Hôm nay,  

Mùa Vọng

19/12/202313:28:00(Xem: 3559)
Truyện
nhatho thanhlinh


 

« Cùng nhau quỳ dưới chân Chúa cao sang »

 

Sau ngày kiếp nạn 30-04-1975 thì mẹ tôi vẫn còn một người bạn thân, ở gần, vì ở cùng xóm, xóm Hoàng Diệu. Đó là bác Mão. Bác buôn bán rất giỏi, tôi chưa thấy ai tháo vát xoay sở trong mọi hoàn cảnh đổi thay mà hay như bác.
    Trước ngày mất nước, bác làm cho hãng Shell, sau khi giải thể, bàn giao cho cộng sản, bác về nhà nghỉ ngơi ít ngày, rồi bác đắp ngay một cái lò nướng bánh mì kiên cố trong sân nhà. Phải nói là nhà bác rất khang trang với một cái sân rộng, diện tích lối gần 250m² bác nói ngồi ôm cái buồn chỉ buồn thêm, nên bác mượn một công thợ rồi cùng với người thợ xây làm bánh mì. Ơ hơ thì sẵn nhà nước không có gạo, mà bán toàn bột mì, thì ta làm bánh mì, bán và ăn luôn, giờ ta biến thành tây, bác cứ nói vui vui như vậy.
    Bác có năm cô con gái, bác bảo ngũ long công chúa, nên chúa cho bác ăn nên làm ra theo thời. Ba chị lớn giúp bác rất nhiều việc, từ việc thu dọn nhà, cơm nước, đến việc sản xuất bánh mì. Hai đứa sau cùng trạc tuổi chị em tôi, còn cùng nhau đi học lớp 6, lớp 7 trường phổ thông cấp II gần nhà. Chúng tôi thường sang nhà bác chơi luôn. Gọi là sang chơi, chứ chúng tôi cũng phụ bác thu xếp sân, nhất là kiểm đếm bánh mì ra lò.
    Trước cổng nhà, bác bầy một cái tủ kính nhỏ, đã nói là bác khéo tay lắm, trong tủ kính bán bánh mì đó, bác bán bánh mì kẹp thịt đỏ, xá xíu, pâté gan và đồ chua, tất cả là do hai bàn tay thiện nghệ của bác sáng tạo… và bán rất đắt hàng, bán rẻ mà.
    Mỗi ngày, từ 5 giớ sáng tinh mơ, chuông nhà thờ Thánh Tâm thong dong đổ, mời gọi giáo dân đi lễ, là bác Mão đã cong lưng đạp xe đạp mang bánh ra nhà thờ, bác giao cho ông quản Bích bán hai giỏ bánh mì đầy. Tiền bán thu được, thì bác nói ông quản giữ lấy mua đèn cầy, hoa, nến lớn, nhỏ và trả tiền điện… mọi thứ lặt vặt cần cho giáo đường. Loại bánh này thì nhào bột, bác chỉ chúng tôi nắm những vắt bột nhỏ, nở thành bánh mì con cóc, cho tiện bán, bột này bác nhào kỹ và trộn thêm chút đường vàng và vani cho thơm. Còn bánh mì để bác trước nhà và bánh mì tổ bác làm lớn gấp hai lần và dài gọi như là bánh baguette. Nói vậy chớ bánh baguette lúc ra lò cũng thơm đáo để, có lẽ vì mùi vani và mùi lá dứa lót lò còn sót lại từ những đợt nướng bánh trước.
    Bác Mão theo đạo công giáo, rất thuần thành, yêu kính và sống theo ý chúa và đức mẹ Maria, bác, dù bận tới đâu, cũng không bỏ qua tuần thánh nào mà không đi ngắm. Bác lấy chồng theo đạo Phật, đúng hơn là đạo ông bà, điều này không quan trọng, vì bác Mão rất đạo đức và nể trọng mọi đức tin. Khi chồng bác mất, bác trang trọng lập một bàn thờ riêng cho bác Doãn, chồng bác. Trên bàn thờ chồng, trước tấm ảnh phóng lớn của bác Doãn mặc quân phục Việt Nam Cộng Hòa rất uy nghi, bác để một bình hoa sen và một lư hương nhỏ bằng đồng sáng loáng, mỗi lần vào thắp nhang cho chồng, bác lại tần ngần đứng lại, lấy khăn sạch lau lau chùi chùi nhiều lần, đến độ cái lư hương sáng loáng soi gương được.
    Thảng hoặc, có buổi chiều nào thu xếp xong việc buôn buôn bán bán, bác lại hâm nóng một ít bánh mì còn dư trong ngày, xào tí thịt vụn với mỡ hành, dồn vô bánh, để sẵn đó, mấy người công an khu vực có tới hỏi mua, bác chỉ tặng họ mà không lấy tiền, họ hay đi kiểm tra hộ khẩu mỗi tối, nếu họ có thắc mắc, bác nói là, các cháu đã đủ ăn trong ngày, nên bác biếu. Khi nào mà công an khu vực không đến, sáng sớm mai hôm sau, bác lại mang ra cổng chợ Tô Hiến Thành tặng những người  đói còn ngồi tá túc trên các sạp hàng… từ khi chợ chưa họp.
    Bác làm việc nhiều, tháo vát, năng động luôn luôn nên có hơi vội vã, vả lại bác cũng nhỏ người, tròn lẳn, nên mỗi sáng sớm, leo lên xe đạp, là đạp vội vội vàng vàng, ý là cũng không ai để ý, nên đạp khỏe, hai mông nhô lên nhô xuống coi tức cười… từ trong cửa sổ bếp, chị em tôi thấy bác xẹt qua là cười với nhau “Đít bông đã lên đường”. Mẹ tôi hiểu ý, rầy rà, sao các con nói bác như vậy… hỗn láo vừa vừa thôi nghe!
     Tụi con có hỗn láo hồi nào đâu, kìa, mẹ ra coi, bác có hai cái mông nó bông bông thiệt đó chứ… mấy ai được như bả, thôi cứ gọi là “bà đít bông“ cho lẹ!
    Chọc ghẹo vậy chớ tụi tôi yêu quý bác đít bông lắm. Rồi tới một ngày, cũng không bông bông nữa. Vì là nhà nước hết bột mì bán rồi.
    Một ngày, tan học, làm và học bài xong, chúng tôi không biết làm gì nên lại tràn qua nhà bác. Hôm đấy, bác chặt mía cây ngoài vườn, mang vô nhà, róc mía nhai đã đời, mỏi cả răng, dòm nhau cười chán chê, bác mới thân ái bảo cả bọn là:
    Này, mấy đứa, từ nay đừng kêu bác là bác Mão hay bà đít bông nữa nhe… nghe dị hợm, cứ gọi tao là bà Doãn, tao thích vậy, nghe ổn hơn.
    Tụi tôi chu mỏ:
    Chữ Doãn khó đọc lắm bác ơi, mấy đứa cong môi nhọn mỏ ngoẹo qua ngoẹo lại… Doan Do…an Do…an… ngã Doãn…
    Bác cười:
    Tụi bây làm khó tao hoài, thôi được, vậy gọi tao là bác Dân đi.
    Ơ, không phải kiểu nhân dân đòi làm chủ hả bác?
    Tụi tôi lại cười rộ, một đám con nít vô ý tứ, trong khi chị Thanh, con gái lớn của bác, đứng bên cánh cửa, chị lừ lừ mắt rồi kín đáo khép cửa đi xuống sân. Bác cũng nhác thấy chị Thanh, nhưng im bặt, bác đứng dậy lặng lẽ lên lầu, à thì ra bác đi thắp nhang cho bác trai.
    Cứ tưởng ít ngày sau bột mì sẽ có lại, nhưng nước Nga không viện trợ nữa, cái lò làm bánh bỏ không hiu hắt. Bác rảnh rang và có lần vô thăm má tôi. Bác Dân rì rầm có lần tâm sự cùng má tôi, là bác trai mất đi bác buồn vô hạn, nhưng rồi trong một đêm bác mơ thấy bác trai về trong giấc ngủ của bác, vui tươi nói bác phải ráng vui vẻ làm việc mà nuôi con chứ, con thi đông. Bác trai còn nhắn nếu có khó khăn quá, thì hỏi ý anh Hai giúp đỡ!
    Anh Hai nào?
    Thì anh hai Nhạ của tôi đó. Tôi còn có mình ổng!
    Ổng làm lớn lắm hả? Chắc là ổng giầu.
    Cũng không biết, hỏi làm giống gì, thì ổng đưa tay lên miệng « Xuỵt ».
 
***
 
Mùa Noël lại tới, chuông nhà thờ vang vang, « Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bằng an dưới thế cho người thiện tâm… » Nhà thờ Thánh Tâm Hòa Hưng treo đèn kết hoa rực rỡ, dù e dè cộng sản thế nào, nhưng lòng con chiên thổn thức hướng về Chúa. Giáo dân treo đèn kết hoa theo khuôn viên nhà thờ. Tiếng guốc trẻ con soèn soẹt kéo lê trên sân gạch rộn ràng. Các cụ bà cắp chiếu đi xem lễ buổi trưa, chiều, chào gọi nhau rôm rả. Đèn ông sao đủ mầu sáng rực ở một góc sân có hang đá thiêng liêng. Một cái gì rất ấm cúng, được vuốt ve êm dịu trong giờ phút trọng đại Chúa ra đời:
    … Chuông  vang vang chuông vang vang, chuông giáo đường vang vang…
    Rồi cũng một buổi Noël rạng rỡ, ở đấy, khi lễ đã vãn, bác Dân gái tôi còn lại một mình trong hàng ghế cuối. Bác quỳ khấn miệng thì thầm rất lâu. Một lúc sau, chờ cho thật vắng người, bác đi quanh quẩn qua các bàn thờ, rồi trực chỉ lên bàn thánh cha vừa làm lễ xong. Hình như bác xin được xưng tội giùm cho một người ruột thịt của bác đã qua đời. Tay bác không ngừng lần chuỗi mân côi, bàn tay run run.
    Bác Dân nhìn cha xin tha thiết, nước mắt lưng tròng :
    Thưa cha, vậy có ơn chúa, có được không?
    Cha Phéro Giuse Nguyễn Văn Vàng ôn hòa an ủi, cũng như trả lời con chiên:
   Tôi nhắc lại lời chúa, « Anh em chị em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì cửa sẽ mở cho ».
    Lạy Chúa, Thầy Sáu anh Hai con lợi dụng lòng tin của cha Hoàng Quỳnh… xin chúa thương xót!
    Có tiếng nức nở, rồi tiếng đàn piano và tiếng hát của ca đoàn từ trên balcon cao trỗi lên lời vang vang thánh thót :
    « Lạy thánh thần, xin ngài nổi gió lên
    Gió linh thiêng mang linh khí muôn nơi
    Hãy cuốn đi những ô nhục kiếp người
    Cho nhân phẩm nên siêu cao thần thánh ! »
    A-men.
    Đêm Noël đêm Noël ta hãy chúc nhau an bình
    Đêm Noël đêm Noël ta hãy chúc nhau an bình…
    Sau mùa Noël đầy ý nghĩa năm ấy, tôi không còn gặp bác Doãn đi lễ mỗi cuối ngày, mỗi sáng chúa nhật nữa. Bác đã đi xa, bác dẫn bốn con gái đi thật xa. Nhà bác cửa đóng then cài kín mít, bên trong chỉ còn lại một mình chị Thanh, một hôm tôi tò mò nghển cổ hỏi chị qua bờ tường:
    Thế lúc chị đòi ở lại một mình, thì bác gái nói sao?
    Ơ, không, chị không ở một mình, có bà nội chị về đây ở với chị mà.
    Ơ… là lúc chị nhứt định không đi, bác gái có giận không?
    Mẹ chỉ nói là, con không đi, thì con cứ ở lại đây. Mẹ đưa các em đi, xong xuôi, biết đâu rồi mẹ lại về lại với con.

 

Chúc Thanh

(Paris mùa Noël 2023)

 

Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.