kẻo nhẻo, than thân trách phận, day dứt rỉa rói ông thế nầy, ông thế nọ? Mấy ngày ở cùng bà, lúc nào ông cũng phải để ý đến bản thân mình từng li từng tí, nào phải dậy sớm, nào phải giữ mình sạch sẽ thơm tho… Nhiều cái “phải” lắm. Hưng phấn thì cũng có vì tất cả đều lạ lẫm thú vị, nhưng cứ “phải” như vậy suốt cả phần đời còn lại thì mệt thật chứ chẳng chơi!

Rồi trong mọi sinh hoạt khi chung sống, ông luôn phải chiều chuộng bà! Những ngày ông bà bên nhau vừa qua là những ngày mới mẻ sau bao nhiêu năm xa cách. Là người tình của nhau. Là khách của nhau. Thêm nữa, ông đã cố gắng đối đãi với bà theo cách bà là một phụ nữ ở Mỹ, một đất nước “lady first” – mọi ưu tiên dành cho phụ nữ. Nhưng nếu cứ phải như vậy thì coi bộ gay go quá! Rồi họ sẽ phải trở về cuộc sống đời thường với bao điều vụn vặt. Là vợ chồng, họ sẽ có những va chạm, trách móc, giận hờn. Mà đó là điều ông không hề muốn. Ông thích hình ảnh mình mãi đẹp trong mắt bà, mãi là một “gentleman” thực sự. Muốn vậy, họ không nên sống với nhau khi cả hai đã cùng có tuổi. Sức khỏe không còn đủ để họ luôn cố gắng làm đẹp lòng nhau. Đúng vậy, muốn làm đẹp lòng nhau cũng cần khỏe mạnh. Vậy thì ông tìm cách chung sống với bà để làm gì? Còn nữa, rồi khi về già bà sẽ yếu đau quặt quẹo... Ôi, nghĩ tới đây ông thở ra ngao ngán đồng thời cũng tự vấn lương tâm mình. Nhưng biết làm sao bây giờ? Đồng ý là bà có thừa tiền để mướn người chăm sóc. Đồng ý là ông thừa của thừa lòng để không tiếc gì với bà nhưng nghĩ tới nghĩ lui ông thấy nhọc nhằn quá! Liệu ông đủ sức để kham?

 

Phần ông, sống một mình thật đơn giản. Đau ốm ư? Hai đứa con ông đều ngoan, đều hiếu thảo. Trong khi đó, các bệnh viện cao cấp cứ mọc lên như nấm, muốn được chăm sóc cỡ nào cũng có. Sợ gì!

Và chắc chắn không ít người sẽ xì xầm, già rồi mà còn bày đặt te rẹt! Hoặc tệ hại hơn nữa là họ lầm tưởng ông lấy bà vì bà là một Việt kiều khá giả. Làm sao họ tin được ông và bà, chưa chắc ai giàu hơn ai? Ái chà, đủ thứ chuyện! Càng nghĩ càng rối tung lên mà ông thì mệt mỏi biếng nhác lắm rồi. Giờ đây ông chỉ còn muốn nâng niu chắt chiu tình yêu của ông và bà trong trái tim để lấy đó làm niềm vui sống.

 

Ông suy nghĩ cân nhắc tới lui. Xác định kỹ càng độ nông sâu tình cảm của ông dành cho bà. Đau đớn thở dài. Đành vậy thôi em ơi! Chúng ta chẳng còn sống được bao lâu nữa. Thôi thì hãy yên phận cho khỏe cái thân già. Thế là ông quyết định phải phone gấp cho bà, sẽ viện một cớ gì đó để không xúc phạm và đau lòng bà. Có lẽ chuyện sức khỏe của ông là hợp lý nhất.

 

Nhưng ông chưa kịp gọi cho bà thì bà đã gọi về. Giọng bà nhỏng nhẽo trẻ con, chứa chan niềm vui sướng: “Hello anh yêu, anh khỏe không? ” “A lô! Anh tàm tạm. Còn em?”

 

Khỉ thiệt, đường dây điện thoại bữa nay sao kì cục quá! Mỗi câu nói của ông ngay sau đó liền bị vang lại giống y như tiếng vọng trong hang đá. Tiếng của bà thì có lúc bị rè rè, có lúc trở nên léo nhéo. Ông cứ phải kêu lên: “Em nhắc lại coi. Anh nghe không rõ!” Rồi ông phải căng tai, đoán tới đoán lui mới hiểu được ý bà. Thiệt khổ hết chỗ nói! Bà cũng than giọng ông nhỏ. Thế là hai ông bà cứ phải vừa hét to, vừa hello, à lố, á lồ liên tục. “Sao lại tạm được? Anh phải khỏe chứ, nếu không em bắt đền đó. Em ấy à, good lắm! Thử gởi cho em một chiếc que tăm và một viên cuội nhỏ, em sẽ bẫy trái đất lật ngược lại, tụi mình đứng bên nhau cho xem. Con trai em OK chuyện tụi mình rồi. Nó nói hễ mẹ hạnh phúc là con vui…”

 

Ông thở khó nhọc “Alô! Cẩm Tú Cầu em ơi! Khoan đã, nghe anh nói nè… Á  lô… A lố… Anh đã suy nghĩ lại, anh thấy…” Ông vừa nói được điều cần thiết thì đường dây lại trục trặc. Dù vậy ông cũng kịp nghe bà sụt sịt, giọng nghẹn ngào. Ông hoảng hốt, cố gắng giải thích rõ hơn, nhưng cái đường dây điện thoại chết tiệt kia hình như không chuyển tải được. Ông cứ phải gào to lên. Mãi lát sau ông mới biết bà đã gác máy tự lúc nào.

 

Nhìn trân trân cái điện thoại, ông chờ đợi phép lạ nhưng phép lạ không đến. Rồi ông bấm máy gọi điên cuồng. Trả lời ông là tiếng tít tít ngắn liên tục chết tiệt! Lòng ông thắt lại vì lo âu sợ hãi. Bà đang khóc, hẳn thế. Ông tin rằng với chừng tuổi nầy đương nhiên bà sẽ không nông nổi làm điều dại dột. Nhưng bà sẽ đau buồn rồi sinh bịnh. Ông xốn xang thương bà, tự ghét mình, tự đấm ngực mình. Ân hận. Tuyệt vọng. Ôi! Ông vừa chà đạp lên niềm kiêu hãnh sâu xa của người phụ nữ. Ông đã làm trái tim yêu thương của ông bị vỡ nát. Giọng bà cứ văng vẳng bên tai ông: “Em ấy à, good lắm! Thử gởi cho em một chiếc que tăm và một viên cuội nhỏ , em sẽ bẫy trái đất lật ngược lại, tụi mình đứng bên nhau cho xem”. Trời ơi!

 

Chút hi vọng chợt le lói trong ông. Có thể bà bỏ qua cho ông? Ông sẽ viết thư cho bà, rằng sở dĩ ông đã nói như vậy vì không muốn bà phải hi sinh cho ông nhiều quá. Rằng thực ra ông rất yêu bà, luôn muốn sống với bà. Rằng bà là vật báu của ông. Rằng ông luôn mong mỏi sẽ được sống mãi bên bà trọn kiếp.

 

Rất có thê bà sẽ tha thứ cho ông vì bà vốn là người hiền lành nhu mì, lại thương yêu ông hết mực. Nghĩ là làm ngay. Ông hăm hở chạy đi lấy giấy bút. Sau vài tiếng đồng hồ ngồi cắm cúi viết, ông đứng dậy đi tới đi lui. Tờ giấy chi chít những dòng chữ bị gạch xóa đến tội tình. Không! Ông vẫn còn chừa lại hai chữ “thói quen”. Hai chữ nầy thực ra cũng đã bị bôi đi bôi lại nhiều lần nhưng cuối cùng ông lại viết chồng lên, nắn nót, tô đậm lên, to và rõ. Rồi khoanh tròn nó lại. Mệt mỏi, ông ngồi phịch xuống sàn nhà, hai tay ôm đầu rên rỉ. Lại nghe giọng bà văng vẳng bên tai: “Em ấy à, good lắm! Thử gởi cho em một chiếc que tăm và một viên cuội nhỏ, em sẽ bẫy trái đất lật ngược lại, tụi mình đứng bên nhau cho xem. ..”

 

Xấu hổ khi thấy rõ bản thân mình, khi nghĩ tới tấm chân tình của bà, ông muốn gào to lên cho trút hết nỗi niềm.

 

Trời ơi đất hỡi! Ông không thể phủ nhận điều sâu kín từ trái tim ông, rằng ông yêu bà, yêu bà tha thiết. Cả đời ông chỉ có yêu bà thôi mà!

 

Cẩm Tú Cầu ơi, anh yêu em vô cùng. Em có biết không em?

 

– Trương Thị Kim Chi




Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.