Hôm nay,  

Trên vùng đất lạ

14/04/202321:29:00(Xem: 5964)
Truyện

sad woman
Mặt đất khô cứng dưới lưng cô. Trong bóng tối, cô không nhìn rõ khuôn mặt của gã. Nhưng cái mùi của gã thì nồng nặc bao trùm lấy cô, một cái mùi tổng hợp của mồ hôi, thuốc lá, gia vị món ăn… khiến cô muốn lộn mửa. Và thân hình to béo của gã đè nặng lên người cô. Cuộc tra tấn thể xác bắt đầu. Cô nhắm mắt lại, nghiến chặt hai hàm răng, thậm chí nín thở. Như thể đang tự đóng mọi giác quan lại. Và cố gắng không suy nghĩ gì hết. Như một cái xác. Cô ước gì mình là một cái xác thật sự, ước gì mình có thể chết đi ngay tức khắc. Nhưng tận sâu thẳm bên trong, cô biết mình không thể chết, không có quyền chết. Một phút, hai phút, năm phút… hay hàng thế kỷ đã trôi qua cho đến khi gã dừng lại, nằm vật qua một bên…
     Cho đến tận bây giờ, dù đã kỳ cọ tắm rửa hàng bao nhiêu lần, cái mùi của gã vẫn bám chặt lấy ký ức cô, cũng như cái cảm giác cơ thể bị vấy bẩn, mãi mãi không bao giờ có thể gột sạch…
 
***
 
     – Alo.
     – …
     – Alo. Có chuyện gì vậy? Sao em không trả lời, sao lại khóc? Em làm anh lo quá.
     – Không, không có gì. Bao giờ anh qua đây?
     – Anh nói rồi, mẹ anh đã khỏe lại, anh có thể yên tâm mà đi, tiền mọi thứ anh cũng đã gom đủ. Sang tuần tới là anh bắt đầu lên đường. Chỉ vài tháng nữa là chúng mình sẽ gặp lại nhau thôi. Hai đứa chịu khó làm ăn, chỉ vài năm là trả hết nợ cho chuyến đi, thêm vài năm nữa là có ít vốn quay trở về Việt Nam lại… Cố gắng lên em.
 
***
 
Người chủ tiệm nails, Hà, phân trần:
     – Em thấy đấy, làm ăn đâu có ai muốn phá sản hay đóng cửa. Nhưng thật sự là giữa mùa dịch này, đối với những người có nhiều vốn thì người ta gồng được, chờ qua dịch mở lại, còn chị thì không nhiều vốn mà lại vừa một cái tiệm Nails, một cái nhà hàng, chịu hết nổi, phải đóng một cái thôi.
     Từng câu từng câu của Hà vang lên lùng bùng trong tai Linh. Hà còn nói nhiều nữa nhưng Linh không nghe gì vì đầu óc cô đã chìm trong những suy nghĩ lo lắng, buồn phiền. Phát hiện ra điều đó, Hà dừng lại, nhìn cô gái ngồi trước mặt một cách ái ngại.
     Trong số tất cả 10 người thợ làm móng của Hà thì chỉ 4 người là có giấy tờ sống hợp pháp hoặc đang theo học đại học ở Anh, còn lại là dân nhập cư lậu, không một mảnh giấy lận lưng. Nhưng trong 6 người đó, hoàn cảnh của Linh là đáng quan tâm nhất, vì cô chỉ mới đến Anh đâu như 8, 9 tháng và đang mang bầu hơn 8 tháng thì bây giờ tiệm lại phải đóng cửa. Và lúc này cô ngồi đó, mặt cúi xuống, tay vân vê tà áo, mặt buồn xo. Mái tóc mỏng lòa xòa ngang vai, vóc dáng nhỏ bé, cao chỉ hơn thước rưỡi, dù đã 24, 25 tuổi nhưng trông Linh như mới 16, 17. Ngay cả cái bụng bầu vượt mặt cũng không làm cho cô có vẻ gì như một người sắp làm mẹ.
     Thấy Linh vẫn ngồi im lặng, Hà mở ngăn tủ phía dưới cái quầy tiếp tân, lấy ra một phong bì mỏng, đặt lên quầy trước mặt Linh vừa nói:
     – Em cầm lấy ít tiền. Những đứa khác thì chị không lo, chúng nó ở đây lâu rồi, chúng nó sẽ tìm được nơi khác nhanh thôi. Riêng em thì hoàn cảnh mới qua nên chị có gọi hỏi một người bạn ở London, tiệm cũng đang tạm đóng cửa trong mùa dịch, nhưng sẽ mở lại. Em ráng cầm cự qua mùa dịch, đến làm cho cô ấy. Địa chỉ, số điện thoại của cô ấy trong này.
     Linh lí nhí:
     – Cảm ơn chị.
     Linh cầm cái bì thư, nhét đại vào trong túi áo khoác. Và đứng dậy, chào rồi đi ra. Vừa bước ra khỏi cửa, lóng ngóng thế nào cái phong bì từ trong túi Linh rơi xuống đất, vài tờ tiền mệnh giá £20, £50 rơi ra. Linh vội vã cúi xuống nhặt cả tiền, cả phong bì cho vào cái túi cầm trên tay, một cái túi vải dây rút có vẽ hình bản đồ Việt Nam. Rồi cô bước đi, chiếc áo rộng thùng thình che cái bụng bầu, vai gầy dáng mỏng liêu xiêu. Nhìn từ phía sau và trong mắt người bản xứ, Linh càng giống một thiếu niên hơn là một phụ nữ đã trưởng thành.
     Nhìn theo Linh từ bên trong khung cửa kính chạy dài suốt mặt tiền cửa tiệm cho tới khi cô đi khuất, Hà thở ra rồi lại mở tủ, lấy tấm bảng nhỏ viết sẵn, đi ra treo bên ngoài cửa. Tấm bảng, viết bằng thứ tiếng Anh không được chuẩn, thông báo đóng cửa tiệm vĩnh viễn vì lý do đại dịch và làm ăn thua lỗ.
     Khi đóng cánh cửa lại từ bên trong và ngồi xuống ghế, Hà đã hoàn toàn quên mất Linh để quay trở lại với những phiền muộn, lo âu của chính mình. Như vậy là cái tiệm Nails mà cô gầy dựng hơn ba năm nay buộc phải đóng cửa vĩnh viễn! Càng nghĩ càng xót không chịu được. Tiên sư cái thằng đại dịch, tiên sư cái thằng COVID. Hà lầm bầm chửi.
 
***
 
Buổi sáng sớm. Một con đường vắng phía sau một dãy nhà kho. Sao mọi vật xam xám, nhờ nhờ như đang phủ một lớp sương mù?Một chiếc xe tải dài, phía sau có container đông lạnh đang đậu bên đường, cửa xe phía sau mở nửa chừng. Một xác người nằm dài trên mặt đất, ngay gần cửa xe, như thể bị rớt từ trong xe xuống. 2 cái xác nữa, một người phụ nữ tóc dài rũ rượi, hai cánh tay thõng xuống, bên cạnh là hai cái chân của một người đàn ông khác thò ra, nhợt nhạt. Người tài xế da trắng đứng gần chiếc xe có vẻ rối trí, hoảng hốt, đang gọi điện thoại. Một thứ tiếng nước ngoài xa lạ. Cái xác nằm ngửa dưới đất là của một thanh niên người Việt chừng 25, 26 tuổi, không mặc áo, chết vì nóng và ngạt, trước ngực còn đầy những vết cào rướm máu. Khuôn mặt người thanh niên với đôi mắt mở to trừng trừng nhìn lên bầu trời xanh xám trên cao. Chiếc điện thoại vẫn còn cầm chặt trong bàn tay co quắp lại.
Có tiếng còi xe cảnh sát, xe cứu thương từ xa đang tiến đến gần…
 
Linh giựt mình tỉnh giấc. Tiếng còi xe thực đến nỗi cô như vẫn còn nghe thấy, ngay cả khi tỉnh giấc. Và đôi mắt trừng trừng nuối tiếc cuộc đời kia rõ đến mức trái tim Linh thắt lại. Dù buồn ngủ hết sức nhưng Linh cố chống cự, vì cô biết nếu rơi vào giấc ngủ trở lại, giấc mơ kia sẽ lại tiếp nối. Vận dụng tất cả sự cố gắng, cuối cùng Linh cũng ngồi dậy được. Và khi đã ngồi dậy, cơn buồn ngủ cũng trôi đi. Linh ngồi, gục đầu vào hai bàn tay, hai vai rũ xuống.
     Bao nhiêu đêm rồi cô mơ thấy những giờ phút cuối cùng của Việt? Khi thì Việt và những người khác hoảng loạn, đập cửa, kêu gào tuyệt vọng trong cái thùng container tối om, bít bùng, nóng bức như cái hòm di động, khi thì Việt vật vã hớp những hớp không khí cuối cùng, mắt trợn ngược lên như con cá mắc cạn. Và đêm nay cô lại mơ thấy cái xác của Việt bị rơi ra ngoài, trên nền đất…
     Linh với tay bật cái đèn ngủ đầu giường. Không biết làm gì, Linh mở điện thoại ra nhìn giờ. Gần 4 giờ sáng.
     Một cách máy móc Linh mở phần tin nhắn, đọc lại tin nhắn cuối cùng của Việt vào cái ngày định mệnh ấy. “Anh xin lỗi. Anh không thở được. Nhiều người đã chết, có lẽ anh cũng vậy. Anh xin lỗi vì không bảo bọc được cho em suốt đời như đã hứa”. Từng giọt nước mắt lặng lẽ rơi xuống gò má Linh. Những tin nhắn Việt gửi từ lúc bắt đầu chuyến đi cho đến phút cuối cùng Linh đã đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần và lần nào Linh cũng khóc, vậy mà Linh cứ tưởng nước mắt mình cạn khô rồi sau hai ngày nằm vùi khóc không ăn không uống, khi hay tin Việt và những người Việt Nam khác đã chết trong chiếc container trên đường nhập cư lậu vào nước Anh.
     Khi đó cái bầu trong bụng Linh đã 5 tháng. Nhiều lần gọi điện thoại cho Việt, cô muốn nói sự thật cho Việt nghe về cái thai nhưng rồi cô không sao mở miệng được, chỉ khóc. Việt lại tưởng là cô buồn, cô đơn ở xứ người nên ra sức dỗ dành. Cô tự nhủ thôi cứ để khi Việt qua rồi hãy nói, nếu Việt thông cảm thì tốt, nếu Việt không chấp nhận thì cũng đành chịu… Nhưng rồi Việt đã bỏ cô mà đi mãi mãi…
     Trong những ngày khác cô lại đau đớn với ý nghĩ nếu hai đứa cùng đi một chuyến với nhau, nếu mẹ Việt không đổ bệnh bất ngờ, có lẽ Việt vẫn còn sống, và có lẽ chuyện đó đã không xảy ra với Linh, trong cánh rừng xa xôi của nước Pháp, những ngày khắc khoải chờ sang Anh…
     Nếu và nếu… Những chữ “nếu” không bao giờ xảy ra…
     Linh ngồi lặng lẽ trong đêm. Căn buồng nhỏ hẹp mọi khi có đến ba người cùng thuê ở, nhưng hai cô kia đã quay trở về Việt Nam tháng trước vì mùa dịch, nhiều tiệm nails đóng cửa, không có việc làm.
     Có quá nhiều lý do để Linh không quay về Việt Nam. Món nợ quá lớn vay để có tiền cho chuyến đi chưa trả được bao nhiêu. Không chỉ là tiền, cô đã trả giá quá đắt để đến được đây. Và giải thích làm sao với mẹ, với mọi người về cái bụng bầu này?
     Linh cũng không muốn nhìn thấy căn nhà tuềnh toàng xập xệ chỗ thì bằng gạch, chỗ thì gỗ, có chỗ lại vá víu tạm bợ bằng bìa carton, mảnh vườn xác xơ, thân hình bất động khô héo của người cha nằm dán trên giường từ nhiều năm nay sau một tai nạn giao thông, khuôn mặt buồn rầu, hằn nét chịu đựng của người mẹ cả đời lam lũ, những đứa em lau nhau giành nhau từng cục đường đen, từng miếng cá khô…Tất cả đang mong cô gửi tiền về, chứ không phải chờ nhìn thấy cô trở về với hai bàn tay không. Càng không phải với một cái bụng bầu, thêm một gánh nặng cho cái gia đình vốn đã bị cuộc đời đè đến không thở nổi từ lâu.
     Hai người bạn làm nails kia, dù chỉ mới quen nhau từ khi cùng sống, cùng làm nghề ở đây nhưng có đủ lòng trắc ẩn trước bi kịch của Linh, đã nhét vào tay Linh những tờ tiền nhàu nát và lời chúc may mắn trước khi trở về Việt Nam.
     Linh đứng lên đi vào toilet. Cô mở vòi, rửa mặt, vốc từng bụm nước lạnh vã lên mặt. Nước lạnh làm cô tỉnh ngủ hẳn. Đột nhiên Linh cảm thấy đau nhói ở bụng. Cô gập người xuống, nhăn mặt vì đau, định đứng thẳng người lên thì lại một cơn đau khác ập tới, cô oằn người ôm lấy bụng. Một ý nghĩ hoảng hốt: không lẽ, nhưng mình còn ít nhất mười ngày nữa mới đến ngày sinh kia mà. Giá mà mấy cô bạn kia còn ở đây. Những cơn đau nối tiếp, mỗi lúc một dồn dập, dữ dội hơn. Linh không nén được những tiếng rên.
      Giữa hai cơn đau, Linh cố gắng bước ra ngoài, chộp lấy cái điện thoại định gọi cấp cứu. Nhưng rồi mình sẽ nói gì? Tiếng Anh thì chỉ lõm bõm vài chữ. Rồi nếu người ta phát hiện ra sống không giấy tờ, đuổi về VN? Sự nhút nhát và nỗi sợ bi đuổi về còn lớn hơn cả nỗi sợ chết. Đã đến nước này thì một liều ba bảy cũng liều. Ở nhà Linh từng giúp mẹ sinh em út, rồi lại giúp chị dâu sinh con, chẳng có gì phải sợ hãi. Linh cố chịu đựng cơn đau, lấy cái túi đựng đồ chuẩn bị sẵn để đi sinh dưới chân giường rồi trở lại toilet, lót một cái khăn ra sàn và ngồi bệt xuống.
     Linh nửa nằm nửa ngồi trên sàn toilet nhoe nhoét máu, quần vắt trên nắp bồn cầu, hai chân dạng ra, một cơn đau ập tới, cô vớ lấy một cái khăn nhét vào miệng để chặn tiếng thét, cô quằn quại người vì đau.
     Trong cơn đau Linh thì thầm với Việt: “Anh ơi giúp em.”
     Có phải là linh hồn Việt đã nghe lời van xin của cô hay đứa bé biết thân biết phận mà chui ra rất nhanh. Một hình hài nhỏ bé, làn da nhăn nhúm, một màu da sẫm hơn màu da của mẹ nhiều, khắp thân người nhớp nháp chất nước ối và máu, chuồi ra trên sàn như một con cá, đôi mắt nhắm nghiền nhưng cái miệng đã mở ra khóc rất to. Một đứa con trai. Linh tránh nhìn đứa nhỏ như thể việc không nhìn, không suy nghĩ sẽ giúp cô không có bất cứ cảm xúc hay ký ức gì với cái sinh linh bé nhỏ, xa lạ kia. Cô lấy cái kéo cắt dây rốn, dùng sợi chỉ buộc cuống rốn, làm vệ sinh cho cả hai rồi bế đứa nhỏ được bọc đứa trong cái khăn dày, lết ra ngoài. Đặt đứa nhỏ lên giường, Linh cũng nằm vật xuống một bên và thiếp đi.
 
***
 
Sáng sớm Chủ Nhật, vắng lặng. Một ngôi nhà thờ Tin Lành với kiến trúc cổ, đúng kiểu nhà thờ truyền thống của Anh quốc. Những bức tường đá nặng nề đã xỉn màu vì thời gian. Bao quanh nhà thờ là khoảng đất rộng với những bia mộ bằng đá giản dị, trên mỗi cái bia đều khắc hình cây thánh giá. Trước một vài ngôi mộ vẫn còn những bó hoa của người đến viếng.
     Cổng chính của nhà thờ hé mở, trên bậc thềm một chiếc giỏ đan được để đó. Có tiếng ọ ọe. Người trông nom nhà thờ, một người Anh khoảng trên dưới 60 tuổi, tóc bạc hơn nửa, trên tay cầm một chùm chìa khóa to và một tập thánh ca (hymn book) từ trong nhà thờ đi ra. Nghe tiếng khóc và nhìn thấy cái giỏ, người đàn ông sững lại, cúi xuống nhìn và giựt mình khi thấy một đứa trẻ sơ sinh còn đỏ hỏn bọc kín trong cái tã, đang oe oe khóc. Bên trong cái giỏ còn có cả gói quần áo cho trẻ sơ sinh. Người đàn ông đứng thẳng người đưa mắt nhìn quanh. Không có ai. Cái giỏ có lẽ đã được đặt ở đây sau khi ông mở cửa đi vào bên trong nhà thờ để dọn dẹp buổi sáng, vì trước đó khi bước vào ông không hề thấy.
     Đứa bé lại khóc. Người đàn ông lắc lắc cái giỏ như để dỗ dành đứa bé, lại nhìn quanh lần nữa rồi xách cái giỏ vào trong.
 
***
 
Một sân ga nhỏ ở một thành phố phía Bắc nước Anh. Vắng vẻ. Chỉ có một cặp trẻ tuổi đang ôm nhau, một anh chàng da trắng và một cô gái da màu, miệt mài hôn nhau bất chấp chung quanh, một người nghệ sĩ đường phố tuổi trung niên, có vẻ là dân một nước Đông Âu, dáng dấp gầy gò, ăn mặc tồi tàn, trên tay xách một hộp đàn guitar cũ. Và Linh. Linh ngồi trên băng ghế chờ, khuôn mặt nhợt nhạt, đôi mắt sung húp vì khóc nhiều. Bên cạnh cô là chiếc vali nhỏ cũ kỹ và chiếc túi có hình bản đồ Việt Nam.
     Chẳng ai nói chuyện với ai. Cặp tuổi trẻ vẫn tiếp tục hôn nhau, anh chàng còn thò cả tay vào phía trong quần bạn gái từ phía sau, cô gái cười rúc rích như chuột. Có tiếng còi xe lửa rồi một chiếc xe lửa từ xa tiến tới gần. Xe lửa đi London.
     Chiếc xe lửa từ từ dừng lại. Không có ai bước xuống. Cặp trẻ tuổi và người nghệ sĩ đường phố bước lên xe. Linh cũng lặng lẽ đứng dậy, xách vali và túi bước lên theo, không hề ngoảnh đầu lại…
     Xe lửa từ từ lăn bánh…

 

– Song Chi

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.