Hôm nay,  

Tình yêu

25/01/202309:30:00(Xem: 5233)

Tản mạn


couple-in-love 


Mùa xuân đang trở lại, mùa xuân mang lại một thay đổi của đất trời và của cả lòng người. Khi xưa, nhà thơ Trần Tế Xương, trong dịp đầu xuân mừng năm mới, ông viết:

 

Xuân về chớ để xuân đi, thương kẻ quạt nồng cùng ấm lạnh, (viết cho bà Tú)

Tết mới khác gì tết cũ, vẫn người bán chữ với buôn văn. (Viết cho chính ông).

 

Ông Tú Xương quanh năm ngao du sơn thủy, mà khi năm cùng tháng tận, tết đến, ông còn biết trở về, nhớ và trở về với tình yêu của ông. Chúng ta cũng bắt chước nhà thơ tìm về tình yêu, cảm nhận tình yêu khi mùa xuân đến xem thử yêu đương dào dạt đến độ nào.

 

Nói bâng quơ là vậy, mà giờ đặt bút trên giấy, bản thân tôi giật mình vì với đề tài này, nó rộng rãi bao la quá, mà mình chưa biết nên bắt đầu ở chỗ nào. Hay là ta đọc thơ Xuân Diệu:

 

Một bận em ngồi xa anh quá

Bảo em ngồi xích lại gần hơn

Xích lại gần thêm một chút anh hơn

Ngoan ngoãn xích gần thêm chút nữa…

 

Anh sắp giận, em mỉm cười vội vã

Đến gần anh và mơn trớn em đây

Anh vui liền nhưng bỗng lại buồn ngay

Vì anh nghĩ thế vẫn còn xa lắm…

 

Có một lần tôi coi và nghe Ý Lan biễu diễn bài “Xa cách“ trên đây quá hay, nguời ca sĩ hát và trình bầy xúc cảm rất tuyệt vời. Bạn cứ nghe thử coi, cái “yêu“ của Xuân Diệu nó linh động và sâu lắng đến nỗi ta chỉ cần cảm mà chưa cần hiểu đã thấy đó là tình yêu.

 

Và ta hãy nghe Xuân Diệu định nghĩa tình yêu :

 

Làm sao cắt nghĩa được tình yêu

Có nghĩa gì đâu được buổi chiều

Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt

Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu

 

Rồi một ngày mai tôi sẽ đi,

Vì sao ai nỡ hỏi làm chi ?

Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá

Chỉ biết yêu thôi, chẳng biết gì…

 

Yêu là chết ở trong lòng một ít,

Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu.

 

Bạn đừng tưởng Ông thi sĩ chỉ mộng mơ, vơ vẩn trên mây, ông khéo nhìn xa và sợ không được đền đáp… vì sợ xa cách mà ông tưởng tượng ra ngàn lối mở và viết ra cả một trời thơ:

 

Thơ ta hơ hớ chưa chồng

Ta yêu muốn cười mà không thì giờ

Mùa thi sắp tới em thơ

Cái hôn âu yếm xin chờ năm sau“

 

Thưa ngài thi sĩ, yêu là yêu, là vướng mắc, yêu là yêu không bờ bến rồi, là cho đi tình cảm, cho đi những xúc động nồng nàn, nào ai có thì giờ so bì phút đầu tiên ấy, là có được hay không được đền bù hay không? Lãng mạn là sóng tràn bờ và không so đo tính toán.

 

Thông thường, người ta chuộng tình yêu thuần hậu, có cho có nhận. Thế gian muốn cân bằng. Hạnh phúc là từ cảm nhận của hai bên trao qua gửi lại. Thế thôi quá đủ. Còn như có nên duyên vợ chồng hay không, là tùy thuộc ông tơ bà nguyệt nhớ hay quên buộc sợi chỉ hồng.

 

Có nên vợ nên chồng hay không, cảnh đời nhiều chuyện rắc rối phức tạp, dễ nhớ, dễ quên. Nhưng mà tình yêu đúng nghĩa và bền bỉ thì sống mãi trong tâm tưởng con người. Cho nên có người nói tình yêu sinh ra và không mất đi. Như tình yêu trong nghịch cảnh của Rodrigue và Chimelle trong kịch bản Le Cid của Corneille như tình yêu đầy phong vị hy sinh của Aung San Suu Kyi và chồng là Michael Aris. Họ đã luôn nghĩ tới nhau dù xa nhau trên 20 năm. Bà ở lại quê hương, luôn tưởng nhớ dù không gặp lại ông cho tới ngày ông mất vì bạo bệnh.

 

Tình yêu gặp thuận cảnh và bao nhiêu cụ ông cụ bà đã sum họp bên nhau tới già. Các cụ luôn luôn người nọ biết lo và nghĩ về người sống bên cạnh mình, đúng như một nhà tâm lý đã nói: “Hôn nhân là cái chăn vừa đủ để đắp chung mà một người trong hai, trước khi kéo chăn về phần mình luôn kiểm soát xem bạn mình đã đủ ấm chưa.“ Cái chăn ấm đó mới thực sự là tình yêu đôi lứa.

 

Bạn thân, mình có người bạn gái rất thân, chị mình thì đúng hơn, chị X, con nhà bác, chị học giỏi, nữ công, nữ hạnh, đoan trang gồm đủ, tên trên giấy tờ của chị là Nguyễn Thị Đoan Trang. Khoảng năm 1960, chị vừa 18 tuổi. Chị có người yêu, một anh chàng tuấn tú có chức vụ trong quân đội, anh đẹp người, tính tình ôn hòa lẫn cương nghị. Cuộc tình của chị Trang với anh đẹp như một bài thơ, không suy tính không so đo và lớn lên ở tuổi mộng mơ. Chị hồn nhiên chép cho anh bao nhiêu là trang thơ của T.T.K.H, và anh, anh cũng nhiều lần đọc cho bạn nghe những vần thơ âu yếm của Nguyên Sa.

 

Không có anh

Ai cầm tay cho đỏ má hồng em

Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc

Không có anh lỡ một mai em khóc

Ánh thu buồn trong mắt sẽ hao đi…

Tóc sẽ dài thêm mớ tóc buồn thơ

Không có anh thì ai ve vuốt

Không có anh lấy ai cười trong mắt

Ai ngồi nghe em nói chuyện thu phong?

 

Cứ thế tình yêu trôi qua êm như nhung đẹp như lụa mượt mà. Vậy mà rồi hoàn cảnh không cho phép đi xa hơn, cũng đành, cho là những năm 1965-1970 chiến tranh ở Việt Nam ngày càng thô bạo. Anh T đi liên miên biền biệt vào chiến trường. Chị tôi vẫn đi học, phụ gia đình bán buôn, mỗi ngày chị vẫn trông chờ những lá thư anh gửi về. May mắn cho họ là chưa có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra do binh lửa. Anh vẫn an toàn đứng vững giữa vùng bom đạn giăng giăng như những hàng kẽm gai xô lệch ngoài chiến hào.

 

Nhưng những tin tức đưa về từ mặt trận, những điệu ca lời hát:

 

Tôi có người yêu vừa chết đêm qua, chết không hẹn hò, chết không hận thù, chết thật tình cờ, nằm chết như mơ…

 

Tất cả đấy, những bài ca, những tác động tâm lý của âm nhạc, của cuộc chiến làm người ta hoảng loạn, khi âm thầm, khi mạnh mẽ. Cho đến một ngày, bà mẹ khuyên con gái là, xưa nay chinh chiến mấy ai về, bà thương con bà nói con là hãy quên đi người lính chiến, mặc dù anh là lính đa tình, tình non sông đất nước… gì gì đó, cũng không bằng yên thân hơn là lấy một ông thầy giáo cho yên tâm bà.

 

Trước mắt là vậy, còn anh T, anh dù không về được thành phố, có lẽ anh cũng đã cảm nhận:

 

Thôi em xanh mắt bồ câu

Vàng thau sợi nhỏ xin chờ kiếp sau.

(Cung Trầm Tưởng)

 

Chị Trang cũng qua rất nhiều trằn trọc suy nghĩ khóc thầm. Cuối cùng chị đành thuận theo ý gia đình. Trời thương, chị vẫn sống ở đó với chồng, con nhưng rồi hằng đêm, đêm khuya, vừa ru con ngủ, chị vừa chú ý lắng nghe tiếng đại bác xa xa vọng về. Chị vừa âm thầm cầu nguyện bình an vô sự cho người chị đã yêu.

 

Đó chỉ là tự nhiên, vì tình yêu và tình thân ái nhân ái hòa trộn, lẫn lộn trong những tâm hồn cao thượng thích giữ kỷ niệm lâu bền.

 

Rồi, cũng có một lần chiến tranh dữ dội tràn về thành phố. Chị mang con chạy loạn. Trong lúc bối rối loạn ly trên đường bế con chạy giặc chị gặp lại người xưa. Họ cùng thoáng qua một chút ngỡ ngàng, rồi mừng rỡ, chị đỏ bừng đôi má dù trời rất lạnh. Thằng cu tí, con chị, đói, đòi sữa khóc vang. Anh lăng xăng giúp chị, đỡ giùm cái giỏ xách nặng nề, rồi mang bình sữa nóng của cu Tí chạy đi ngâm vô bồn nước lạnh cho nguội cho lẹ cho bé bú. Cu Tí càng la to, anh càng khoắng sâu cái bình sữa làm rơi đâu mất cắi nắp đậy. Hình như có vài giọt nước thấm vô núm vú bình nên sau đó con chị bị đau bụng ít ngày.

 

Sau này, nhớ đến chuyện di tản. Chị tôi vừa mỉm cười, rồi lặng người hình dung về cử chỉ lúng túng của anh T. Chị vẫn kể rằng, lúc chia tay, anh đứng yên nhìn theo mẹ con chị rất lâu.

 

Kỷ niệm khó quên và tình yêu khó phai, làm vơi đi nhiều tình huống gian nan, khốn khó trong cuộc sống. Bây giờ họ ở rất xa nhau hầu như không còn gặp lại. Chị tâm sự nhiều lần tình huống gian nan, khốn khó trong cuộc sống. Chị tâm sự nhiều lần tình yêu sinh ra thì không khi nào mất đi dù nó nhiều mơ mộng. Con người hằng ngày sống bằng thực tế ít ai sống cả bằng mơ mộng, nhưng mơ mộng và yêu đương bao giờ cũng là món trang sức diễm lệ làm dáng cho cuộc đời, vì cuộc đời ai cũng ca thán buồn nhiều hơn vui. Không có tình yêu, chúng ta nghèo nàn lắm!

 

Ngặt là thời buổi hôm nay, nhiều cuộc tình không bình thường ập đến. Những người trẻ tuổi họ đến với nhau đôi khi không vì cảm xúc, mà vì muốn có tiền, muốn thay đổi hoàn cảnh sống, muốn được ra khỏi xã hội Việt Nam. Nguyên nhân nội tại thì ai cũng thấy là đạo đức và lòng nhân ái thoái hóa. Tình yêu mất dần ý nghĩa, đó là sự mất mát đáng tiếc và uổng phí. Đó là sự mất mát đáng tiếc nhất trong những điều ta đã mất đi.

 

Thử hỏi những cô dâu Việt Nam lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan, lấy chồng xa xứ, dị biệt tập quán ngôn ngữ, dị biệt luôn tình cảm… với tính cách mua bán thêm vào, liệu họ có được yêu thương và yêu thương cho đi đó là bao nhiêu? Tội nghiệp tuổi thanh xuân phải đánh đổi hạnh phúc cá nhân để lấy một số tiền, lấy một cuộc sống trong giai đoạn, không được đảm bảo vô lường nguy nan.

 

Người xưa vẫn nói: Con gái như hạt mưa sa/ Hạt vào đài các, hạt ra giếng sầu! Mọi tệ đoan xuống cấp, hoàn cảnh sống điêu linh tất cả đã triệt tiêu tình yêu của thế hệ trẻ. Tôi có một đứa con gái, nếu con sa vào đài các, tôi vui được một tháng, một năm. Còn ngược lại có lẽ buồn tới cuối cuộc đời. Thật ra không hẳn là tất cả. Nhưng đa số người trẻ không tìm thấy hạnh phúc ở đâu. Không biết tình yêu là thiêng liêng, là tự nhiên, là trân quý, nên họ không cần, không lưu luyến. Nhiều khi không cần để ý vì có cần cũng khó đến.

 

Một số em lập gia đình ở các xứ Đông Âu, Tây Âu, Mỹ, Pháp, Đức v.v… cầu mong cho các em có hạnh phúc trong tình yêu tự nhiên.

 

Hạnh phúc trong tình yêu tự nhiên không nghiêng ngả về sự hưởng thụ vật chất và kể cả sự thỏa mãn giới tính.

 

Một cuộc sống buông thả vô độ và đạo đức bỏ quên sẽ làm tình yêu biến chất là một sự đào thải đáng tiếc và nhiều thiệt thòi cần suy nghiệm lại.

 

Xin lỗi là tôi nói nhiều lời quá, nhưng tôi chỉ muốn lưu ý ở một điểm là khi nữ hoàng Cléopâtre muốn bảo vệ vương quốc Ai Cập của bà, bà phải kết hợp với đại đế César, còn khi muốn bảo vệ tình yêu của bà, bà đã sai cung nữ, thị nữ của bà, cùng với bà, ra sức mang được tướng Mac Antoine vào nơi trú ẩn (ngôi mộ) của bà, dù lúc đó đại tướng bị thương nặng và đi lang thang vất vưởng trên các lối đi của hoàng thành là lúc Octave đang mang đại quân đến tấn công Ai Cập với thế lực mạnh hơn vũ bão.

 

Tình yêu Cléopâtre, tình yêu tây phương nóng bỏng nồng cháy, hung hăng. Khác hẳn mối tình đông phương đằm thắm, dịu dàng tự nhiên của một Ando Chie Nhật Bản và ngài Kỳ Ngoại Hầu Cường Để Việt Nam. Ando Chie của xứ hoa anh đào lúc đầu là một cô gái làm tình báo thám báo. Nàng được lệnh theo dõi giám sát Kỳ Ngoại Hầu. Nhưng nhìn mãi nhìn hoài cái dáng dấp trang nhã và cử chỉ trang trọng từ tốn của người trước mặt, bà yêu Kỳ Ngoại Hầu từ lúc nào ngay bà cũng không biết, yêu ông như yêu một người yêu và lâu dần yêu như yêu một người chồng.

 

Còn ông, ông sống lưu vong ở Nhật Bản hàng chục năm trời, ông đợi cụ Phan Bội Châu sang, để cùng kết hợp cùng thực hiện phong trào đông du cứu nước. Đợi hoài. Lần lần bên cạnh Ando Chie, ông đã cảm động trước nghĩa cử ưu ái, sự săn sóc kín đáo dịu dàng của người con gái Nhật và có lần ông hỏi rằng: Ando, mình có phải Phật Bà Quan Âm của tôi?

 

Khi lưu vong ở Nhật, Cường Để mong được về lại Việt Nam. Khi về quê nhà, ông đã để lại một nắm tro tàn cho Ando Chie, bà nắm được một nắm, luồn vào trong tay áo Kimono trước khi trao lại tro cốt cho gia đình ông, mà bằng cảm tính bén nhạy, Ando biết là chồng mình rất vui lòng.

 

Thưa bạn, tình yêu là tự nhiên với những bản sắc tự nó có trong sự thơ mộng và thiêng liêng của bẩm sinh. Chúng ta nuối tiếc những căn bản thuần túy của tình cảm bao nhiêu, chúng ta càng tự hỏi làm sao để làm sống lại những thế hệ rất nhân bản, những thế hệ mà tình yêu là nguyên thủy, nguyên trang và nguyên diễm…

 

-- Chúc Thanh

 

VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.