Hôm nay,  

Lên "Phây"

28/03/202416:36:00(Xem: 4973)
Truyện

Nông_dân_Việt_Nam

Hạo chỉ có cậu Tân là người cậu duy nhất. Mẹ Hạo là chị cả trong gia đình có bốn người con. Mẹ, dì Hiên, cậu Tân và dì út Hậu. Cậu Tân vốn là một nông dân chính hiệu. Hình như cậu học mới qua bậc tiểu học là cậu bỏ cây bút để cầm cái cày, cái cuốc. Đến năm cậu trên bốn mươi, cậu đã có bảy người con, bốn trai, ba gái. Có lẽ cậu thấy cuộc sống làm một người nông dân quá cực hay sao mà cậu nhảy ra tham gia chánh quyền. Cậu được bầu làm xã trưởng.
    Trong thời buổi tao loạn ấy, người tốt việc tốt càng dễ bị ghét. Ghét bên phía địch đã đành, mà phe ta cũng không thương được, vì những chia chác quyền lợi. Địch thì hằm hè bên lưng, mỗi tối phát loa phóng thanh kêu gọi diệt ngụy, diệt ác ôn. Lúc nào trong danh sách diệt, tên cậu cũng đứng đầu sổ. Cho đến một ngày, cậu bị diệt thiệt. Đó là một buổi trưa cậu Tân bị địch phục kích. Cậu bị bắn chết giữa thanh thiên bạch nhật, lồng ngực cậu bị vỡ nát vì đạn AK xuyên qua, máu tuôn xối xả. Cậu tắt thở ngay tại chỗ.
    Cái chết của cậu, làm bảy đứa con của cậu bị hụt hẫng, bị rơi vào một khoảng trống không định hình. Mợ Tân chỉ là một bà nhà quê tay lấm chân bùn, nên cố nén cơn đau để sống, làm ruộng, nuôi con. Có thể nói là lây lất. Không đứa con nào học của cậu hết bậc trung học. Những đứa con gái thì đứa có chồng, đứa không, những đứa con trai cũng làng nhàng làm anh nông dân tiếp nối...
    Rồi cái gì cũng qua. Mấy đứa con trai cũng thành gia thất, cùng nhau sống trong khu vườn của cậu để lại, mỗi đứa làm một cái nhà nhỏ quanh vườn.
    Hạo đi xa quê từ năm mười sáu tuổi, nên những đứa em con cô cậu với anh, cái tình cũng nhạt. Bởi vì sự thân quen, thương yêu, thường thường được nối kết bởi sự gần gũi, sự giao tiếp, sự chia ngọt sẻ bùi. Nhưng Hạo không có những cái đó. Anh sống ở thành phố, rồi đi xa, cũng tự lập, tự lực tự cường. Như hai phương trời cách biệt. Chỉ có thỉnh thoảng mới nhận được tin, đứa này gả con, đứa kia cưới vợ cho con. Khi anh biết hỷ tín, thì ngày cưới đã qua cũng mấy tháng rồi, nên anh cũng không có quà mừng hay lời chúc mừng gì đến các em, các cháu.
    Thế cũng trên bốn mươi năm qua.
    Tự dưng mấy hổm rày, trên "phây" anh xuất hiện một cái tên, Hải N. Nguyễn. Và có một câu hỏi anh, anh Năm đó hả, anh khỏe không? Tự nhiên Hạo thấy bức xúc, suy nghĩ rất lung. Trở đi trở lại những bạn bè thân quen, lớn nhỏ, ai biết mình là anh năm cà? Hạo ra xã hội, sống với đủ mọi nghề với tên khai sinh là Hạo. Bạn bè đều kêu anh là Vũ Thanh Hạo, ai biết được Hạo là con thứ năm trong gia đình. Anh năm. Đúng, đó là tên gọi hồi nhỏ trong gia đình của anh. Chị hai, chị ba, anh tư, anh năm. Chỉ có bà con cô, cậu, dì, mới biết được thôi. Anh lục tìm và suy nghĩ mãi. Cuối cùng anh chịu thua, nên đành hỏi lại trên "phây". Hải N Nguyễn là ai vậy? Trả lời. Em là Hải, con thứ ba của cậu Tân đây. Câu trả lời làm anh chưng hửng. Cảm động.
    Mấy năm nay vi tính lan tràn ở Việt Nam ngày một nhiều, internet, rồi điện thoại thông minh, rồi "phây bút". Cho nên cả quả địa cầu rộng thế mà trở nên gần xịt. Gần thiệt gần, mà xa cũng thiệt xa. Gần, nghĩa là như anh đi chùa ngày mùng một, thấy những cây hoa tường vy bên mép chùa đẹp quá, liền nói với Mây, anh với em cùng chụp cạnh cây tường vy này một đi. Anh nhờ người đàn ông đứng cạnh, anh chụp giùm tui. Người đàn ông cầm lấy smart phone của anh, rồi bấm máy. Cảm ơn. Anh lấy lại phone và coi hình. Đẹp quá. Em thấy đẹp như hồi mình mới yêu nhau không? Để anh gởi liền lên phây, nhe. Thế là anh làm mấy động tác nhẹ nhàng. Tiếng tích của smart phone rung nhẹ. Mấy giây sau, các bạn phây của anh đều nhận được hình anh và Mây đang tay trong tay, bên cây hoa tường vy ở chùa Quan Thế Âm. Điện thoại lại kêu tích, tích, hàng chục cái reply, có cả của chị hai ở quê. Khen. Hình hai em đẹp lắm.
    Đó nghĩa là Gần, muốn nhìn chị hai, anh hai, anh bốn ở quê (hoặc nói chuyện) bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, cũng được. Nhưng Xa. Muốn thấy chị hai bằng xương bằng thịt, muốn cầm tay chị hai, rờ má chị, rờ mặt chị, coi thử da chị có còn rắn chắc không, hay đã nhão, đã lão hóa rồi, thì cũng phải mất thời gian và có tiền. Phải có tiền mua vé máy bay Eva hay China Airline, phải 24 tiếng mới về đến quê, còn đi một chuyến từ SG về quê nữa, cũng mấy giờ bay. Vậy là Xa. Nghĩa là vũ như cẩn, vẫn như cũ, chứ gì nữa.
    Cho nên bây giờ Hạo được phây của Hải N Nguyễn, anh mừng rơn là liên lạc được với đứa em cô cậu ở quê. Và Hạo cũng thấy mừng cho những đứa em của mình, bây giờ cũng được hưởng chút ánh sáng văn minh, là có thể bấm một cái là biết tin tức anh em, bạn bè, xa nửa vòng trái đất. Hạo chúc mừng, những đứa em con cậu, đã có một gia đình êm ấm, hạnh phúc. Nói cho đúng là các em tự mình vươn lên, làm ruộng, chạy xe ôm, nuôi vài con heo nái, đẻ được mấy lứa heo con, nuôi mấy con bò, đẻ được 2 con nghé, đó là vốn liếng có được từ mồ hôi. Đi làm đồng đã có được chiếc honda sản xuất tại Trung quốc giá có mấy triệu, chạy cũng đỡ mỏi chân.
 
*
 
Còn mấy đứa con gái của cậu Tân. Một lần Hạo về quê, một buổi tối anh ra nhà chị hai chơi. Con đường tỉnh lộ chưa tráng nhựa nên còn bụi đỏ mù trời, một con gió lốc xoáy nhỏ cũng làm đám bụi đỏ bốc lên. Bụi bốc lên chỉ người đi đường, hưởng, hít bụi. Buổi tối vùng quê, trời tối như mực, Hạo đứng trước nhà chị hai ngóng ngó người qua lại cho vui và mong tìm lại cảnh thanh bình cách đây năm mươi năm, anh đã hưởng. Bỗng anh thấy đằng xa bóng một người lầm lũi đi lại. Người đàn bà đi trong bóng đêm, gánh một gánh rau, dáng khập khiễng, khổ nhọc. Khi dừng lại trước nhà chị hai, người đàn bà bỏ gánh xuống khỏi vai, nhìn Hạo trân trân, rồi bật lên tiếng nói:
    - Ỏa. Anh năm, anh về hồi nào đó?
    Hạo ngạc nhiên khi thấy người lạ, không biết là ai mà gọi tên mình. Hạo hỏi lại:
    - Chị là ai đó?
    - Em là hai Thao đây.
    Hạo bật thốt lên:
    - Ô! hai Thao.
    Người đàn bà gầy gò, lại ôm lấy Hạo. Hạo ôm lại, chợt thấy Thao ốm quá! Thao đúng là nạn nhân của cuộc chiến vừa qua. Lớn lên, trên hai mươi tuổi, Thao lấy chồng, một thanh niên cùng quê. Thời loạn lạc thanh niên nào ở yên được, nên chồng Thao vào nghĩa quân. Và nghĩa quân là lính, nên phải đi kích, đi rùng địch ban đêm. Đến một lúc, chồng Thao bị trúng đạn, chết. Thao làm góa phụ hồi mới hăm lăm tuổi.
    Vừa nhà quê, vừa không đẹp, vừa lo kiếm miếng ăn đến đứt hơi, nên Thao không có ai để ý tới nữa. Nay đã trên năm mươi năm qua. Thao leo lên đến hàng bảy, khô queo, khắc khổ như một cây sậy trụi lá. Còn hai đứa em Thao, ai cũng khổ như vậy.
    Hạo biết vậy, nhưng anh cũng không giúp được gì nhiều cho những người em cô cậu. Anh đã qua những bầm giập cuộc đời, và chỉ làm một assembly trong giây chuyền sản xuất, lương ba cọc ba đồng. Dành tiền về quê thăm chị, thăm mồ mả cha mẹ, ông bà đã là hụt hơi. Mấy trăm ngàn đồng Việt Nam anh biếu cho mấy em, cũng chỉ là hột muối bỏ biển. Nhưng anh lại an tâm là các em mình đã sống một cuộc sống lương thiện, trong một xã hội xao xác như thế. Chung quanh toàn hầm hố bom mìn theo nghĩa bóng. Đó là vật chất, xa hoa phù phiếm, đã tràn làm vào tận cùng ngõ ngách. Nói không phải chữi chứ từ trên xuống dưới, các cấp chính quyền, công an, đều đi thụt lùi. Câu nói đúng là xã hội đó, tiếng phát ra là "đầu tiên?" tức "tiền đâu?" Anh không thể khẳng định được tính cách lương thiện của mấy đứa em, nếu tụi nó được làm một chức vụ gì đó có "ăn", thì tụi nó có giữ được tính liêm khiết không? Một xã hội "ăn" từ trên xuống dưới, mấy đứa em làm nông nên không có chỗ "ăn". Nhưng dù gì, giữ được sự trong sạch của mình cũng là điều tốt.
 
*
 
Cái "phây" cũng chiếm chỗ trong Hạo nhiều thời gian. Hình như anh loay hoay với nó suốt ngày. Qua “phây” anh cũng biết tính cách của từng người kết bạn với anh...Người thì thích đăng thơ mình lên “phây”, coi như đó là niềm vui, người thì thích đưa hình, khoe con, khoe vợ. Con gái thì bẹo hình bẹo dạng khoe vú khoe mông. Có đứa con gái kêu gọi phe đàn ông mua viên "cương cứng lâu" cùng với tấm hình tạo dáng rất sexy. Nghĩa là "phây" đúng nơi môi trường oanh kích tự do, từ bom thường đến bom bầy B.52, như hồi chiến tranh, Mỹ đã bỏ bom, rải thảm, xuống ở làng quê, rừng núi ta.
    Cũng nhờ trên "phây" mà Hạo thấy được ngôi nhà lầu ba tầng của người bạn ở thành phố Đ. Nó làm công chức mà sao giàu dữ vậy không biết. Ai cũng trầm trồ, khen ngợi vì Triết tài giỏi, ngoại giao rộng rãi và giữ chức vụ cao. Một lần Triết khoe. Tau sắp hạ cánh rồi mi. Hạ cánh an toàn. Tau sáu mươi với ba cái nhà, hai cái ngoài bãi biển cho thuê và một cái để ở. Như vậy cũng được, mi há. Rồi Triết nói thêm, có lẽ tau nhờ hồng phước của ông bà phù hộ. Ba mẹ tau một đời hiền như cục đất, thấy tau nghèo nên giúp tau vào chỗ ngon, nhờ vậy mà tau mới lên đời. Ký chữ ký kiếm vài chục ngàn đô dễ như chơi. Triết cười rè rè trong ống nghe, có vẻ mản nguyện. Hạo nói, chúc mừng mi nhe. Nhưng anh lại tự hỏi, sao Triết giàu dữ vậy cà? Đúng rồi. Chắc là nó thuộc dạng quan tham, chứ lương tháng của nó, nếu cao lắm cũng khoảng mười triệu, hai mươi triệu là cùng, thì ba cái nhà đó giá cũng cả trăm tỉ, lấy tiền đâu ra. Chắc là không phải do cần cù, đi chạy xe ôm hoặc đi bán chổi đót như một quan chức đã nói. Chỉ có tham nhũng, mà tiền tham nhũng là tiền ăn cắp, đúng là ăn cắp của dân, có gì mà khoe. Và cha mẹ nó ở dưới suối vàng chắc cũng không đồng tình phù hộ nó làm giàu một cách bất chính như vậy.
    Lại một thằng bạn nữa, "sô" hình trên phây một căn nhà lớn, căn biệt thự vùng quê. Căn nhà đẹp thiệt, nhà quê mà có nhà hai, ba tỉ đồng là ngon. Thằng bạn nói, nhờ đứa con tau khôn, giỏi, nên nay nó giàu "cực kỳ". Đây chỉ căn nhà nhỏ thôi, nó làm cho vợ chồng tau ở, chứ ở thành phố, nhà nó mới thật sự "khủng", "cực kỳ hoành tráng" đó mày. Hạo cũng lại viết trên comment, chúc mừng mi có nhà biệt thự, giàu sụ rồi nghe.
    Rồi anh nghĩ đến những đứa con anh ở bên Mỹ này, tốt nghiệp đại học, có đứa là dược sĩ, nha sĩ, mà vợ chồng chúng nó phải làm quần quật suốt năm, suốt tháng. Cũng khoảng mấy năm như vậy, vợ chồng tụi nó mới có tiền down, mua được căn nhà, nghĩa là chỉ trả được khoảng 1/3, còn lại phải cày suốt mươi năm nữa.
    Nhưng Hạo lại thấy tâm bình an.

 

– Trần Yên Hòa

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.