Hôm nay,  

Về Kinh Phó Hội

02/12/202306:34:00(Xem: 3152)
Ký

TLTP với nhà văn Trịnh Y Thư, Huỳnh Kim Quang, Phan Tấn hải
Tại Lễ Phát giải VVNM, 2023.
Tác giả, Tiểu Lục Thần Phong (đứng);
(Ngồi, từ trái: Phóng viên VB Thanh Huy, hai Cựu Chủ bút VB Phan Tấn Hải & Huỳnh Kim Quang; đương nhiệm Chủ bút VB Trịnh Y Thư.


Sài Gòn Nhỏ được mệnh danh là thủ đô của người Việt hải ngoại, một thủ đô nhỏ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. Sài Gòn Nhỏ hình thành từ sau khi những lớp người Việt di tản đầu tiên được đưa về quận Cam (Orange County)… và từ đó dần dần thành hình vóc dáng và tầm cỡ như ngày nay. Ở đây hầu như tụ hội đầy đủ các cơ quan truyền thông Việt ngữ, các văn nghệ sĩ danh tiếng một thời của miền Nam, trong số đó có tờ Việt Báo là một tờ báo lớn nhất, lâu đời nhất của người Việt hải ngoại. Sáng lập tờ Việt Báo là nhà văn Nhã Ca và nhà thơ Trần Dạ Từ. Tờ Việt Báo có chương trình “Viết Về Nước Mỹ” (Writing On America), chương trình này đã phát triển hơn hai mươi ba năm qua, đã được quốc hội Hoa Kỳ vinh danh, toàn bộ những quyển sách “Viết Về Nước Mỹ” được lưu trữ ở thư viện quốc hội Mỹ, tính đến thời điểm hiện tại lên đến 22 quyển với 14.000 trang. Viết Về Nước Mỹ còn được mệnh danh là “Lịch sử ngàn người viết”. Chương trình Viết Về Nước Mỹ có tổng số lượng người đọc lên đến hàng trăm triệu lượt đọc, con số này vẫn hiển thị thường xuyên trên mạng Net và trên báo giấy. Có thể nói đây là chương văn hóa tiếng Việt có số lượng người đọc đông đảo và lớn nhất xưa nay.
    Dân biểu Hoa Kỳ, bà Loretta Sanchez đã tuyên dương: “Những câu chuyện VVNM không chỉ kể lại đời sống của hàng ngàn người Việt trên đất nước Hoa Kỳ, mà còn là những trang sử ghi lại hành trình hình thành của cộng đồng người Việt gốc Mỹ”.
    Dân biểu liên bang Mỹ, ông Alan Lowenthal đích thân đến dự lễ phát thưởng VNNM năm 2015 và đã chính thức công bố quyết định của quốc hội Hoa Kỳ về việc vinh danh và lưu trữ sách VVNM tại Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ. Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, ông Jim Webb đã phát biểu: “VVNM đã trở thành chương trình viết văn phổ biến bậc nhất của người Việt tại Mỹ. Hệ thống Việt Báo đã nâng đỡ và tạo cơ hội cho sự đóng góp của nhiều tác giả và tác phẩm. Chúng tôi hãnh diện vì các bạn là một phần của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ”.
    Năm nay là năm thứ 23 của chương trình, tôi may mắn được lọt vào vòng chung kết, thật tình mà nói thì tôi viết để lấp thời gian rảnh rỗi chứ không hy vọng gì thắng giải. Tôi không phải là nhà văn, tôi chỉ đơn giản là một người kể chuyện mà chơi, những câu chuyện rất thật trong đời thường. Tôi viết không hay, không bóng bẩy trau chuốt, thiếu sự lựa chọn ngôn từ. Tôi chẳng biết gì bút pháp nghệ thuật, chỉ đơn giản là người ngồi giữa chợ kể chuyện đời. Nhưng có lẽ trường hợp của tôi ứng với câu ngạn ngữ mà mọi người vẫn thường nói “Thánh nhân đãi kẻ khù khờ”. Quả thật thế, tôi là kẻ khù khờ, hậu đậu không thể nào có ai hơn được.
    Tôi về Sài Gòn Nhỏ phó hội, phải nói là rất vui, vui lắm, được gặp gỡ những nhà văn, nhà thơ danh tiếng như: Trịnh Y Thư, Phan Tấn Hải, Vĩnh Hảo, Huỳnh Kim Quang, Khánh Trường, Đinh Quang Anh Thái, họa sĩ Ann Phong, Nguyễn Việt Hùng… Những nghệ sĩ vào hàng bậc nhất của Sài Gòn ngày trước như: Nghệ sĩ Kiều Chinh, Ca sĩ Khánh Ly, Thu Vàng, Bích Liên… Những nghệ sĩ trẻ, những tài năng trẻ như: Nina Hòa Bình (con gái văn sĩ Nhã Ca-Trần Dạ Từ), Jimmy Nhựt Hạ, v.v. Những tác giả danh tiếng như: Trương Ngọc Bảo Xuân, Kim Loan, Xuân Phước… Các vị dân biểu như: Alan Lowenthal, Janet Nguyễn, cựu thị trưởng Tạ Đức Trí và các quan chức chính quyền khác, và còn bao nhiêu người khác nữa mà tôi không biết hết. Quả thật vừa vui, vừa phấn khích, vừa tự hào vì được trò chuyện, được chụp hình, được tặng sách... rất thân tình. Nhiều vị đáng tuổi cha chú nhưng tất cả yêu cầu xưng anh em vì trong tình cảm văn hóa nghệ thuật không phân biệt tuổi tác, vai vế hay đẳng cấp… Những giọng ca vượt thời gian Khánh Ly, Bích Liên, Thu Vàng, ban hợp ca Cát Trắng… với những ca khúc để đời  như Hội Trùng Dương của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, Tình ca của Phạm Duy, Người Đi Qua Đời Tôi, thơ Trần Dạ Từ, nhạc Phạm Đình Chương… đã dâng tặng cho tất cả mọi người có mặt tại đài SBTN cũng như tất cả khán thính giả trên thế giới (thông qua FB và Youtube của Việt Báo, đài SBTN).
    Sài Gòn Nhỏ ngày Chủ Nhật sau lễ Thanksgiving thời tiết thật đẹp, đất trời California quang đãng mát mẻ. Buổi lễ phát thưởng tổ chức tại sân khấu của đài SBTN, tất cả mọi người đều vui vẻ hạnh phúc thấy rõ trên gương mặt tươi như hoa và những nụ cười rạng rỡ, những cái ôm thân mật và ấm áp làm sao. Tất cả mọi người tham dự được thưởng thức những món ăn rất ngon do các thiện nguyện viên chăm chút một cách chu đáo, những ly vang đỏ càng làm tăng thêm sự hưng phấn cho mọi người. Chương trình kéo dài từ 12 pm đến tận 4 pm mà mọi người vẫn còn tiếc rẻ chưa muốn ra về.
    Đây không phải lần đầu về Sài Gòn Nhỏ, nhưng đây là lần về Sài Gòn Nhỏ đặc biệt có ý nghĩa với tôi. Tôi cũng đã có được một vài bài viết góp vào chương trình VVNM. Tôi thật sự thấy rung động khi về kinh phó hội. Tôi may mắn được gặp những nghệ sĩ, văn sĩ, họa sĩ... danh tiếng mà từ trước đến giờ vẫn mơ ước được gặp mặt trong đời.
 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 11/2023)

Em nằm im lặng nghe đêm thở | Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm | Anh ạ, em nghe Tháng Tư khóc | Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen.(tmt)
Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.