Hôm nay,  

Năm hết Tết đến

14/01/202313:14:00(Xem: 4175)
Tùy bút

year_2023


Tháng mười hai ở xứ này cũng giống tháp chạp ở xứ mình, tháng này vào mùa lễ, mùa hưởng thụ, nghỉ ngơi, thăm viếng, sum họp… Mùa lễ bắt đầu từ lễ Tạ Ơn kéo dài cho đến tết tây, nhà cửa, phố xá trang hoàng đèn hoa rực rỡ. Người người tấp nập mua sắm, đi chơi. Nhà nhà sum họp, gặp mặt, tiệc tùng…

Thời gian lặng lẽ trôi qua không nhanh không chậm, không nghinh không tiễn, không cũ không mới, không phụ thuộc tâm lý chủ quan của con người. Con người nhìn thời gian bằng cái tâm vọng tưởng của mình nên mới có năm cùng tháng tận, năm hết tết đến. Thời gian vốn vô thủy vô chung, chẳng có xưa nay, càng không có năm tháng ngày giờ. Những khái niệm ấy là do con người chế ra chứ bản thân thời gian làm gì có. Chúng ta đến rồi đi, sanh tử luân hồi bất tận chứ thời gian vẫn vĩnh viễn vô biên tế. Chúng ta loay hoay lo cơm áo gạo tiền quanh năm suốt tháng để rồi một ngày nhìn lại thì than: “Thời gian qua nhanh quá, ta đã già, thời gian chẳng còn bao lâu nữa đâu”. Chúng ta mãi tranh nhau chỗ trú ngụ, miếng ăn thức uống, duy trì dòng giống để rồi một mai kia chỉ còn nhúm tro trong hũ cốt hay nắm đất dưới huyệt mộ tối đen. Chúng ta ra sức tận lực tranh đoạt mà bất chấp tất cả và kết cục như thế thì liệu có đáng chăng?

 

Nhiều người trong chúng ta vẫn thường than: Năm cùng tháng tận, năm hết tết đến… mà bao nhiêu việc chưa xong, hoặc là thời gian quá eo hẹp, mọi thứ còn dở dang. Thật sự thì thời gian chẳng có nhanh chậm, chẳng có gấp hưỡn, chẳng bắt đầu cũng chẳng kết thúc. Tất cả là do cái tâm của chúng ta sai xử. Chúng ta quá tham lam, quá ôm đồm đấy thôi! Chúng ta muốn mà không biết đủ, người thì mưu sự công cao cái thế, kẻ thì cầu danh vọng để đời hoặc lưu hậu thế, thấp hơn chút nữa là mưu sự giàu sang, tích lũy của cải, đất đai mà không bao giờ biết đủ, biết dừng, dồn hết công sức, tâm lực và thời gian để mưu cầu mà quên đi hạnh phúc chính phút giây hiện tiền tại nơi này. Nhà Phật gọi là “Hiện pháp lạc trú”.

 

Văn học phương tây có câu chuyện anh chàng tham lam muốn sở hữu thật nhiều đất đai, vị vua trị vì thông cảm và cho phép anh ta: “Từ bình minh cho đến khi trời tắt nắng, người chạy được đến đâu thì phần đất ấy sẽ thuộc về ngươi”, thế là anh chàng cắm đầu cắm cổ chạy, chạy quên cả uống nước ăn cơm, mệt cũng quên nghỉ để thở. Anh ta chạy từ bình minh cho đến giữa trưa và rồi đến tận xế chiều vẫn chưa chịu nghỉ. Anh ta cố chạy thêm nữa để tranh thủ thêm đất trước khi mặt trời lặn. Anh ta cố lê đôi chân rã rời, thân người rũ rượi để chạy thêm những bước cuối cùng trước khi mặt trời tắt nắng, cuối cùng anh ta gục ngã, thế là bao nhiêu đất đai, bao nhiêu công sức của anh ta hóa thành hư vô. Đất đai lại thuộc về đất đai, thời gian vẫn còn mãi đó, chỉ có anh chàng mê muội mà quên thân mình. Phần nhiều chúng ta cũng đều giống anh chàng mê này. Chúng ta quên thời gian vì tranh thủ tranh đoạt, chiếm lấy, sở hữu những thứ không thuộc về mình, duy cái hạnh phúc thực tại của mình thì lại bỏ quên.

Thời gian, ngươi là chủ tể thành tựu mọi thứ nhưng cũmg chính ngươi hủy diệt đi tất cả. Không có thứ gì có thể tồn tại mãi với thời gian. Cái ý niệm tồn tại vĩnh viễn, muôn đời, muôn năm là vọng tưởng của con người. Nhà Phật gọi thế gian này vô thường, mọi vật, mọi việc, mọi thứ thay đổi liên miên trong từng phút giây. Thời gian vô thủy vô chung, không đến không đi, không thêm không bớt, không ngắn không dài, không nhanh không chậm. Thế gian thì vô thường, tâm con người tràn đầy vọng tưởng. Bởi thế xưa nay bạo chúa tham lam cứ gây chiến để chiếm đất lập đế quốc, tàn sát để cướp của cướp đất, xây lăng mộ to lớn để dòng họ trường trị muôn năm, nhưng rồi thời gian bào mòn đi tất cả, “Quốc phá sơn hà tại” – Thơ Đường. Những đế quốc xưa giờ chỉ còn cái danh từ trong sách vở, lăng mộ bị trộm mộ đào, chính phủ đời sau khai quật. Thời cổ đại, trung đại việc gây chiến chiếm đất lập đế quốc còn có thể hiểu được. Thời đại hôm nay khoa học kỹ nghệ cao độ, đất đai không còn là vấn đề thiết yếu của sự hùng mạnh. Ấy vậy mà bạo chúa Putin sống trong hoang tưởng gây chiến tranh để chiếm đất lập đế quốc. Cuộc chiến tàn bạo và dã man đã tàn phá đất nước Ukraine, tàn sát người dân Ukrainian. Để trả thù sự kháng cự ngoan cường của họ, y hạ lệnh công kích không chừa mục tiêu nào, dù đó là nhà thờ, nhà trường, nhà thương, nhà đèn, nhà trẻ, nhà bảo tàng, shopping, cầu cống, đường xá… Tội ác của y ngập trời, bàn tay y đẫm máu đỏ, cái màu tiêu biểu của những lá cờ Cộng Sản. Đế quốc Nga không thể tái lập được, dã tâm và mộng tưởng của y không thành, thời gian đang trôi qua nhưng tội ác của y sẽ còn với tháng năm. Loài người còn thì ngôn từ văn tự còn ghi chép tội ác của y, kể cả tội ác của những kẻ hùa theo y.

 

Bên tây thế, bên đông còn tệ hơn. Tập xếnh xáng cũng hoang tưởng muốn khôi phục đế quốc Hán, muốn làm Hồng Tập đế. Y hung hãn hiếu chiến chiếm lấy biển đông của các nước Đông Nam Á, lân đất biên giới của các nước xung quanh. Y dùng chính sách cho vay để gài những chính phủ tham nhũng, sau đó buộc họ phải lập nhượng địa, giao không cảng biển, phi trường, hầm mỏ... Y đề ra “Nhất Đới Nhất Lộ” hòng thống trị cả thế giới. Tiếc là y không nhìn lại Hán đế, Đường đế, Tống đế, Minh đế… giờ ở nơi nào? Y cũng quên rằng chính chủ nghĩa cộng sản đã hủy diệt tất cả di sản văn vật của những triều đại ấy, giờ y lại muốn tái lập. Lòng tham, sự tàn độc của y quả thật cũng vô cùng tận như dòng thời gian.

 

Năm hết tết đến là cách nói của dân gian, là tâm lý huyễn mộng của chúng ta, làm gì có hết hay cùng! Hôm qua còn có hôm qua nữa, ngày mai còn có ngày mai nữa, quá khứ vô thủy vị lai vô chung kia mà!  Chẳng còn chẳng hết, chẳng đến chẳng đi, chẳng thừa chẳng thiếu… Các nhà văn, các nhà khoa học đưa ra thuyết đường hầm ánh sáng, xuyên không... nghĩa là con người có thể trở về quá khứ vô cùng tận hoặc đến tương lai vô giới hạn chỉ trong nháy mắt. Điều này rất gần với quan điểm Phật giáo là thời gian và không gian không thật, đó chỉ là từ một niệm tâm:

 

Thập phương hư không bất ly đương xứ

Cổ kim tam thế bất ly đương niệm.

 

Nghĩa là mười phương trời đất vô biên không rời một điểm hiện tại, quá khứ và tương lai vô cùng tận cũng không rời một ý niệm ngay hiện tiền. Thiền môn có câu chuyện kể rằng: Có người nằm mộng thấy mình chu du khắp Ta Bà thế giới, lên cõi thiên đường, xuống cả địa ngục. Đi về quá khứ gặp hết tổ tiên xa xưa, đến tương lại gặp vô số con cháu sau này, nhưng khi mở mắt ra thì thấy lưng mình không rời chiếu một ly, thời gian nằm mơ chỉ trong chốc lát. Thì ra cả thời gian và không gian không ngoài một niệm tâm. Cả mười phương lẫn ba thời đều do một niệm tâm biến hiện ra.

 

Nho gia bên Tàu cũng có câu chuyện “Giấc mộng hoàng kê” ý nghĩa cũng gần như thế. Chuyện kể anh học trò nghèo từ quê lên tỉnh đi thi, trên đường đi ghé vào quán trọ và nấu một nồi kê. Trong lúc chờ kê chín anh ta ngủ thiếp đi, trong giấc mơ thấy mình đậu trạng nguyên, cưới công chúa, làm quan to, công cao cái thế lẫy lừng. Thế rồi bị nịnh thần xàm tấu dèm pha nên bị biếm truất, suốt mấy chục năm trường lên voi xuống chó như thế, khi anh ta giật mình thức giấc thì nồi cháo kê còn đương sôi chưa chín. Rõ ràng thời gian và không gian không rời một điểm và giây phút hiện tại, một ý niệm sanh ra cả thời và không.

 

Sự thật là thế, chơn đế là vậy, cái nhìn như thị (look as is). Tiếc rằng chúng ta không thể hoặc chưa đủ sức để nhìn mọi sự như chúng là, Chúng ta vẫn nói và vẫn nhìn thấy năm cùng tháng tận, năm hết tết đến, đời mà!

 

Tháng mười hai tây hay tháng chạp ta, tết tây hay tết ta đều đang trên đường đến. Mọi người rộn ràng và hân hoan chờ đợi. Người Việt xứ này được (hay bị) ăn hai cái tết luôn. Tết tây bên này xong còn phải có chút gì cho gia đình mình ở quê ăn tết ta, chỉ có những người may mắn cả gia đình sum họp ở hải ngoại thì mới không còn bận chuyện tết ta.

Năm hết tết đến, công việc hãng xưởng cũng gấp rút, chợ búa shopping tấp nập người mua sắm, đường xá xe cộ ngược xuôi. Thời gian không gian dẫu không thật nhưng chúng ta cũng đang tận hưởng những phút giây hạnh phút hiện tại ở nơi này, chính tại phút giây này.

 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 1/2023)

Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.