Hôm nay,  

Vòng Hạnh Phúc và Lòng Tri Ân

21/11/202308:18:00(Xem: 3301)

blankblank


Nhà Giáo, cũng là Nhà Văn Doãn Quốc Sĩ, người đứng trên bục giảng các trường Trung học hơn 12 năm; cầm phấn ở các giảng đường Đại học từ cuối thập niên 60 của thế kỷ 20 đến tháng tư năm 1975) đã viết: "Nghề giáo không được cái gì cả, chỉ được hai điều, thứ nhất là tình thầy trò, thứ nhì là tình đồng nghiệp.” Một lần khác, từ giảng đường của trường Đại học Sư phạm Sài gòn, trong bối cảnh của mùa hè đỏ lửa 1972, ông đã nói với học trò của mình , các nhà giáo tương lai: “Trên tấm bảng đen khốn khó, người ta đã cố vẽ lên những vòng hạnh phúc, Vòng hạnh phúc của nước Việt Nam nằm trong tay các anh chị.”
    Trên tấm bảng đen của trường Trung học Ngô Quyền Biên Hòa, lớp chúng tôi  được học với một số Thầy Cô là cựu học sinh Ngô Quyền (Thầy Huỳnh Quan Phận NQK5, Cô Hà Thị Nhung NQK5, Cô Liêng Tuấn Tài NQK5, Cô Phạm Thi Hạnh NQK6, Thầy Diệp Cẩm Thu NQK7). Còn nhỏ, chúng tôi chưa hiểu được hết  tình hình đất nước, cũng chưa được đọc, hay nghe lời khuyên của Giáo Sư/ Nhà Văn Doãn Quốc Sĩ , nhưng chúng tôi cảm nhận được những "vòng tròn hạnh phúc" các Thầy Cô đã vẽ lên bảng đen (có một chút khốn khó trong bối cảnh chiến tranh). Nếu đó là giờ Hình học thì "vòng tròn hạnh phúc"  thấy được cả nghĩa đen, và nghĩa bóng.
    Có những hôm đi học, chúng tôi kể cho nhau nghe "kinh nghiệm" xuống hầm bao cát của mình khi phi trường Biên Hòa bị quân đội miền Bắc pháo kích. Đó là chuyện không lạ trong thời kỳ chiến tranh, nên chúng tôi vẫn nuôi ước vọng lớn lên sẽ làm được nhiều điều cho các thế hệ sau như một khẩu hiệu được thấy ở thư viện của trường "Ngày nay học tập, ngày mai giúp đời"; để các thế hệ kế tiếp sẽ không bao giờ bị “ánh hỏa châu soi sáng đêm đen” như chúng tôi đã trải qua.
   Đáng tiếc vì vận nước, "vòng tròn hạnh phúc" chỉ mới hình thành trong tâm tưởng. Ước vọng của chúng tôi vẫn còn là nụ, chưa kịp đơm bông; chưa đến thời điểm áp dụng vào cuộc đời thì cơn lốc 1975 cuốn Thầy trò chúng tôi ra biển lớn, lưu lạc quê người.
    "Vòng tròn hạnh phúc" chưa bao giờ đầy đủ, nhưng nhiều mảnh nhỏ đã được chúng tôi vẽ lại từ những lời giảng của Thầy Cô.
blank
 
Mãi về sau sau này, hơn nửa đời người, chúng tôi nhận ra trên đời này không có ai thương mình vô điều kiện như Cha Mẹ, không có ai dạy mình vô điều kiện như Thầy Cô. Vì vậy, xin kính cảm ơn Cha Mẹ, Thầy Cô (những ân nhân lớn nhất của đời người) và cũng xin gửi vào hư không lời tạ ơn chân thành đến các bậc sinh thành và quý Thầy Cô đã khuất bóng. 
 
blankblank

Mỗi năm một lần, vào mùa lễ Tạ ơn ở Mỹ, trước buổi tiệc Thanksgiving chúng tôi vẫn thầm cảm ơn cha mẹ, Thầy Cô , những người đã hy sinh một phần đời để chúng tôi có được ngày hôm nay.
    Cũng xin cảm ơn các chs NQ đã nằm xuống hay đã chịu nhiều thiệt thòi để chúng tôi có được những ngày bình an, hạnh phúc. Cuối cùng xin thắp nén hương lòng đặc biệt tưởng nhớ quý Thầy đã bỏ cuộc đời trong năm 2023: Thầy Cù An Hưng, Thầy Nguyễn Kim Linh, Thầy Trần Văn Lộc, Thầy Phan Phát Tân. Công ơn sinh thành dưỡng dục của Cha Mẹ, công ơn giáo huấn của quý Thầy Cô vẫn mãi mãi có một vị trí trang trọng nhất trong tâm hồn.
 

-- Nguyễn Trần Diệu Hương

(20/11/2023)

 

Lời Phi Lộ: Xin ai đó khi đọc tựa đề “Chết Tại Buôn Mê Thuộc” đừng có vội nghĩ ngay rằng tôi đang viết về” Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975” của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Không, đây là câu chuyện hoàn toàn khác hẳn và xảy ra tại Mỹ vào những tháng đẩu năm 1997 đến năm 2000 và câu chuyện được bắt đầu như sau:
Trời tối đen như mực, tiếng mang tác, tiếng hổ gầm từ đại ngàn vọng về xen vào bản hợp tấu bất tận của lũ ếch nhái côn trùng quanh con suối Hầm Hô.
Vừa vói tay muốn lấy cuốn sách đọc dỡ dang tối hôm qua để đọc tiếp, nhưng Phượng-Quỳnh vội dừng tay; vì nghe điện thoại reng. Phượng-Quỳnh vội chụp ống nghe, bước nhanh sang chiếc xa-lông nhỏ; vì ngại tiếng nói chuyện sẽ làm mất giấc ngủ của đứa cháu cưng.
Bây giờ là mùa xuân, chỉ sau Tết mới tròm trèm mươi ngày, nghĩa là khí dương đang mạnh và mọi thứ đang sinh sôi nảy nở. Nàng nhớ da diết vườn cải hoa vàng nơi góc quê. Cái màu vàng miên man như một dòng ánh sáng dắt con người lùi dần vào một nơi chốn nào đó khuất lấp và sáng dịu, một thứ ánh sáng đã bị bọc kín bởi hoài niệm, xa xôi sương mù.
Nằm trong lòng Nhân, Ngân cuộn tròn như chú mèo con, mặt dụi vào ngực để tìm hơi ấm và ngửi mùi thân thể người yêu. Mặt trời lên cao, ánh sáng xuyên qua khung cữa kiếng lớn của căn phòng, không còn ngủ nữa nhưng cả hai luyến tiếc mộng đẹp nên chưa muốn dậy.
Người thì bảo “Chiến Tranh Việt Nam” là cuộc nội chiến Bắc Nam, kẻ thì bảo đó là cuộc chiến chống xâm lăng, chống lại các đế quốc Cộng sản và Tư bản. Riêng tôi, là một bác sĩ phẫu thuật, tôi biết Chiến Tranh Việt Nam” đã là thảm họa của quê hương tôi, của dân tộc tôi..
Con Mén đi ngang, mùi hương bông bưởi từ mái tóc tỏa ra thoang thoảng. Thằng Mễn hít lấy hít để, laị lấy tay quạt quạt như muốn gom hương vào mũi, tụi thằng Chí, thằng Ròm… cười ngặt nghẽo làm con Mén thẹn thùng. Con Mén liếc một cái sắc lẻm.
Mau quá anh nhỉ, mới đó đã hai mươi chín năm. Không ngờ đi ăn cưới người cháu vợ ở Cali, gặp lại anh ở phố Bolsa sau gần ba mươi năm.
Tôi không có thói quen viết về những nhân vật nổi tiếng đã qua đời; dù để “dựa hơi” hay là trút tất cả bất bình/phẫn nộ cho những người không thể nào tự biện minh được! Do đó khi hay tin nhà văn Mai Thảo qua đời, tôi chỉ biết âm thầm niệm kinh/cầu nguyện cho linh hồn anh Mai Thảo được về cõi Vĩnh Hằng!
Y Uyên tên thật Nguyễn Văn Uy, sinh năm 1940 tại làng Dục Nội (nay thuộc xã Việt Hùng), huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên, Bắc Việt. Là con cả trong gia đình có 9 người em, năm 1954 cùng gia đình di cư vào Nam, cư ngụ tại Hạnh Thông Tây, Gò Vấp. Học trung học tại các trường Nguyễn Trãi, Chu Văn An (Sài Gòn). Tốt nghiệp trường Quốc gia Sư Phạm Sài Gòn năm 1964, dạy học tại Tuy Hòa, Phú Yên từ 1964 - 1968.
Yasunari Kawabata sinh năm 1899 và mất năm 1972. Gia đình ông sung túc có truyền thống văn hóa cao. Cuộc đời ông nhiều tang tóc. Ông sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ. Lên bảy, ông mất bà nội. Người chị độc nhất cũng qua đời khi ông mới lên chín. Tang tóc làm tuổi thơ ông không bình thường, và phải chăng đã tạo ra nét mất mát bơ vơ trong văn chương ông.
Đây là tựa đề một tác phẩm văn học rất dễ thương của nhà văn Vũ Bằng. Ông bắt đầu viết từ tháng Giêng 1960, tiếp tục viết 1965, và hoàn thành vào khoảng 1970 – 1971. Hơn mười năm cho một quyển sách, có thể là dòng suy tưởng của tác giả bị gián đoạn do công việc mưu sinh, có thể tác giả chưa nắm bắt được sự rung cảm của riêng mình.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.