Hôm nay,  

Con mèo con mẻo con meo

21/01/202310:11:00(Xem: 4960)
Tạp bút ngày Xuân

Meo-Fumika Koda
Chờ đợi mùa Xuân -- Tranh Fumika Koda.



Năm Nhâm Dần sắp hết, năm Quý Mão đã lấp ló bên hiên nhà. Trong cái lạnh thấu xương của những ngày cuối đông, mọi người bỗng thấy thời gian qua mau. Mặc cho Ông Hổ gặm mối căm hờn trong cũi sắt, con thú cưng của nhiều gia đình cứ nhởn nhơ đi lại trong nhà. Nó còn bạo gan đi vào ca dao:

 

Con mèo mà trèo cây cau

Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà

Chú chuột đi chợ đàng xa

Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo.

 

Chuột đâu có làm tổ trên cây cau mà mèo trèo lên làm gì? Mà làm giỗ sao lại mua mắm muối? Dù có nhiều cách giải thích khác nhau, ta nên xem đây chỉ là một bài đồng dao thuần tuý, trước hết nhằm củng cố cho trẻ em những hiểu biết thường thức từ gần đến xa, từ cụ thể đến trừu tượng, trong bước đầu các cháu làm quen với sự vật hiện tượng tự nhiên và xã hội xung quanh mình.

 

Con vật trong nhà đó lại rủ rê nhau đột nhập cả kho tàng tục ngữ, thành ngữ, ca dao khác:

 

-- Chó giữ nhà, mèo bắt chuột: ai cũng có nghề nghiệp chuyên môn của mình, đừng tị nạnh nhau, đừng can thiệp vào công việc của nhau.

 

-- Chó treo, mèo đậy: Thức ăn treo cao để tránh chó ăn, đậy kỹ không để mèo lục, ý khuyên cảnh giác cửa nẻo phòng trộm cắp.

-- Chẳng biết mèo nào cắn mỉu nào: nghĩa bóng nói mỗi người đều có sở trường riêng, chưa chắc ai đã hơn ai.

-- Chửi chó mắng mèo: tức giận, mắng chửi vu vơ.

-- Giấu như mèo giấu cứt: chê người giấu giếm thứ gì, điều gì quá kỹ.

-- Không có chó bắt mèo ăn cứt: phải dùng một người không đúng khả năng, sở trường của người ta.

-- Mèo ốm bắt chuột cống: chỉ người tuổi trẻ tài cao, làm được những việc mà người lớn làm không nổi.

-- Mèo mù vớ cá rán: vận may bất ngờ đến với kẻ đang túng quẫn.

-- Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang: một quan niệm mê tín thời xưa còn truyền lại.

-- Mèo già hoá cáo: người già sống lâu đúc kết nhiều kinh nghiệm quý báu, người mới đầu làm việc gì thì rụt rè, nhút nhát nhưng lâu năm thì tinh ma, ranh mãnh.

-- Mèo khen mèo dài đuôi: tự đề cao, khen ngợi.

-- Mèo mả, gà đồng: hạng người vô lại, trai trộm cắp, gái lăng loàn.

-- Mỡ để miệng mèo: đặt trước mặt người ta thứ mà người ta đang thèm.

-- Như mèo thấy mỡ: giễu người tỏ vẻ hăm hở trước thứ đang thèm muốn.

-- Tiu nghỉu như mèo cắt tai: thất vọng, buồn rầu không muốn nói năng, không muốn làm gì.

-- Lèo nhèo như mèo vật đống rơm: nói dai, nói đi nói lại để van xin.

-- Hùm mất hươu hơn mèo mất thịt: càng mất quyền lợi địa vị cao càng đau khổ hơn người ở địa vị thấp.

-- Im ỉm như mèo ăn vụng: ám chỉ những kẻ cố tình che giấu tôi lỗi của mình, cố im lặng tuyệt đối, hoặc những kẻ hễ thấy lợi là giấu diếm hưởng một mình, không cho ai hay biết.

-- Chuột cắn dây buộc mèo: làm ơn cho kẻ có thể hại mình.

-- Con mèo con mẻo con meo / Muốn ăn thịt chuột phải leo xà nhà: muốn ăn thì phải làm.

-- Mèo lại hoàn mèo: bản chất thế nào thì vẫn thế ấy, khó thay đổi.

-- Mèo nằm xó bếp: chỉ kẻ lười biếng.

-- Rình như mèo rình chuột: ngồi rình một cách chăm chú, kiên nhẫn.

-- Chó chê mèo lắm lông: mình cũng xấu kém lại chê người khác xấu kém.

-- Mèo già khóc chuột: chỉ kẻ đạo đức giả.

-- Con mèo con chó có lông / Cây tre có mắt nồi đồng có quai: Câu ca dao nghe qua tưởng là giản dị vì đã nói lên những chuyên đương nhiên, ai cũng hiểu, ai cũng biết. Mèo chó có lông, tre có mắt, nhưng nồi đồng có quai thì đâu có phải là đương nhiên. Thử tìm hiểu thêm thì mới vỡ lẽ: Quảng Nam Phú Tập Ký Sự của Mai Thị do Lê Đăng Hiển sao lục đời Minh Mạng có ghi việc Ông Bùi Tá Hán, đô tướng Quảng Nam dinh ( tức vùng đất bao gồm Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và một phần của Phú Yên hiện nay) dạy dân Quảng Nam cách sinh hoạt thường ngày như xây nhà ba gian tám cột, đào giếng, khuyên phụ nữ thôi mặc quần không đáy mà mặc quần có ống như nam giới, phải làm nồi đồng có quai ở cổ để tiện việc bưng lên bưng xuống.   Nguồn gốc sâu xa là vậy nên hiểu đúng câu ca dao này cũng thật nhiêu khê.

 

Mỏi mệt với kho tàng văn học dân gian, mèo tìm chút thoải mái hơn với thơ, trước hết là thơ cho trẻ em.

 

Mèo con đi học:

 

Hôm nay trời nắng chang chang

Mèo con đi học chẳng mang thứ gì

Chỉ mang một cái bút chì

Và mang một mẩu bánh mì con con.

(Thơ Phan Thị Vàng Anh, đã đưa vào sách lớp 1).

 

Chú mèo mướp:

 

Chú mèo mướp

Thích leo trèo

Trèo không khéo

Nên nằm khoeo!

(Thơ Phạm Văn Tịnh, đã đưa vào sách lớp 2).

 

Mèo đi lạc đến miền quá khứ -- Gặp Hàn nho phong vị phú của Nguyễn Công Trứ:

 

Bóng nắng dọi trứng gà trên vách, thằng bé tri trô

Hạt mưa soi hang chuột trong nhà, con mèo ngấp ngó.

 

Rồi Nguyễn Trãi với Quốc Âm Thi Tập và bài MIÊU:

 

Lọ vằn sinh lạ mãi phương Tây

Phụng sự Như Lai trộm phép thầy

Hơn chó được ngồi khi mặt bếp

Tiếc hùm chẳng bảo chuốc leo cây.

Đi: nào kẻ cấm buồng the kín

Ăn: đợi ai làm bàn soạn đầy

Khó liền say chẳng nỡ phụ

Nhân chưng giận chuột phải nuôi mày.

 

Mèo lại đi nữa và diện kiến Cử Trị với Vịnh con mèo:

 

Mấy từng đài các sải chân leo

Nhảy lẹ chi hơn bằng giống mèo

Vuốt nanh đã có vàng khoe sắc

Vằn vện đành không bụi đóng meo

Trăm tuổi hồn dần về chín suối

Nắm lông để lại giúp trò nghèo.

 

Chừng như không hiểu thấu thơ cổ, Mèo tìm đến thơ hiện đại. Đây rồi, ông thầy dạy triết làm thơ:

 

Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm

Như con mèo ngái ngủ trên tay anh

Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình

Để anh giận sao chẳng là nước biển.

(Nguyên Sa).

 

Đi nữa, Mèo gặp Đoàn Văn Cừ:

 

Ông lão nằm chơi ở giữa sân

Tàu cau lấp lánh ánh trăng ngần

Thằng cu đứng vịn bên thành chõng

Ngắm bóng con mèo quyện dưới chân.

 

Rồi tới Hoàng Nhuận Cầm:

 

Ta đã đi như mèo trên phố vắng

Gọi tên con như gọi các thiên thần

Có một nốt chưa bao giờ con biết tới

Là nốt buồn cha đã nuốt thay con.

 

Và còn Đoàn Mạnh Phương nữa:

 

Chuột đuổi nhau trên căn gác cũ

Mắt mèo hoang lấp lánh như sao

Gió như muốn gọi nhau thành bão

Chém vào đêm những nhát ngọt ngào

 

*

 

Cái tính ưa đi hoang nên Mèo muốn đi xa nữa. Thôi ráng chiều vậy. Mời sang đất nước hình lục lăng đọc lại truyện cổ của Charles Perrault (1628-1703), Le Chat Botté, tức là Con mèo đi hia:

 

Câu chuyện bắt đầu với việc một bác thợ săn già qua đời và để lại gia tài là một cối xay gió, một con lừa và một con mèo cho ba người con trai. Người con trai cả giành lấy cối xay gió, người anh hai có được con lừa, còn phần của người em út là con mèo. Nhưng đó không phải là một con mèo bình thường, nó biết nói, yêu cầu chàng út cho nó một đôi hia và đã được đáp ứng. Nhất quyết muốn cho chủ mình được giàu sang, mèo đã dùng mưu bẫy được một con thỏ trong rừng rồi đem đến biếu nhà vua coi như một món quà đến từ chủ của mình, hầu tước xứ Carabas,một tước hiệu do mèo đặt ra. Ngày lại ngày, mèo đi săn và nuôi sống được chủ của mình. Bên cạnh đó nó còn đem dâng nhà vua những con mồi săn được, lúc thì một cặp gà gô, khi thì một con thỏ béo tốt, cứ thế trong vòng vài tháng.

 

Một hôm, khi thấy đã đến lúc, mèo đi hia thuyết phục chủ mình đi ra bờ sông tắm khi biết nhà vua và công chúa sắp đi qua đây. Thực vậy, một lát sau xe của đức vua đến, mèo nói với nhà vua là chủ nhân của mình, hầu tước xứ Carabas, bị trộm mất quần áo khi đang tắm, thực ra mèo đã giấu quần áo của chàng sau tảng đá. Nhà vua nghe vậy, truyền cho người hầu lấy một trong số những bộ quần áo của mình cho chàng mặc và đưa chàng ngồi chung xe. Khoác lên mình bộ quần áo của nhà vua, chàng út trông chẳng khác gì một nhà quý tộc khôi ngô và lập tức lọt vào mắt xanh của công chúa.

 

Con mèo đã chạy nhanh về phía trước theo con đường mà xe nhà vua sắp đi qua. Trên đường, gặp bất cứ người nông dân nào đang gặt lúa hay đang chăn gia súc, đốn củi, mèo yêu cầu những người đó nói với nhà vua rằng mảnh đất này thuộc về hầu tước xứ Carabas, nếu không họ sẽ gặp hoạ. Tiếp đó, mèo chạy đến một toà lâu đài lộng lẫy, hơn cả cung điện nhà vua, là nơi ở của một mụ phù thuỷ tàn ác có thể tự biến mình thành các sinh vật khác nhau. Theo lời sai bảo của mèo, phù thuỷ biến thành một con sư tử rồi cuối cùng biến thành một con chuột. Khi đó mèo vồ lây chuột và nhai ngấu nghiến. Khi nhà vua đến toà lâu đài, ngài rất thán phục trước sự giàu sang của hầu tước xứ Carabas và liền gả công chúa cho chàng. Sau đó, mèo đi hia sống cuộc đời hạnh phúc nhưng chỉ bắt chuột như một thú tiêu khiển.

 

Mèo còn muốn phiêu lưu thêm chút nữa. Rời nước Pháp bay tuốt sang Nam Mỹ gặp nhà văn Paolo Coelho. Ông có cuốn sách về sự điên rồ (Veronika quyết định chết) với bài Tầm quan trọng của con mèo trong Thiền định:

 

Một thiền sư vĩ đại của Thiền, người phụ trách tu viện Mayu Kagi, có một con mèo là niềm đam mê của mình trong cuộc sống. Vì vây, trong các lớp thiền, ông thường giữ con mèo bên cạnh để tận dụng tối đa công việc của mình. Một buổi sáng, ông chủ, người đã khá già, qua đời. Đệ tử tốt nhất của ông đã thay thế ông.

 

-- Chúng ta sẽ làm gì với con mèo? Ông hỏi các nhà sư khác.

 

Như một sự tôn vinh ký ức của người hướng dẫn cũ của họ, chủ mới quyết định cho con mèo tiếp tục tham gia các lớp học Thiền.

 

Một số đệ tử từ các tu viện lân cận, đi qua nơi đó, phát hiện ra ràng tại một trong các tu viện nổi tiếng nhất của khu vực, một con mèo đã tham gia vào các buổi thiền. Câu chuyện bắt đầu lan truyền.

 

Nhiều năm trôi qua và các chuyên luận kỹ thuật bắt đầu xuất hiện về tầm quan trọng của mèo trong Thiền định. Một giáo sư đại học đã phát triển một luận án, được cộng đồng học thuật chấp nhận, rằng một con mèo có khả năng tăng sự tập trung của con người và loại bỏ lượng tiêu cực. Và, vì vậy, trong cả một thế kỷ, con mèo được coi là một phần thiết yếu của nghiên cứu Phật giáo ở khu vực đó.

 

Cho đến khi một bậc thầy xuất hiện, người bị dị ứng với lông động vật, đã quyết định bỏ con mèo khỏi các bài tập của mình với các sinh viên.

 

Có một phản ứng dữ dội nhưng ông chủ mới nhấn mạnh, vì ông là một người hướng dẫn xuất sắc, các sinh viên tiếp tục đạt được tiến bộ tương tự, bất chấp sự vắng mặt của con mèo.

 

Dần dần, các tu viện -- luôn tìm kiếm những ý tưởng mới và đã mệt mỏi vì phải nuôi rất nhiều mèo, bắt đầu loại bỏ các động vật khỏi các lớp học. Trong hai mươi năm, những lý thuyết cách mạng mới bắt đầu xuất hiện -- với những tiêu đề rất thuyết phục như ra mắt Tầm quan trọng của việc Thiền định mà không cần mèo, hay Cân bằng vũ trụ Thiền bởi Will Power Alone, Không có sự giúp đỡ của Động vật.

 

Một thế kỷ nữa trôi qua, và con mèo đã rút hoàn toàn khỏi các nghi thức Thiền định trong khu vực đó. Nhưng hai trăm năm là cần thiết để mọi thứ trở lại bình thường, bởi vì trong suốt thời gian này, không ai hỏi tại sao con mèo lại ở đó.

 

*

 

Mèo của chúng ta còn muốn đi nữa. Lần này sang Bắc Mỹ gặp Nhà văn Edgar Allen Poe, với truyện Con mèo đen (The Black Cat).

 

Truyện là lời thú tội của nhân vật xưng Tôi. Tôi muốn kể lại câu chuyện của cuộc đời mình xoay quanh “ con mèo đen “. Thuở nhỏ, anh ta vốn là cậu bé nhút nhát, nhân hậu, yêu thú vật. Khi lớn lên, anh ta uống rượu rồi dần dần trở nên hung bạo hành hạ thú vật và đánh đập vợ.

 

Tôi khoét mắt, treo cổ con mèo đen tên Pluto, vốn là vật nuôi trước đây anh ta rất yêu quý.Hoả hoạn xảy ra, trên bức tường cháy loang lỗ hiện ra gương mặt con mèo khổng lồ và nút dây thắt cổ. Tôi hối hận và tìm kiếm con mèo trong các quán rượu.

 

Một hôm, anh ta tìm được một con mèo đen giống hệt Pluto, cũng bị khoét mắt nhưng nó có một đốm trắng ở cổ. Anh ta đem con mèo về nuôi và hứa sẽ yêu quý nó. Nhưng khi say rượu, anh lại chán ghét con mèo.

 

Một hôm khác, trên đường xuống hầm, bị con mèo quấn chân, anh ta định giết con mèo nhưng bị người vợ cản lại, nhân vật Tôi đã giết vợ và chôn xác sau bức tường trong hầm. Bốn ngày sau, cảnh sát đến điều tra. Anh vô cùng tự tin dẫn cảnh sát xuống hầm và gõ vào bức tường mới xây để chứng minh vô tội, thì có tiếng mèo kêu. Thì ra lúc chôn xác vợ, anh đã chôn luôn con mèo vào đó.

 

*

 

Mèo của chúng ta rùng mình trước câu chuyện có phần kinh dị. Hơn nữa,cuộc phiêu lưu đã khá lâu, từ lúc đi ra khỏi hang chuột nên nó quyết định trở về để tiếp tục trèo lên cây cau, hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà.

 

Mèo trở về, chuẩn bị nhận bàn giao từ ông ba mươi.

 

Và bạn đọc, nãy giờ theo con mèo đi xa rồi, cũng về đi, chuẩn bị cúng giao thừa, đón năm mới.

 

-- Thân Trọng Sơn

(Xuân Quý Mão)

Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.