Hôm nay,  

Chim về Núi Nhạn

1/14/202413:56:00(View: 4364)


2023-03-20 thoa

Each turn at the road brings
new thoughts and each sunrise
fresh emotions.

– Unknown

 

Ngày xưa nghe hát khi đất nước tôi thanh bình tôi sẽ đi không ngừng.  Sài Gòn ra Trung.  Hà Nội vô Nam …”  Còn tôi, nếu được, thì tôi sẽ đi đâu?  Cái dải đất hình chữ S hiện nay có hơn sáu mươi tỉnh, nếu cưỡi ô tô xem hoa mỗi tỉnh một tuần phải mất hơn một năm. Tôi đã đi hai địa điểm tạm gọi là xa nhất ở Bắc và Nam là Lũng Cú và Cà Mau, thêm vài nơi lên rừng xuống biển nổi tiếng như Sa Pa và Hạ Long.  Lần này, 2023, tôi chọn đi xem Tuy Hòa (Phú Yên) và Qui Nhơn (Bình Định) hai thành phố nhỏ, không mấy nổi tiếng với hy vọng nhìn thấy, cuộc sống tỉnh lẽ vẫn còn đằm thắm hiền hòa, chưa huyên náo chật chội như Hội An, nơi mỗi ngày có cả chục chuyến xe buýt thả nườm nượp khách du lịch xuống bến.  Tôi không có sẵn khái niệm về hai thành phố này, nhờ đó sẽ tránh được sự thất vọng nếu thành phố đã “hương đồng cỏ nội phai đi ít nhiều.”  Tôi sẽ chỉ nhìn ngắm và ghi nhận cảm xúc của riêng mình chứ không phê phán gì cả.
    Những điều tôi biết về Tuy Hòa, gói trọn trong vài truyện ngắn và bài hát.  Tuy Hòa có nhiều nhà văn.  Nghe kể rằng, nhiều người không sống bằng nghề viết, nhưng đến Tuy Hòa ở một thời gian, có lẽ, nhờ phong thủy đều trở thành văn thi sĩ nổi tiếng.  Một nhà văn Tuy Hòa nổi tiếng là ông Võ Hồng.  Ông được nhiều người yêu mến qua “Trận Đòn Hòa Giải.”  Ông còn có rất nhiều truyện ngắn và truyện ở Sài Gòn trước 75.  Văn của ông có phong cách điềm đạm và chững chạc của một nhà giáo.  Tôi hiện có truyện ngắn “Mong Manh Một Thoáng” của Võ Hồng.  Và truyện ngắn “Thư Từ Tuy Hòa” của Cảnh Cửu. 
    “Thư Từ Tuy Hòa” gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi bằng giọng văn ráo hoảnh.  Nhân vật trong truyện, người viết lá thư, là một cô giáo.  Thư gửi một anh quân nhân mới quen.  Khi vào truyện người đọc được cho biết anh lính ấy đã chết vài ba hôm trước khi nhận được thư.  Thư được mở ra sau hai mươi mốt ngày.  Truyện xuất hiện trên Văn số 45, và bút hiệu này chỉ xuất hiện trên tạp chí Văn một hay hai lần.  Nếu nói Cảnh Cửu là bút hiệu khác của một nhà văn, nam hay nữ, nổi danh tôi sẽ không ngạc nhiên.  Nếu xếp “Lá Thư Tuy Hòa” vào thể loại du ký (travel writing), thì đây là một du ký hạng nhất. Hai nhân vật, cô giáo người Tuy Hòa, và anh quân nhân là người gốc Qui Nhơn nhưng đã đi xa từ lâu.  Hai người cùng đi với nhau từ Tuy Hòa đến Qui Nhơn.  Thời gian tuy chỉ một hai ngày nhưng đủ để tình cảm nảy sinh giữa hai người biến thành tình yêu, một thứ tình yêu hối hả, vội vã, của người quân nhân, sống như không có ngày mai và cô giáo cũng biết là anh quân nhân có thể không có ngày mai.  Cảnh Cửu nhắc nhiều đến những địa danh thuộc Phú Yên và Bình Định.  Mỗi địa danh có kèm theo một vài chi tiết đặc biệt về địa danh ấy, chỉ có người sống ở đó nhiều năm mới nhận ra.  Tôi vẫn thường cho rằng phải là người sống nhiều năm ở một nơi chốn nào đó thì mới có thể diễn tả cái hay, cái đẹp, cái dễ thương hoặc là dễ ghét về nơi chốn ấy.  Cảnh Cửu củng cố niềm tin này trong tôi.
    “Con sông Đà Rằng chảy qua cây cầu một ngàn hai mươi thước đó làm anh mê à.  Mùa mưa nước lênh láng bao la thật.  Cũng mùa mưa nước đổ dầm dề gió bấc cắt da chỉ còn con sông Đà và chỏm núi Nhạn là tương phùng như trong chuyện Sơn Tinh Thủy Tinh.”
    Qua Cảnh Cửu, Tuy Hòa có cây cầu xe lửa chạy trên cao, gió dũi dũi trên mặt sông mát lịm, đập Đồng Cam, đèo Cả, đất úng phèn Hảo Sơn, sông Đà và núi Nhạn. Nghe kể rằng, núi mang tên Nhạn vì ngày xưa trên núi có chim nhạn làm tổ rất đông.  Chim nhạn có lẽ là chim én, hay yến, nếu không cũng chung giòng họ.  Tôi không hề biết hình dáng chim nhạn, nhưng loài chim này luôn gợi lên những hình ảnh rất thi vị.
    Nhạc sĩ Tu Mi trong bài “Tan Tác” viết rằng: “Mây bao la trời đen u tối. Đêm đông trường lữ khách bâng khuâng. Ngóng về phương xa chờ tin nhạn. Nhưng nhạn nào có biết nơi nao mà chờ.”
    Hàn Mặc Tử, mộ chôn nơi Ghềnh Ráng, cũng từng mong chim nhạn về. “Trước sân anh thơ thẩn. Đăm đăm trông nhạn về. Mây trời còn phiêu bạt. Lang thang trên đồi quê.”
    Chim nhạn, gợi lên hình ảnh của sự lãng du, phiêu bạt, và từ đó, sự chia ly.
Trên đường lên tháp Nhạn, tôi bước chân theo mấy câu hát nhịp nhàng “Anh còn nợ em. Chim về núi Nhạn. Trời mờ mưa đêm.” Tưởng tượng đến khuôn mặt nhăn nhó đau khổ, của anh ca sĩ nào đó rồi tự hỏi: núi Nhạn đóng vai trò gì trong chuyện anh còn nợ em của Anh Bằng.  Phải công nhận, thi sĩ và nhạc sĩ có tài xâu chuỗi những sự vật tưởng chừng như chẳng liên hệ gì với nhau, như nợ em, núi Nhạn, và mưa đêm, để làm thành câu hát.  Phải chăng, chim quay về chốn cũ mà người ra đi không về, cũng chẳng có thư, nên người nơi xa cảm thấy mình thiếu nợ người ở lại?
Trước khi đến Tuy Hòa tôi có thăm tháp Chăm  Po Klong Garai ở Phan Rang.  Tháp ở trên đồi không cao lắm, chừng trăm bậc thang, nhưng có lẽ vì say xe, hay tại buổi sáng hôm đó tôi uống ly sữa pha bằng nước chưa sôi, cũng có thể vì trời nóng quá sức tôi chịu được nên tôi bị đổ mồ hôi lạnh, choáng váng, và nôn mửa (triệu chứng của bị sốc nhiệt).  Vì vậy, khi nghe Tuy Hòa có tháp Nhạn, tôi ngần ngừ không muốn thăm dù tiện đường đi và gần thành phố.  Hầu hết tất cả tháp Chăm  miền duyên hải thường được xây trên đồi cao, gần cửa biển, có sông rộng và dài chảy sâu vào nội địa.  Tôi sợ trời nóng, sức yếu không lên nổi đồi cao.  Tuy nhiên núi Nhạn cao chỉ 64 mét so với mực nước biển.  Và du khách không cần phải đi bộ leo bậc thang mà có xe “tram” chở thẳng lên đồi. 
    Tháp Nhạn nhỏ hơn tháp Po Klong Garai.  Trên đỉnh tháp có linga, được phục chế có màu xám của xi măng chứ không đỏ cái màu đặc trưng của gạch xây tháp.  Trước kia núi Nhạn bị Pháp bắn pháo vào làm sụp đổ một phần tháp.  Vòng quanh chân tháp Nhạn có nhiều tượng phục chế trong đó có Ganesha khiến tôi đoán tháp sẽ thờ thần Hindu, nhưng, tháp thờ thánh mẫu Thiên Y A Na một phiên bản của thánh mẫu Thiên Hậu.  Người Chăm là những người thiện chiến hoặc chuyên nghề mua bán vận chuyển bằng đường biển.  Thánh mẫu Thiên Y A Na là vị thần phù hộ cho người đi biển được an lành.
    Đứng bên tháp Nhạn tôi thấy có hai cây cầu.  Một cây cầu bắc ngang sông Đà Rằng, còn gọi là sông Ba.  Còn cây cầu kia dành riêng cho xe lửa.

1 Cầu Đà Rằng
Cầu Đà Rằng, tức là cầu sông Ba.

“Con sông Đà Rằng uốn khúc tự Cao nguyên xa.  Nó mang về đây ruộng lúa đập Đồng Cam sau khi đã bỏ đất đen miền nhiệt đới Cheo Reo.  Ruộng lúa có xanh tươi thật, bông trái có trĩu cành thật.  Nhưng đó chẳng qua là một cái gì nhỏ bé của xứ Phú Yên này.”
– Cảnh Cửu

2 cầu xe lửa Tuy Hòa
Cầu dành riêng cho xe lửa ở Tuy Hòa.

“Họ vui mừng với những con tàu đến để rồi buồn rầu với những con tàu đi. Lòng họ trống không, mắt mờ như hồn tôi mờ theo con tàu hăm tám tết năm nay.”
    “Buổi trưa tôi lên ở ga này thấy anh đang gặm bắp đó.  Hồi còi run rẩy lìa ga xép.  Con tàu thì chạy anh thì nhai dễ thương chi lạ.  Tôi đâm ra yêu cái thân xác run run của con tàu, tiếng động rêm rêm trên đường sắt và người đồng hành biết thưởng thức hương vị quê hương mình – biết đâu đó cũng là sự chung tình khả ái.” – Cảnh Cửu.
    Trên núi Nhạn vẫn còn cái lô cốt từ thời Pháp.  Ngày tôi đến có hai người đàn ông mặc thường phục đang ăn trưa, một trong hai người là bộ đội phục viên, người kia là khách của ông.  Có lẽ một trong hai người là nhân viên trông chừng tháp.
    Từ Tuy Hòa, theo chân Cảnh Cửu tôi đi Qui Nhơn.  Theo ông, Qui Nhơn là một vùng quê hương nghèo nàn, cuộc sống khó khăn.  Qui Nhơn có gì? Đường hầm qua dãy Cù Mông tối đenVân Canh nhiều thượng.  Diêu Trì ngã ba.  Cầu đôi nước đứng. Tháp Chăm  gạch đỏ và núi Qui Nhơn lở lói. Và có mộ Hàn Mặc Tử.  Trần Thiện Thanh trong bài hát Hàn Mặc Tử đã viết “Tìm vào cô đơn, đất Qui Nhơn gầy đón chân Hàn đến.”  Tại sao Qui Nhơn gầy?  Vì nghèo?  Nhìn trên bản đồ thì tỉnh Bình Định có hình dáng gầy guộc hơn so với tỉnh Gia Lai. 
    Qui Nhơn giàu nhân tài.  Về văn học hiện đại có Hàn Mặc Tử, Quách Tấn và Chế Lan Viên.  Văn học hậu hiện đại - miền Nam trước năm 75 có ông Võ Phiến.  Trong sử học thì có những danh tướng của Tây Sơn như Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân. 

3 Tháp Nhạn
Tháp Nhạn.

4 Tháp Po Klong Garai
Tháp Po Klong Garai.
 
Những người thích đi xa thường thích đọc và viết bút ký về du hành.  Người đi cũng như người viết, chắc có lần tự hỏi, hay bị người khác hỏi đi để làm gì?  Du lịch là một sở thích rất cá nhân, cho dù có đi chung nhiều người, mỗi người sẽ có câu trả lời riêng, vì những điều họ tìm kiếm, để thỏa mãn nhu cầu nào đó sẽ rất khác biệt nhau, đôi khi không dễ dàng thố lộ với bất cứ người nào. 
    Người ta bảo rằng “đi một ngày đàng, học một sàng khôn.”  Không dám nói là đã học được thậm chí một phần mười của sàng khôn, nhưng chuyến đi đưa ra những câu hỏi, khiến tôi nhận ra rất nhiều điều tôi không biết.  Hai cái tháp Chăm khiến tôi tự hỏi người Chăm là ai.  Ranh giới quốc gia của họ từ đâu đến đâu?  Họ có mặt trên dải đất miền Trung bây giờ là Việt Nam từ lúc nào? Vâng.  Tôi thú nhận mình là người dốt sử ký và địa lý.  Người Chăm vẫn thường bị gọi là Mán là Mường, và, bọn Chiêm bọn Hời. Nhưng, người Chăm đã biết xây dựng những kiến trúc đầy nghệ thuật và rất bền vững, trước khi Đại Việt có nền văn hóa đáng chú ý về mặt kiến trúc rất nhiều năm.  Từ người Chăm người Đại Việt bắt chước trồng một loại lúa ngắn ngày (mau thu hoạch) và chịu được hạn hán gọi là Chiêm Mễ.  Những đồng lúa ít nước và ngắn ngày này được gọi là đồng Chiêm.  Tại sao một nền văn minh cường thịnh như thế sao lại trở nên mai một? 
    Về nhà, đọc Wikipedia, đọc Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, và một vài quyển sách khảo cổ tiếng Anh và tiếng Việt về Champa tôi biết thêm một số chi tiết.  Những chi tiết này không có gì mới lạ, chỉ có tôi đến bây giờ mới biết.  Champa còn được gọi là Chăm, Chàm, hay Chiêm Thành.  Người phục chế tháp Po Klong Garai là vua Chế Mân, người đã đánh đổi hai châu Ô và Lý để cưới công chúa Huyền Trân.  Châu Ô nằm trong Quảng Trị và một phần lớn phía bắc Quảng Trị đã thuộc về đời nhà Lý.  Châu Lý cách Huế ngày nay chừng 20 km.  Vua Chế Mân cưới công chúa Huyền Trân năm 1306, lúc công chúa 19 tuổi (1287 - 1340). Tôi có gặp một khúc phim ngắn về công chúa Huyền Trân nói rằng bà sinh năm 1277 nhưng tôi nghĩ là người làm đoạn phim này có thể nhầm.  Một năm sau khi cưới Huyền Trân vua Chế Mân qua đời.  Sử sách không ghi chép năm sinh của ông, chỉ biết ông cai trị Chiêm Thành từ năm 1288 đến năm 1307.  Có nghĩa là khi ông lên ngôi, công chúa Huyền Trân mới được một tuổi.  Trước khi lên ngôi vua, nhiều năm Chế Mân đã cùng vua cha đi đánh trận và chạy loạn (khi thua trận).  Suy diễn một chút, Chế Mân hơn Huyền Trân ít nhất là hai mươi tuổi.  Nếu Chế Mân lên làm vua năm hai mươi tuổi thì ông có thể cùng tuổi với Trần Khắc Chung.  Khi Chế Mân qua đời, vua Trần Anh Tông cho Trần Khắc Chung (1247-1330) đón Huyền Trân về nước. 
    Theo một bản dịch của ông Ngô Bắc (Gió O) nói về mậu dịch của người Chăm, khi thuận gió, từ Quảng Châu (xa hơn Thăng Long về hướng Bắc) đến xứ Chăm  (Champa/Chiêm Thành) mất tám ngày. Tôi, người đọc sử bây giờ, tự hỏi, không biết ngược gió thì mất bao lâu?
    Đại Việt Toàn Thư Sử Ký ghi rằng:
    Năm 1305, tháng 2, vua Chiêm Thành sai Chế Bồ Đài dẫn một đoàn hơn 100 người sang cầu hôn công chúa Huyền Trân.  Cả triều đình phản đối việc gã công chúa, chỉ có hai vị quan Việt là Đạo Tải và Trần Khắc Chung tán thành cuộc hôn nhân này. 
    Năm 1306, tháng 3, công chúa Huyền Trân đến Chiêm Thành làm vợ Chế Mân. 
    Năm 1307, tháng 5, vua Chế Mân chết.  Tháng 10 Trần Khắc Chung (Thượng Thư) và Đặng Văn (An Phủ Sứ) đến Chiêm Thành đón công chúa và hoàng tử Chế Đa Da về.  Thượng hoàng (Trần Thái Tông) sai trại chủ Hóa Châu cho thuyền đưa 300 người Chiêm về nước.
    Năm 1308, tháng 8, công chúa mới về đến triều đình.  Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi rằng vì Trần Khắc Chung tư thông với công chúa Huyền Trân nên mất 10 tháng cho chuyến đi.
    Năm 1311 công chúa Huyền Trân qui y ở làng Hồ Sơn, huyện Thiên Bản nay thuộc Nam Định – Chùa Nộm Sơn – Quảng Nghiêm Tự.
    Tháng 12 năm 1312 Trần Khắc Chung được phong chức Tả phụ, tước quan Phục Hầu.
    Sử ký ghi rằng Trần Khắc Chung đã dùng mưu, đặt thuyền nhẹ ở bờ biển, cướp Công Chúa đưa đi, lúc nàng làm bị đưa lên đài hỏa thiêu theo nghi thức người Chiêm Thành hễ vua chết thì hoàng hậu bị hỏa thiêu để được theo vua. Là người đọc sử, tôi tự hỏi, tại sao khi Công Chúa về đến Thăng Long vua lại cho đưa 300 người Chiêm về Chiêm Thành?  Có phải họ ở trong đoàn tháp tùng đưa công chúa về Đại Việt?  Nếu Trần Khắc Chung dùng khinh thuyền để cướp công chúa thì làm sao mang được hơn ba trăm người? Nếu tư thông với công chúa Huyền Trân, Khắc Chung đã phạm tội khi quân; tuy vậy, ông không bị trừng phạt. Trái lại, bốn năm sau khi bị cáo buộc tội tư thông với Huyền Trân, Trần Khắc Chung lại được lên chức trở thành Tả Phụ.  Trần Khắc Chung hơn Huyền Trân đến 40 tuổi.  Lẽ nào một vị công thần vào sinh ra tử, đánh giặc phò vua, lại đi tư thông với một người đáng tuổi con cháu mình?  Lẽ nào, Trần Khắc Chung đã có tình ý với Huyền Trân lại tán thành việc đưa người mình yêu sang làm vợ Chế Mân?  Không tin chính sử thì chẳng biết dựa vào đâu để tìm hiểu sự việc xảy ra. Tuy vậy, sử Việt có thể đáng tin đến mức độ nào?  Khi công chúa Huyền Trân kết hôn với Chế Mân, hai nước Chiêm Thành và Đại Việt có quan hệ hòa bình khá bền vững.  Hai nước không có chiến tranh với nhau.  Ngay cả khi Huyền Trân về Đại Việt hai nước cũng không có những trận đánh lớn cho mãi đến bảy thập niên về sau.
    Năm 1377, vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga, người có tài binh lược, giỏi thu thập tin tức gián điệp, mang quân sang đánh Đại Việt.  Vua Chiêm lập mưu, bao vây và giết chết vua Trần Duệ Tôn.  Chế Bồng Nga có tài dụng binh, khi đánh cho voi đi trước mở đường khi rút lui cho voi đi sau cùng để bọc hậu.  Mười hai lần mang quân đánh Đại Việt.  Hai lần quân Chiêm đánh vào tận Thăng Long, đốt cung điện cháy tan hoang. 
    Năm 1390, ngày 23 tháng Giêng, Chế Bồng Nga đang ở trên chiến thuyền thúc quân đánh Đại Việt. Bị tướng nhà phản bội chỉ cho quân Đại Việt biết chiếc thuyền có Chế Bồng Nga.  Quân Đại Việt cứ cho súng bắn vào thuyền của vua Chiêm cho đến khi ông tử trận ở Đồ Bàn. 
    Vua Trần Thuận Tôn khi nhìn thấy thủ cấp của Chế Bồng Nga đã cởi áo bào gói lại để tỏ lòng kính trọng một địch thủ tài ba.  Trận Đồ Bàn là trận đánh mà cả hai bên Đại Việt và Chiêm Thành đều xem là trận vinh hạnh nhất của nước mình.  Đồ Bàn ngày nay là Qui Nhơn, Bình Định.
    Tôi nghe văng vẳng bên tai câu hát “Ngàn thớt voi uy hiếp quân giặc thù.  Triền sóng xô.  Muôn lớp quân Chiêm tiến như tràn bờ… Rừng hoang vu mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu.  Lầu các đâu, nay thấy chăng rừng xanh xanh mịt mù” mà nghĩ đến trận thư hùng giữa Chiêm Thành và Đại Việt.  Bờ cõi quốc gia và những giấc mộng đế vương giờ chỉ còn là nền cũ lâu đài bóng tịch dương.  Basho đã từng cảm thán.
 
Mùa hè cỏ mọc xanh tươi
Tàn thân dũng tướng, mộng đời đế vương
– NTHH dịch
 
Rời tháp Nhạn, những câu hát trong bài Chiều Qua Tuy Hòa của Nguyễn Đức Quang bay vờn sau lưng tôi.
 
Ôi những chiều mây vắt ngang lưng đèo.
Vọng Phu đưa mắt như buồn theo.
 
Cảnh Cửu nhắc đến những món ăn Tuy Hòa như cá lúi kho hành ăn với khoai lang, cá ồ ồ gói bánh tráng, càng cua biển to như cái sừng trâu và cơm vắt với cái đùi gà to tướng.  Tuy Hòa của Cảnh Cửu giống như một tấm ảnh đã cũ, loang lổ, hoen ố màu thời gian.  Bây giờ người ta nhắc đến sò Ô Loan, bánh xèo tôm nhảy.  Làm gì còn cái đùi gà to tướng với nắm cơm giá mười đồng.  Tuy Hòa và Qui Nhơn không còn cuộc sống đơn giản Cảnh Cửu miêu tả.  Mộ Hàn Mặc Tử bây giờ đẹp hơn căn nhà ông ở ngày xưa.  Người bây giờ đến Qui Nhơn thì ra Eo Gió chụp ảnh sống ảo.  Buổi tối ngồi ở tháp Nghinh Phong Tuy Hòa ngắm đèn màu sặc sỡ.  Buổi sáng đi bộ vòng quanh ở hồ Điều Hòa tập thể dục.  Về đêm dạo bờ biển Qui Nhơn nghe sóng vỗ rào rạt mà nhớ bài Biển Nhớ của Trịnh Công Sơn. 
    Trong cuộc Đại Việt mang quân đi mở cõi, đã có biết bao nhiêu phụ nữ Chiêm và Việt mắt hướng chân trời ngóng trông chim nhạn và chờ người chinh phu.  Đời Trần có một công chúa lấy chồng xứ lạ, khiến người đời sau có câu hát thở than.  “Nước non ngàn dặm ra đi.dù đường thiên lý xa vời, dù tình cố lý chơi vơi, cũng không dài bằng lòng thương mến người.” 
    Đời Lý Thánh Tôn, năm vạn người Chiêm từ Đồ Bàn bị bắt mang về Đại Việt. Những lời ai oán nước non ngàn dặm ra đi của họ đâu rồi?
    Đi để làm gì?  Đoạn thơ mở đầu bài này nói rằng mỗi khúc quanh của con đường mang đến vài suy nghĩ.  Với tôi, đi để tìm hiểu chính mình. Mỗi chuyến đi mở ra nhiều câu hỏi khiến tôi đi tìm câu trả lời, cho riêng tôi.  Phải chăng, tôi cũng giống như một loài chim, kiếp nào đó đã từng sống ở núi Nhạn, lâu ngày tìm về để thăm một quê hương không còn là của mình và rồi sẽ trở nên xa lạ.
 
mỗi khúc quanh trên đường,
mang về ý tưởng mới
mỗi buổi rạng vầng đông
cảm xúc phả mùi hương. – NTHH dịch của tác giả Vô Danh
 
– Nguyễn Thị Hải Hà
Tháng Giêng năm 2024

 

Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.