Hôm nay,  

Buổi chiều cuối Tháng Tư

29/04/202314:45:00(Xem: 3925)
Tùy bút

altar

 


Mẹ tôi, con gái quê Sơn Tây, sống cùng thời với thi sĩ Quang Dũng, nổi tiếng với bài thơ “Đôi Mắt Người Sơn Tây”. Mẹ đi lấy chồng, gia tài vỏn vẹn một con lợn nái. Mẹ kể mỗi khi ăn no, nó lại nằm ịch ngay giữa nhà, ụt ịt chờ mẹ xoa bụng. Bà ngoại mua để mẹ nuôi, lớn lên bán được số tiền to làm vốn xem như của hồi môn lúc ra riêng.
     Năm 54, bố mẹ tôi dắt các con vào Nam, bà ở lại quê vì tuổi già sức yếu, vì mồ mả tổ tiên, vì liên tưởng chỉ tạm xa nhau vài tháng hoặc một năm rồi sẽ sum họp sau chiến tranh. Mẹ ra đi nước mắt lưng tròng, để lại tiền bạc, nhà cửa, vườn rau ao cá cho người cháu ruột với nhiệm vụ săn sóc bà.
     Ở Sài Gòn mỗi năm mỗi vắng tin, mỗi ngày một cách xa. Thời gian giúp chúng ta quên quá khứ nhưng hình ảnh và hoài mong vẫn nằm sâu trong tàng thức. Sau 20 năm, bố mẹ tôi vẫn chưa học được bài học cũ: người ở kẻ đi trong loạn lạc là nghìn trùng xa cách, là lá bài sẵn phần thua, là mãi mãi chia ly!
     Thế rồi một ngày cuối tháng Tư năm 75, đất nước như ong vỡ tổ, gia đình tôi sống lại câu truyện tiền kiếp Âu Cơ-Lạc Long Quân. Bố ở lại thành phố với gia đình hai chị, mẹ tôi theo hai con trai di tản sang Mỹ. Cũng may đời người là hình ảnh hai mặt một vấn đề, đau khổ đến trước thì hạnh phúc đến sau do đó may mắn chỉ vài năm, gia đình chúng tôi được đoàn tụ. Quây quần tại Nam Cali, sống cuộc đời mới tuy hoàn cảnh đã khác xưa. Lìa xa quê hương, thương nhớ vẫn hoài nhớ thương, nỗi lòng mẹ mong chờ gặp lại bà biến thành vọng tưởng, thế nhưng hy vọng luôn luôn là động lực chính giúp con người sống còn! Những năm đầu trên đất Mỹ, hy vọng lẫn cả kỳ vọng. Kỳ vọng vào một biến cố có con tầu mang mẹ trở về Sơn Tây nơi chôn nhau cắt rốn còn in đậm hình ảnh mẹ già hay Sài Gòn nơi quê nhà một thời gia đình lễ nghĩa đùm bọc... Những ngày xưa thân ái!
     Buổi chiều, giờ phút chia tay giữa ngày và đêm xưa nay vẫn tạo trong lòng người sự nhớ nhung, tiếc nuối. Chiều tha hương thường man mác buồn, một nỗi buồn xa vắng không tên nhất là những chiều ở Cali. Ký ức tôi nhớ mãi một buổi chiều hơn 40 năm trước mà tưởng như mới hôm qua. Trong căn phòng nhỏ ở thành phố Santa Ana, mẹ tôi mặc áo tràng ngồi đối diện với góc tường gần cửa sổ, có lẽ mẹ muốn để tâm hướng về phương Đông. Buổi chiều hắt nắng vàng trên tóc mẹ. Chiếc lưng cong chứa đựng tất cả muộn phiền khuỵu xuống trên đôi chân xếp gọn. Mẹ tôi ê a gõ mõ cầu kinh, đôi lúc thỉnh một tiếng chuông dài vang trong không gian tựa như tiếng nấc của một nỗi lòng. Tôi đứng phía sau, chưa rõ vì sao mẹ tụng kinh vào buổi chiều, tuy không thấy khuôn mặt mẹ nhưng cảm nhận đau thương tràn ngập qua giọng đọc ê a. Mùi nhang khói linh thiêng tạo mầu nhiệm cho phép lạ của âm dương. Xúc động, tôi ngồi xếp hàng sau lưng mẹ, mắt nhắm để tâm niệm vào kinh dù chẳng hiểu một chữ nào. Bỗng chốc thinh không lặng yên, mẹ tôi ngừng đọc, đưa tay lên chùi mặt, quẹt mũi, hít thở một hơi dài. Tôi biết mẹ đang khóc! Buổi chiều đã buồn lại càng buồn thêm mà có lẽ văn chương nào cũng không sao tả hết.
Chiều dần trôi, một ngày sắp qua đi. Khuôn mặt phờ phạc, hai mắt đỏ hoe, mẹ kể vừa nhận lá thư Sơn Tây kèm theo hình ảnh báo tin mộ bà đã xanh cỏ nhiều năm rồi. Đứa cháu bất lương vơ vét của cải bỏ bà một mình. Thân già cô quạnh, nhớ thương con cháu, khóc hết nước mắt vì mòn mỏi chờ mong ngày tái ngộ mà thành mù lòa. Mẹ nói vĩnh biệt cuộc đời và người thân trong hoàn cảnh ấy sẽ khó siêu thoát nên mẹ tụng kinh cầu an cho bà.
     Mười năm sau, một ngày cuối tháng Tư mẹ tôi ra đi theo bà. Lòng xe thắt, tôi đã viết trong bài “Giữa Buổi Chợ Chiều”: Trời tháng Tư, nắng vàng còn lung linh trong nghĩa trang Loma Vista, một nỗi buồn xâm chiếm hồn tôi, duy nhất và mãnh liệt như chưa bao giờ kinh hoàng như thế! Nước mắt rơi vô định tựa máu tuôn ra ngoài. Trái tim vùi dập, co thắt bất thường của người con biết mình đã mất mẹ từ đây. Qua bao thăng trầm của cuộc sống, vết thương lòng vẫn còn và tôi cũng chưa gặp một nỗi buồn nào lớn hơn... Mẹ đi rồi, chiều hôm bên bếp lửa, hương khói gia đình nhạt nhòa theo thời gian. Hình ảnh sum họp mất đi nhiều ý nghĩa. Anh chị em tôi tự do bay bổng như đã dứt khoát cắt lìa cuống rún mẹ, người đi xa hay ở gần đều hoang vắng chẳng mấy ai còn nhớ dư âm ngày xưa thân thiết nên ít khi quay đầu nhìn lại...
     Vợ chồng tôi viếng mộ chiều nay với chậu cúc vàng. Mẹ đến rồi đi cuối tháng Tư, chưa một lần về thăm lại Sơn Tây. Tháng Tư chan chứa nỗi buồn, có cái buồn chung và cả buồn riêng.
Để lòng tĩnh lặng theo khói nhang, tôi hiểu rằng bố mẹ và bà tôi chưa bao giờ chết! Tâm vẫn hiện hữu, bay cao hay bay xa tùy vào nghiệp duyên. Thịt nát xương tan trong lòng đất chỉ là chiếc áo khoác thân biểu tượng. Mẹ ở trong con và con ở trong mẹ từ nguyên thủy, tuy hai mà một. Sau bao năm sống gần mẹ, vô minh do “cái tôi” u mê, tôi chưa một lần can đảm thổ lộ “ Mẹ ơi! Mẹ có biết con thương mẹ không?” Đó là điều duy nhất tôi tiếc nuối tuy nhiên thời gian với không gian tương tức, tôi tin mẹ vẫn nghe và hiểu lời tôi tỏ tình vào buổi chiều 28 tháng Tư, ngày giỗ mẹ.

 

– Cao Đắc Vinh

(28/4/ 2023)

 

Năm Giáp Ngọ 1954 có thể gọi là năm đại diện cho tuổi thơ tôi. Chỉ trong một năm 1954 đã có quá nhiều biến cố xảy ra dồn dập trước mắt chú bé mười hai tuổi mà suốt trong đời chưa có thời điểm nào đặc biệt như vậy...
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.