Hôm nay,  

Mùa đã đi qua

30/09/202308:59:00(Xem: 3635)
Truyện

duythanh 6
Bản vẽ Duy Thanh [1931-2019].

Chú đánh điện về, anh đi đón em, chỉ vẻn vẹn thế, bố khắc biết ra ga Hàng Cỏ đợi. Trước khi đi bà dặn, em nó về, ta vui nhiều hơn, có những đau thương nhưng mẹ chỉ có hai con.
    Mẹ chỉ có hai con, bà nhắc đi nhắc lại câu đó nhiều lần trong bữa ăn, trước khi đi ngủ, trước khi mang quần áo vào nhà tắm, khi thấy bố lúi húi bên chiếc giường đóng cho chú, bà nán lại thêm bên ngoài nhà tắm một chút, như hàm ơn bố đã biết nghĩ cho em, và bà lại bảo, mẹ chỉ có hai đứa, gắng mà thương nhau, tang thương chưa đủ sao.
    “Vâng”, bố nói nhẹ lắm, tiếng nói lẫn với tiếng đục, tiếng bào. Và chiếc giường đó bà đặt lưng đầu tiên, khoan khoái, tựa như bao ngày bố làm cho bà vậy. Chú chuẩn bị về. Chú đi chừng hai mươi lăm năm, từ ngày rời gia đình theo người bác vào Nam. Âu cũng là cái phúc nhà mình, loạn lạc thế mà không mất người.
    Bà chỉ nhấn đi nhấn lại niềm vui không mất người, như muốn bảo, thế là vui rồi, con gắng vui lên. Bố có cần gắng vui không, tôi không biết, tôi thấy bố xoay vần ra đóng giường. Bố hì hụi xin gỗ thừa ở những nhà thuộc khu tập thể cũ đóng đóng lắp lắp thành chiếc giường. Gọi giường mới nhưng là gỗ cũ. Tôi thấy bà nhắm mắt mà hai mắt vẫn như đang cười híp lại, miệng nhoẻn ra hai bên, nghe chừng rất mãn nguyện. Và bà vui nhất khi chú về.
    Bố đi đón chú vào một chiều đông, bằng chiếc xe đạp cũ, tài sản duy nhất đáng tiền nên bố giữ gìn cẩn thận lắm. Khi tàu vào ga, bố nhận ra chú ngay, cũng nhờ tấm ảnh gửi về kèm bức thư, với lời lẽ rất chân thành. Em giờ như thế này, em chụp ảnh gửi anh trước, sợ anh em mình không nhận ra nhau; thêm lời rào đón trước sau của một đứa em xa quê, xa gia đình, đến như gần đứt tình máu thịt: em về làm khó thêm anh chị, nhưng em sẽ cố gắng.
    Hôm chú về, bố đóng thùng bộ cánh đẹp nhất, chiếc áo sơ mi trắng, chiếc quần ka ki nâu, đôi dép râu, đúng dáng cán bộ nhà nước những năm đầu giải phóng, bố phóng vút ra ga đón chú. Hai anh em thấy nhau mừng mừng, tủi tủi ngỡ ngàng. Sau giây phút bối rối và xúc động, chú ngồi sau xe bố về. Chú mặc áo màu sẫm, chiếc quần tối màu, tóc chưa kịp cắt còn loài thoài, bố hỏi. Sao không cắt tóc?  Em bận quá cũng quên. Sao lại quần áo này, không có cái nào trắng trắng hơn à? Trong đó người ta toàn mặc như này, em tưởng quê mình cũng thế. Ở trại có mệt không? Nhọc lắm anh ạ, có lúc em tưởng mình không chịu được. Thế à, bằng làm sao với con đường hành quân...
    Bố nói chưa hết câu, chiếc xe vướng vào ụ đá lổn nhổn bên đường nghiêng ngả, chực ngã. Chân bố chống mạnh làm trầy gót, chân chú mài xuống mặt bê tông làm bật máu. Ngọn gió bấc thổi dọc con phố dài, chạy dọc ra ngoài đồng vắng rồi xuyên đám lá me thưa bay thốc vào chỗ chú, tà áo mỏng màu nâu pha đen chẳng đủ ấm hay sao mà chú rùng mình mạnh một cái, quả đầu bù xù chưa kịp cắt cũng không ngăn được cái lạnh thổi dài hun hút, thổi vào câu chuyện của hai anh em về tóc tai, quần áo, con đường Trường Sơn và trại cải tạo, thổi dọc con sông vắng trên đường về nhà.
    Bà  thấy chú về ra ôm chặt, bà không kịp nhìn màu áo, mái tóc, với bà chỉ là chú, như thể cơ thể này ngày bé mẹ đã rửa đít cho, chiếc mũi này ngày bé mẹ đã ngậm và hút đi bao đờm rãi, bà khóc khi ôm chú, chú khóc khi ôm bà, chú chỉ nói, con xin lỗi mẹ.
    Chú về, nếp sinh hoạt trong nhà khác hẳn. Những ngày đầu, chú chỉ nằm trong phòng đọc mấy cuốn sách mang về từ trong Nam. Chú đọc đi đọc lại đến rách hết gáy, đến sờn hết mép, và những tờ giấy rơi ra lả tả, chú mang quấn lại, đóng cho nó một cái gáy, bố hỏi sách gì, chú bảo, mấy cuốn của Albert Camus mà.  Bố bảo, sách này ngoài Bắc cấm một thời, em không biết sao, chú bảo, nhưng bọn em trong đó thích lắm, bố bảo, thì thích nên mới phải cấm, thì cấm nên mới có ngày này. Chú im lặng hồi lâu không nói. Mấy hôm sau, không thấy cuốn đó đâu, thằng Tí ngây ngô hỏi bằng giọng nũng nịu, chú ơi, sách của chú đâu rồi, chú xoa đầu nó, chú cất rồi, khi nào cháu lớn, chú đọc cho nghe, nó cười ngô nghê, vâng.
    Không còn sách, chú kiếm những tờ báo giấy hàng ngày, nhưng chỉ chăm chăm vào  trang truyện, thơ và hình ảnh, có lần ngang qua chỗ chú ngồi, bố hỏi, tình hình Đảng ta đợt này ra sao? Em cũng không biết anh ạ. Tôi tưởng chú hôm nào cũng đọc báo? Nhưng em chỉ xem hình ảnh, đọc vài thứ linh tinh trong đó. Chú nói có phần ngượng ngập. Bố bảo, cái cần quan tâm nhất thì chú chẳng quan tâm. “Vâng”, chú vâng còn nhẹ hơn lần trước, bố nói xong rồi đến cơ quan. Và từ đó, chú cũng ít đụng đến tờ báo Đảng, chú lướt qua nó như không.
    Mẹ thấy trong nhà có người ăn mà thiếu người làm, mẹ mang về bao nhiêu là giấy làm hoa giả, bắt cả nhà vào cuộc, và chú là người hào hứng nhất. Chú làm hăng say quên mệt. Chú nghĩ ra đủ kiểu kết hợp màu sắc, đủ kiểu hoa, từ hồng đến hướng dương, cẩm chướng, đến thược dược, loại nào chú làm cũng hết sức tinh tế và bắt mắt, nên hàng hoa nhà tôi bán chạy nhất. Tết năm đó mẹ con tôi rủng rỉnh tiền tiêu. Mẹ nghe chừng thích lắm, khen chú mãi, nhà không có chú thì tết năm nay chết đói. Mẹ khen nhiều đến nỗi bố phát cáu, bảo, bà nghĩ gì kỳ, cán bộ cách mạng cốt cán mà lại để nhà chết đói sao, từ trước đến nay, mấy ai sống được bằng thứ ngụy tạo, cái bền vững thì không nghĩ đến.
    Không hiểu từ ngụy tạo bố dùng với nghĩa gì, hay là để chỉ thứ hoa giả phi nghệ thuật, nhưng rõ ràng mặt chú biến sắc, và những ngày sau đó, chú chỉ lặng lẽ làm, không nói gì, một thời gian sau nghề làm hoa giả cũng không được thịnh hành, mẹ chuyển sang việc khác.
    Bà tôi, đón con về được hết mùa đông năm ấy thì mất. Bà cố đợi chú về, trông thấy chú bà mới yên lòng. Khi nằm trên giường bệnh bà cầm tay bố tôi, đặt vào tay chú, bảo, các con là anh em một nhà, là gà một mẹ, các con phải yêu thương nhau, chia cắt nào cũng chung về một mối, các con phải yêu thương nhau. Bà nói xong thì trút hơi thở cuối cùng. Đám tang bà, chú khóc nhiều nhất, như thể, chú bơ vơ còn lại duy nhất ở cõi đời này vậy. Đám tang bà, một số người chỉ trỏ, người độc miệng bảo, thằng này theo Ngụy, sau giải phóng đi cải tạo mới về.
Bố nghe thấy, sầm mặt lại, chú lặng lẽ lui vào sau làm công việc hậu sự, chỉ khi đưa bà ra đồng, chú mới đội mũ rơm, chống gậy, đi giật lùi, vừa đi vừa khóc, nước mắt chan hòa, mặc tiếng  người thì thào. Từ đó chú lui vào trong nhiều hơn, họa hoằn lắm chú mới ra ngoài, chỉ khi có công việc cần kịp lắm.
    Mẹ  bảo, phải lấy vợ cho chú, chú lớn tuổi rồi, bố bảo, nó có chịu tìm hiểu đâu. Mẹ bảo, nó ngại thì mình phải tìm, bố bảo, ừ mẹ mày tìm đi. Mẹ hỏi đôn hỏi đáo thế nào mà hỏi ngay vào cô con gái nhà lão thành cách mạng, bố cô vốn là bạn thân của ông ngoại tôi. Bố biết chuyện bảo, nhà người ta có chịu không, mẹ bảo, chuyện quá khứ rồi, nhưng ai cho là quá khứ, còn cái thanh danh của tôi nữa chứ. “Cái thanh danh của tôi” bố nói sau cùng. Chú nghe thấy, chú nằm trong giường trở mình mạnh một cái. Hôm sau chú bảo, chị, em không lấy vợ đâu, em thích sống với chị và các cháu, nhà mình quây quần thế này là vui lắm, em chẳng mong muốn gì hơn. Mẹ bảo, không được, trai lớn lấy vợ, gái lớn gả chồng. Bố không nói gì, đi vào trong nằm, chú lẳng lặng về phòng mình đọc sách. Những ngày sau, chú đến thư viện nhiều hơn, chú nhờ bố làm cho cái thẻ đọc và mượn. Từ ngày đó cho đến ngày tôi lớn lên, cũng chỉ thấy chú đến thư viện rồi về.
    Chú đọc tất cả các loại sách, từ khoa học, văn học, đến đời sống, đến kinh tế và mỹ thuật, nên thằng Tí học lý, chú cũng kèm, tôi học văn, chú cũng dạy, học Hóa chú kiêm hết, chỉ có lịch sử là chú từ chối, chú bảo, chú lớn lên không được học sử, mà sử phải học mới biết, cháu bảo bố dạy đi. Bố cầm cuốn sách của thằng Tí đọc to: “Đế quốc Mỹ leo thang miền Bắc, bắn phá điên cuồng, giết hại bao dân lành, chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm do chúng lập lên, phản bội nhân dân, đi ngược quyền lợi dân tộc, chúng lê máy chém khắp miền Nam, đâu đâu cũng đầu rơi máu chảy, tiếng than khóc của đồng bào dậy đất trời”.
    Thằng Tí ngô nghê hỏi, thằng Ngụy là thằng nào mà ác thế? Bố bảo, thằng Ngụy do Ngô Đình Diệm lập lên. Nó hỏi, xung quanh đấy có thằng ngụy nào không, chỉ con với. Bố chững lại sững sờ, tím mặt, rồi im bặt, bảo, không có con ạ, thôi học đi, bố còn chuẩn bị giấy tờ cho đại hội lần này.
    Bố vội vàng đi vào trong, bật đèn lên, chú cũng kịp bật đèn bàn của chú sáng quắc. Chú ngồi với cuốn sách mượn ở thư viện suốt tối hôm đó. Bóng chú hắt lên tường một mảng, chiếc đầu bù xù không chải in vào bức vách, lặng câm, in trên đó trong thế bất động phăng phắc, đến cả gà gáy, tôi liếc từ giường nằm ra, vẫn thấy chiếc bóng bất động trên tường.
    Rồi từ những cuốn sách chú mày mò tạo ra chiếc máy làm bún. Chú đi xin vật liệu người ta vất từ xưởng cơ khí gần đó, hì hụi làm trong sáu tháng, ra một cái máy làm bún, một người làm bằng công suất của hai mươi người. Bố lên chính quyền xin giấy phép cấp bằng sáng chế, để mở xưởng sản xuất hàng loạt. Đến nơi, người ta hỏi, ai làm, bố bảo em tôi làm. Bố là  nhà nước không được mở xưởng riêng. Người ta đòi chú lên kê khai lí lịch, chú khai thật. Người ta bảo, chúng tôi thật sự chia buồn cùng anh, sản phẩm anh làm ra có tốt bao nhiêu nhưng lý lịch như vậy, chúng tôi rất lấy làm tiếc.
    Chú mang máy về, mẹ một buổi dạy học, một buổi làm bún bán. Bún mẹ làm ra bao giờ cũng ngon và rẻ nhất khu phố, người đến mua nghìn nghịt; nghe phong thanh thế, ông tổ trưởng dân phố đến tận nhà, chị là cô giáo, đừng phá vỡ nghề truyền thống của bà con, đừng tước miếng cơm manh áo của bà con. Mẹ nghỉ làm bún từ bận đó, chiếc máy để yên ở xó nhà, thời gian sau nó sùi lên một đống rỉ sét, ngày ngày đi qua, chú nhìn nó thở dài, sau này có bà đồng nát qua ngõ, bố bán được mấy ngàn, cho hết chúng tôi mua kẹo gôm, kẹo vừng và kẹo dồi chó.
 
***
 
Mẹ bảo, cái mồm bố mày không có mắt, nói điều gì cũng động chạm, với chú phải biết ý. Từ đó, bố kiêng dè, ít nói hẳn, hoặc có nói thì dè chừng xem có động chạm gì đến ai không.
    Một hôm từ cơ quan về, bố bảo, cả nhà ăn mặc thật đẹp, hôm nay tôi đãi. Có chuyện gì vậy anh? Thì chú cứ chọn bộ đẹp nhất đi.
    Thằng Tí như thể sắp được dự tiệc lớn, nó lôi ra cả đống áo quần, chọn cái mới và đẹp nhất, tôi chọn được bộ màu hồng rực, còn mẹ, chọn chiếc áo màu cam, chiếc quần màu xanh, và buộc tóc bằng chiếc nơ màu đỏ, như thể bố chuẩn bị đãi cả nhà tiệc lớn, như những lần bố được thăng cấp, hoặc cơ quan mở tiệc to đãi khách quý.
    Chú cũng chọn cho mình chiếc áo trắng, quần đen. Hôm nay chú sơ vin đẹp nhất, chú còn xí phần đèo tôi, chú bảo, hai chú cháu mình rực rỡ nhất phố, T xinh thế, các anh phải nhìn chú gừ gừ, bởi chú giữ cháu gái kỹ thế, bố đứa nào dám nhảy vào tán.
    Tôi lườm chú, mà thấy bừng sáng lên. Cả nhà lâu lắm mới được một cuộc vui thật sự, sau bao tháng ngày làm hùng hục, thằng Tí thắc mắc, lâu rồi không được đi ăn kem, tôi thì, lâu không được ra Thủ Lệ ngắm thú, mẹ bảo, cả ngày làm tối mắt mũi cũng mệt, bố bảo, đợt này vất vả, tôi cho cả nhà đi chơi, xong đãi cả nhà những món ngon ngoài phố.
    Nhưng nhân dịp gì mới được chứ?
    Thế mẹ con mày không biết à?
    Tết Thống Nhất chứ gì, mừng giải phóng miền Nam tưng bừng thế mà.
    Tôi nhớ ra hét toáng lên, thằng Tí cũng vỗ tay rào rào, mẹ cũng vui cười rạng rỡ, bố thì híp cả mắt lại, chỉ chú không, chú thoáng quay đi giấu một nét buồn sau áo. Chú vờ cúi xuống sửa xe, chiếc xe xích bẩn ngoen dấy áo, chú lấy cớ áo bẩn không đi cùng cả nhà được. Sau phút hứng khởi vô duyên, bố cũng thấy mình có lỗi, mẹ thì càng có lỗi hơn, mẹ chỉ bảo, ừ chú bẩn áo không đi được thì ở nhà đọc sách, mấy bố con nó sẽ mua đồ ăn về cho chú.
 
***
 
Đất nhà tôi rộng, mẹ ngăn đôi, một nửa cho chú bán cà phê. Chú vừa pha cà phê, vừa làm luôn công việc phục vụ những người bạn của bố. Bạn của bố đa phần là lính. Vào những dịp vui, họ kéo đến ào ào,  lấy quán chú làm trung tâm ăn uống, hát hò, và nhảy múa, họ treo khẩu hiệu tưng bừng. Rồi họ nói toàn kỷ niệm xưa, những lần giáp lá cà với Mỹ, những lần tiêu diệt cả tiểu đội thám báo, biệt kích Ngụy. Có người vỗ vai chú hỏi, thằng em, năm đó chiến đấu ở chiến trường nào, bố thấy vậy vội gạt đi, nó đau ốm nên được miễn đi bộ đội.
    Vậy à, thế thì sao biết đánh đấm thế nào. Cả bọn cười vang, bố cũng cười méo cả mặt, chú lặng lẽ quay vào trong, ra gốc si bên hồ nhỏ ngồi. Chú thả từng nắm cám xuống, đàn cá nhoi lên đớp mồi, con đớp được con không, chúng quay ra rúc rỉa nhau, tranh giành, làm mặt hồ gợn lên từng đợt sóng, cho đến tối, bố ra gọi về bảo:
    Kệ họ đi, họ không hiểu thì anh hiểu.
    Đúng thế, từ lâu bố đã tỏ ra hiểu chú. Chuyện này chắc nhờ mẹ. Hoặc tình anh em lâu ngày mới tìm lại được trong quá trình chung sống. Từ ngày về hưu, bố càng không nhắc gì chuyện cũ, tránh cao nhất để chú khỏi buồn.
    Nhà có một chiếc ti vi đặt ở phòng khách, cứ đến chương trình ca nhạc là rộn cả lên, bố gọi, mẹ mày vào mà xem hay lắm. Bố nằm trên ghế, mắt nhắm nghiền lại theo lời bài hát: Có một bài ca không bao giờ quên, là lời đất nước tôi chẳng phút bình yên…
    Mẹ bảo, sao mà hát mãi thế!
    Bà này hay nhỉ!
    Mẹ nhìn xa vắng ra ngoài, gió trên cành ngọc lan thổi vào từng luồng mang theo mùi hương đêm lan tỏa, nghe như trong đó, luồng âm khí người xưa cuộn về theo hương hoa, mẹ nhìn lên bàn thờ, bà cười với mẹ, nụ cười vương vấn khói hương của que hương thắp lúc chập tối còn đang cháy dở. Chú về bất chợt, nghe câu chuyện của bố mẹ, chú chỉ hỏi, chị ăn cơm chưa, tôi đã ăn, sao hôm nay chú về đột xuất, quán vắng khách sao?
    Em chạy về lấy cuốn sách rồi lại ra ngay.
    Bố vẫn mải mê theo giai điệu bài hát mà không biết chú về. Bố nằm dài trên ghế, hai tay để trên ngực, miệng rên xiết theo lời bài hát, thi thoảng gồng người lên, như ca sĩ trong giai đoạn phiêu nhất của ca từ.
    Chú lấy sách  xong rồi đi, chú có chào bố, nhưng tiếng chào nhỏ quá, bố không nghe thấy. Mẹ nhìn bố rồi nhìn chú lắc đầu, mẹ cũng lẳng lặng đi vào buồng, chỉ còn bố bên chàng ca sĩ, cùng đám múa phụ họa, đang mặc cả quần áo Giải phóng và Ngụy quân. Những Ngụy quân chao đảo, ngả nghiêng rồi đổ nhào. Chú bước xiêu vẹo qua hàng lưỡi hổ bà trồng lúc trước, qua những chậu trích châm bố đặt sau này, hương thơm buổi đêm đưa lại nồng nồng, nhưng dường như chú không cảm nhận được…
    Tôi lấy chồng, sinh con, con tôi đã bốn tuổi, chú vẫn bán quán cà phê ngày trước, kiêm luôn công việc trông thằng Tũn. Thằng bé nghịch ngợm suốt ngày vuốt râu ông trẻ, hỏi đủ điều. Chú ngồi giảng giải kỹ lắm, và lấy đó làm niềm vui, như ngày chú giảng giải đủ điều cho mẹ nó biết vậy. Có hôm về, nó đọc: Anh em như thể chân tay, rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần, và hỏi bằng giọng ngô nghê, chú hăng say cắt nghĩa, nó bảo, như con và chị Hạnh tồ hả ông, chú bảo ừ, đoàn kết là gì, đoàn kết là không cãi lộn, đánh nhau. Nó bảo, như ông với ông ngoại con hả chú bảo, phải. Đúng lúc đó người bạn già của bố đến chơi, nói chuyện, đợt này, có dự án lớn chuẩn bị đầu tư về nước, rất cần người phiên dịch tiếng Ba Lan. Đưa dự án về là một tù Côn Đảo xưa, cũng là bạn thân của bác. Bố nghĩ một hồi rồi vỗ tay đánh đét, trời, chú N nhà tôi chứ ai, nói tiếng Ba Lan như gió. Người bạn hồ hởi, thật ư, thật ư, còn gì bằng. Sau phút giây sung sướng, bác hơi chững lại một nhịp, như đang ăn cơm ngon mà nhai phải miếng gân bò dai quá. Bác bảo, ừ, có gì tôi bàn bạc với anh sau.
    Tiễn bác về, bố buồn hẳn, bố hiểu ngay sự tình cái niềm đang vui mà bỗng hóa buồn đấy, chú thì càng hiểu hơn, chú bảo, được hay không cũng không quan trọng. Em vẫn bán cà phê, anh vẫn phụ chị, thằng Tũn vẫn đi học, cứ bình lặng có phải hơn không.
    Tôi giảng dạy môn Ngữ Văn trong trường đại học, kiêm luôn mảng công tác xã hội. Chuẩn bị, có cuộc hội thảo, hòa hợp dân tộc sau chiến tranh. Tôi cần ý kiến của chú, người trong cuộc cho đề tài của tôi. Chú và tôi có buổi trao đổi thật cởi mở, công khai và rõ ràng về vấn đề này. Chưa bao giờ tôi thấy chú vui thế. Chú nói chuyện sôi nổi, hào hứng, nồng nhiệt, như thể mình góp được một phần nhỏ vào việc lớn lao trọng đại của dân tộc, chứ không riêng gì giúp cô cháu gái bé nhỏ nữa.
    Mẹ hỏi, chú cháu có chuyện gì mà phởn vậy, tôi chỉ cười, chú cười lớn hơn, thằng Tũn ôm lấy cổ ông mà nghêu ngao, anh em như thể chân tay, chú phát nhẹ vào mông nó, cha bố anh, nó đùa lại, cha bố ông, cả nhà cười vang. Chú nhiệt tình giúp tôi. Đầu chú cúi thấp, chú đọc không sót một từ, vừa đọc vừa say sưa góp ý, mà không để ý truyền hình đang chiếu bộ phim đến đoạn, tên lính mặc áo sọc, đang giơ chiếc đầu lâu của Việt Cộng lên.
    Bố vỗ đùi đánh đét, mẹ cha thằng Ngụy, thằng Tũn phụ họa: Mẹ cha thằng Ngụy. Chú nghe thấy ngẩng lên, đôi mắt đục mênh mang mênh mang như chứa cả trời chiều mùa thu xám sẫm, như có một dòng ngầu đỏ của nước lũ đi qua, tôi đọc thấy mênh mang những vực thẳm, những hầm chông, những hố, những lụt lội, tôi thấy ráng trời đỏ tía phía Tây, những mây mờ và cuộn rồng vần vũ, thấy bà ngồi lẫn với khói hương nghi ngút mà dặn với theo bố tôi, mẹ chỉ có hai con, chiến tranh nào rồi cùng qua, chia cắt nào cũng chung về một mối, anh em phải đoàn kết, yêu thương nhau.
    Rồi bóng bà lẫn với bóng chiều, bay vút về phái chân trời xa, và chú cũng đuổi theo, chú cứ đuổi theo hụt hơi, chới với, mẹ đợi con với, mẹ chờ con với, mẹ ơi…
    Tôi tỉnh dậy, thấy gối mình ướt đẫm, thì ra tôi mơ, giấc mơ sợ quá, chồng tôi bảo, tại em hay nghĩ, tôi bảo, hình như có linh cảm gì trong em, chồng tôi bảo, anh ít tin vào linh cảm cùng những giấc mơ khó bề lý giải, chỉ là do ám ảnh ban ngày vận vào. Chồng tôi vốn là bác sĩ ngoại khoa.
    Nhưng ba ngày sau thì chú chết.
    Đám tang chú chỉ có vài người bạn sách, chục người trong khu phố, và hai mươi người vốn là khách ruột của quán cà phê và ông chủ. Đám tang chú, bố đứng bên bàn thờ, miệng lấp dấp, lấp dấp, nói gì đó chẳng lên lời: mẹ, mẹ, rồi lại mẹ; bố nói mãi không thành câu, lại cúi xuống, lại ngẩng lên, như muốn báo cáo, lại như muốn chuộc lỗi. Tôi thấy bà tôi cười trên ban thờ vướng vít khói hương. Tôi chưa bao giờ thấy bà cau mặt. Từ ngày bé đến lớn lên, đến lúc chỉ còn nhìn thấy bà trên ảnh thờ, tôi cũng chỉ thấy bà cười. Bà cười khi nhìn bố tôi, nhìn chú, khi nắm tay bố tôi cùng chú, bà chỉ cười. Lòng người mẹ bao dung lắm.
    Bố cứ đứng tần ngần ở đó một lúc lâu, như muốn nói gì mà không nói được, lại thôi, rồi cuối cùng tôi cũng nghe thấy: con xin lỗi, con xin lỗi, cùng cái chắp tay lia lịa lạy bà, như tạ lỗi, như muốn bảo, mẹ đánh con thì đánh, con không làm được lời mẹ dặn.
    Lòng người mẹ bao giờ cũng bao dung như thế.

 

– Bảo Thương

Lật bật đã tới tháng 9 mùa tựu trường. Lòng nao nao nhớ thời học sinh nhỏ nhít đất thần kinh xưa. Ở Huế, mùa tựu trường cũng tưng bừng rộn rịp như bất cứ nơi nào khác trên đất quê nhà. Cũng bâng khuâng luyến tiếc những ngày hè tươi đẹp chóng qua. Cũng nao nức trở lại trường lớp gặp bạn thầy cũ, mới. Có khác chăng mặt mũi mấy cô mấy cậu học trò đều phảng phất một vẻ nghiêm trọng. Làm như mình đã trưởng thành tới nơi!
Cách đây 5 năm ông bà này có cho một cậu sinh viên Việt nam trẻ tuổi, đáng tuổi con cháu xin mướn phòng ở trọ học tại nhà ông bà cho đến đầu năm tới 2025, cậu sinh viên này sẽ tốt nghiệp đại học 4 năm với văn bằng cử nhân
Cũng như các trại tỵ nạn khác, ở Thailand cũng có một khu “nhà tù” dành cho những người tỵ nạn không chấp hành quy định của Bộ Nội Vụ Thái hay của Cao Ủy tỵ nạn. Thời hạn ở tù tùy theo mức độ phạm quy, có khi từ một vài ngày cho tới một hai tuần. “Tù nhân” cũng đủ loại, nhẹ thì có những người mua lén đồ ngoài hàng rào, thức quá giờ giới nghiêm, quên làm vệ sinh khu nhà được phân công, nặng hơn là thành phần đánh lộn, gây mất trật tự trong trại, trộm cắp vặt, trốn ra ngoài trại đi chơi.
Tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève chia đôi đất nước Việt Nam, người Pháp thất bại ở mặt trận Điện Biên Phủ, trả lại chủ quyền miền Bắc cho việt cộng. Việt Minh kéo từ mạn ngược và khắp nơi chúng đã ẩn náu về tiếp thu thủ đô Hà Nội và sau đó, toàn thể các tỉnh thành phía Bắc cho vào tới vĩ tuyến 17. Chúng ta mất một nửa giang sơn. Pháp có 80 ngày chuyển giao Hà Nội, 100 ngày giao Hải Dương, 300 ngày trả Hải Phòng, rồi chấm dứt. Việt cộng nằm vùng trong miền Nam cũng tự do ra Bắc tập kết, dù rất ít, nhưng làn sóng người miền Bắc di cư vào Nam thì đông nườm nượp… như nước vỡ bờ, họ chạy trốn, họ sợ cộng sản, họ sợ cái chế độ tam vô đang rượt đuổi sau lưng. Họ ra đi lánh nạn, đa phần phải bỏ lại gia sãn của cải, mồ mả cha ông… họ ra đi nhanh, mau lẹ nhất là các thành phố Hà Nội Hải Phòng, các xứ họ đạo công giáo Bùi Chu, Phát Diệm… có người vội vã đến chỉ ôm theo một tấm ảnh đức mẹ Maria… họ rủ nhau cứ xuống Hải Phòng là có tàu há mồm, há mồm chờ sẵn, chờ họ lên tàu và chở họ vô miền Nam.
Hà Nội có mùa Thu, Ninh Thuận quê tôi ở đó chỉ có hai mùa nắng gió. Buổi sáng mai hôm ấy mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi dẫn tôi đi qua con đường làng Xóm Động, rồi đến con đường cái quan tráng nhựa. Mẹ tôi nắm lấy tay tôi dẫn tôi đi qua cầu "Ông Cọp", rồi cầu "Nước Đá" và đến tận cửa trường tiểu học Phan Rang. Tôi cúi đầu đi qua cổng trường có tấm biển lớn có hàng chữ Tây: "Indochine Francais- École Primaire De Phanrang"...Giữa sân trường có cột cờ với lá cờ ba màu của Pháp treo tận chót vót. Trường của tôi hình như vừa quét nước vôi và có cửa kiến, tôi thoáng nghe mùi cửa sổ mới sơn.
Trước năm 1975, ngày đó tôi còn là một cậu thiếu niên ham thích đọc tiểu thuyết trinh thám mạo hiểm của Người Thứ Tám với nhiều câu truyện phiêu lưu, hồi hộp của chàng điệp viên Z-28 đào hoa, đẹp trai Tống Văn Bình. Tôi còn nhớ chàng điệp viên tài giỏi, võ nghệ siêu quần của chúng ta được phái đi thi hành một nhiệm vụ tình báo tại Maldives, một đảo quốc mà khi chúng ta nhìn về phía chân trời, nơi Trời và Biển gặp nhau, vì chính chúng ta cũng đang sống trên mặt nước...
Khoảng gần ba giờ chiều tôi rời khách sạn Ninh Kiều, cuối đường Hai Bà Trưng, nhìn ra sông Cần Thơ. Trời hanh nóng và đứng gió. Giấc ngủ trưa dài sau bữa ăn nhẹ, khiến tôi tỉnh táo và phấn chấn hẳn lên. Hãy còn sớm, hai giờ nữa tôi mới có hẹn với gia đình người bạn thân ở nhà hàng Hoa Sứ. Thời gian đủ để tôi dạo chơi và ghé chợ Cần Thơ tìm mua một vài thứ đồ lưu niệm… Vài cơn gió nhẹ mang theo hơi nước từ dòng sông thổi dọc theo công viên thật dễ chịu. Bến Ninh Kiều ngày nay thật khang trang và đẹp. Đi dọc mé sông, từ đây tôi có thể nhìn thấy chiếc cầu treo Cần Thơ sừng sững, hiện đại. Phía trước khách sạn là nhà hàng nổi và không xa là chiếc du thuyền nhà hàng lộng lẫy về đêm. Du khách vừa ăn tối vừa dạo cảnh quanh sông và có cảchương trình văn nghệ thật đặc sắc của miền Tây sông nước
Nàng tỉ tê với nhỏ bạn về những cuộc “thảo luận” sôi nổi của vợ chồng nàng. Bằng mọi giá, nàng muốn giữ cho đứa con có tuổi thơ tươi đẹp, hạnh phúc. Bao năm qua, đã có lúc nàng buồn rầu nghĩ, mình như con gà đẻ trứng vàng. Chỉ được việc, nhờ biết đẻ trứng vàng. Nàng không dám đề cập đến chuyện tiền bạc, sợ làm chồng buồn, cho rằng nàng cậy sức mạnh kim tiền lấn áp chồng. Nàng rất may mắn trong cuộc sống ngoài xã hội. Chưa ra trường, nàng đã nhận được hợp đồng làm việc với một trong những hãng hàng đầu của nước Đức. Ngược lại, chồng nàng quá lận đận. Cả năm trời, anh chạy đôn, chạy đáo tìm việc, mà vẫn phải nằm nhà. Nàng tự nhủ, tài lộc trời ban, gia đình sống thoải mái, chứ tính toán chi mà mất hòa khí vợ chồng. Tháng tháng, nàng thanh toán nợ to, nợ nhỏ, hàng hàng lớp lớp chi phí tất yếu của xã hội văn minh.
Xíu tiếp tục cuộc hành trình bất tận của mình, đừng tưởng Xíu chơi hoang hay đi rông, phiêu bạt giang hồ vô tích sự. Chính sự lang bạt kỳ hồ của Xíu và anh em nhà Xíu đã đem lại mưa thuận gió hòa, đem lại nguồn sống cho loài người và vạn vật muôn loài. Lần này Xíu quay về lại góc Đông Nam Á châu, nơi có dòng sông thiêng liêng chảy qua.
Tôi không phải là thi sĩ, nhưng chắc cũng giống như những thi nhân của đất Việt, thường gửi gấm tâm tình u uất vào những vần thơ của mình. Những bài thơ viết xong, tôi cặm cụi chép vào nhật ký, xen vào những lời than thân trách phận, hờn mây khóc gió. Cuốn nhật ký, tôi cất kỹ trong ngăn kéo ở cái table de nuit cũ kỹ bên cạnh chiếc giường nhỏ trong phòng ngủ. Cũng may là má chưa lục ra đọc lần nào...
Cuối cùng, vợ tôi cũng đồng ý một cách vui vẻ cho tôi lấy vợ bé. Một hành động vượt ra ngoài quan niệm ái tình nghiêm túc của bà. Vợ bé tên Hà, do vợ lớn đặt. Tên khai sinh của Hà là Đỗ thị 451. Vợ lớn nói, số này hên, cộng lại là 10. Hà lai Ái Nhỉ Lan. Ở lứa tuổi gần ba mươi, chưa lấy chồng, không có con, một thân hình phước đức cho bất kỳ người đàn ông nào, sáu mươi bảy tuổi, như tôi.
Kế hoạch của anh ấy thật là hợp lý: anh ấy sẽ giấu tôi phía sau cốp xe Austin-Healey, một chiếc xe dạng rất thấp mà anh vừa mới mua bên Áo và đã tháo kính che gió ra. Chúng tôi chỉ cần đi qua bên dưới rào chắn, trong khi mấy tên cảnh sát nhân dân Vopo*2/ thì bận lo kiểm tra giấy tờ như thường lệ. Rolf đã tính toán nhiều lần, tính đi tính lại, anh lại còn xì bớt hơi các bánh xe: như thế cái xe sẽ không vượt quá 90 cms bề cao. Anh chỉ cần cúi đầu xuống, nhấn mạnh vào cần tăng tốc, thế là chúng tôi sẽ qua bên kia địa phận đất Mỹ! Một "bờ thành" nhỏ làm bằng gạch sẽ bảo vệ tôi khỏi những lằn đạn có thể xảy ra. Và rồi sau đó là tự do...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.