Hôm nay,  

Cho Mẹ nhìn trăng đêm

12/05/202408:08:00(Xem: 3814)
Truyện -- Ngày Lễ Mẹ

full-moon

 

 
“Khi ấy em còn thơ ngây, đôi mắt chưa vương lệ sầu.
Cười đùa qua muôn ánh trăng, đắm xinh đôi môi hồng thắm
Em ngắm mây hồng hay dòng nước trong
Thấy lòng vẩn vơ như tìm một bóng ai…” (1)
  
    Mấy bạn trẻ reo lên:
    “Ôi chao, bác nhớ bài hát giỏi quá! Bác còn bài nào nữa không, cho tụi con nghe với!”
     “Còn, còn chứ!”
    Thế là Mẹ hát luôn mấy bài nữa, rồi đọc tiếp mấy bài thơ. Các bạn say mê nghe, tấm tắc khen. Một bạn nói:
     “Mình có khi nhìn chữ chạy trên màn hình karaoke mà hát theo vẫn không trôi chảy, còn bác hay quá!”
    Một bạn khác:
     “Bác hát cứ như là có chữ hiện ra trước mắt vậy!”
     “Không ngờ một bà cụ trên chín mươi tuổi mà trí nhớ tốt quá, tụi con nể lắm!”
     “Bác ơi! Làm cách nào mà bác nhớ quá nhiều bài thơ, bài nhạc như vậy hở bác?”
     “Bác có bí quyết gì, bác chỉ cho tụi cháu với!”
     “Bác ơi, bác thường ngày ăn uống ra sao, nhờ đâu mà bác minh mẫn như vậy ạ?”
    Ôi thôi, một rừng câu hỏi! Như thể mọi người đang làm một buổi phỏng vấn “người cao niên đặc biệt” vậy. Ngoài những lúc các con, các cháu của Mẹ thay nhau đến chăm sóc Mẹ, thường xuyên có những bạn trẻ hay thân hữu đến chơi, lúc nào cũng yêu cầu Mẹ hát hay đọc thơ như vậy. Mẹ lắc đầu, xua tay, cười:
     “Các cháu ơi! Bác chẳng có cái gì gọi là bí quyết cả đâu! Bác nhớ được như vậy là nhờ bác may mắn thôi, bác cũng đâu có biết tại sao. Còn ăn uống gì ư? Mấy cháu nhìn bữa cơm của bác nè, một miếng đậu hũ kho, một tô canh thơm cà nấu suông, một ít muối mè đậu phụng. Ngày này qua tháng nọ bác ăn như vậy. Con cái muốn đổi món, rồi bác cũng xin quay về cái thực đơn cũ. Cái gì bác cũng nếm một chút rồi cũng không thèm thuồng. Bác coi vậy chứ yếu lắm, đi không vững, nhìn không rõ, tai nghe cũng kém lắm! Chỉ được cái nhớ dai.”
     “Bác ơi! Người già minh mẫn là một ơn phước lớn lắm ạ!”
    Cô bạn trẻ nói xong, bỗng cúi đầu, nét mặt buồn bã. Mẹ tinh ý, liếc thấy, yên lặng vài giây rồi hỏi:
     “Cháu gái, con có gì buồn hả?”
    Cô bạn khóc rưng rức, nghẹn lời:
     “Bác ơi! Con gặp mẹ của con hàng ngày, nhưng mẹ của con… giờ không còn nhận ra con nữa!”
 
***
 
   Một ơn phước lớn lắm, mẹ lẩm bẩm. Mỗi sáng, cứ coi như là “thức dậy” sau một đêm không hề chợp mắt, mẹ tự hỏi tối hôm nay mình sẽ ngủ được không, hay vẫn cứ chong mắt để không làm gì. Thật ra, trong những đêm sâu mất ngủ, trí nhớ của Mẹ làm việc không ngừng. Mẹ nhớ tuổi thơ cơ cực của mình, những ngày tháng không có sự chọn lựa ăn cái gì, vì cái gì có trước mặt là có thể ăn. Đứa bé ba tuổi, mẹ đi làm, cha ở xa, thơ thẩn một mình, chơi một trò chơi kỳ lạ: gỡ vôi tường và… nhai.  Ngày qua ngày. Bà ngoại không hay biết, cho đến khi thấy bức tường mất một mảng vôi lớn. Thế đó! Đến bữa vẫn ăn cơm ngon lành. Đứa bé lớn lên, may sao, đã trở thành cô thiếu nữ trắng trẻo. Tuổi mới lớn, cô đã biết đan áo kiếm tiền, đã biết gánh gồng. Ngày cuối tuần không phải đi làm, cô cùng các bạn lên núi lượm củi. Trưa, ngồi giở cơm vắt ra ăn, cô cất tiếng hát làm vui các bạn. Mãi rồi các bạn bảo cô thôi khỏi lượm củi, để các bạn làm giúp cho, cô chỉ cần ngồi hát và ngâm thơ là đủ. Cô không được học nhiều, nhưng nhờ mê đọc sách, yêu thơ, nhạc, nên cô đã có cả một kho văn nghệ trong đầu. Những bản nhạc, những bài thơ, cứ vậy, lâu dần, giống như thấm, như khắc vào óc, vào tim. Thời của Mẹ là thời của Sơn Nữ Ca, Lỡ Chuyến Đò, Lời Người Ra Đi… Cái thời của:
 
Người nghệ sĩ lăn lóc gió sương
Tơ đàn say đắm quên sầu thương 
Dành tình này cho kẻ khổ đau 
Quên tình xưa thôn nữ chờ mong.
(2)
 
Cho đến một ngày, tiếng hát của cô bỗng như có một giai điệu phụ vào. Ai đang đàn mandolin văng vẳng! Các cô gái, với gánh củi trên vai, men theo dòng suối nhỏ. Tiếng đàn mandolin rõ dần…
 
***
 
Con trai út hỏi:
     “Đêm qua Mẹ có ngủ được không?”
     “Không con ạ!”
     “Vậy ban ngày Mẹ ngủ bù lại đi!”
     “Cũng ngủ nhưng rất ít. Chắc là cái đồng hồ trong đầu của người già quay ngược.”
    Hai mẹ con cùng cười.
     “Con đi làm đây! Chút xíu nữa có em gái út tới chăm Mẹ.”
    Anh con trai ôm hôn Mẹ. Mẹ bảo:
     “Khoan đã, con rót cho Mẹ thêm chút nước sôi đi! Ly nước nguội rồi!”
    Đó là “chiến thuật câu giờ” của Mẹ. Mẹ vẫn muốn trì hoãn một chút, trước khi con đi làm. Cái thuở Mẹ còn khỏe mạnh, Mẹ thường ở nhà một mình. Con cái đi đâu thì đi, Mẹ quán xuyến mọi việc, nấu ăn cho cả nhà, dọn dẹp nhà cửa, thắp nhang tụng niệm, đi chợ, thăm hỏi lối xóm… Nay thì Mẹ chỉ được quanh quẩn trong phòng, muốn đi đâu phải dùng “walker” và có người bên cạnh để đỡ Mẹ. Mẹ có cái cảm giác sợ ở một mình. 
     “Mẹ nhắm mắt lại đi, tưởng tượng đang là ban đêm nhé! Mẹ cần ngủ bù, không thôi bị bệnh. Con đi đây!”
Vâng, nhắm mắt lại thì ngày cũng là đêm. Mẹ cố gắng. Vậy rồi trí nhớ lại bắt đầu làm việc. Mỗi khi nhắm mắt lại, Mẹ thường thấy con đường tối tăm mà Mẹ đi sớm về khuya, làm việc thay cho Bà ngoại khi bà bệnh. Cứ cắm đầu mà đi như chạy, cho ấm. Vừa sợ ma, vừa sợ người. Cô gái nhỏ chứng kiến cảnh sung túc của gia đình “ông tây bà đầm” mà thương thân. Nhưng cô rất cố gắng làm việc, bù lại, cô được “bà đầm” dạy cho nghề đan len. Cô đã có một nghề để phụ giúp Bà ngoại. Cái nghề đó cũng giúp cho đàn con cháu sau này được mặc những chiếc áo len đan rất đẹp. Và Ba cũng có một chiếc áo “ghi-lê” màu len xám Mẹ đan.
    Mẹ không phải ở một mình. Mẹ có Ba!
 
“Có một bận em ngồi xa anh quá,

Anh bảo em ngồi xích lại gần hơn.
Em xích gần thêm một chút: anh hờn.
Em ngoan ngoãn xích gần thêm chút nữa.
Anh sắp giận, em mỉm cười, vội vã
Đến kề anh, và mơn trớn: “Em đây!”
Anh vui liền, nhưng bỗng lại buồn ngay,
Vì anh nghĩ: “Thế vẫn còn xa lắm.” (3)

“Đúng rồi! Bài thơ này Mẹ thường ngâm cho Ba nghe. Sau này các con đã lớn, chúng thường trêu chọc Ba Mẹ bằng cách cho hai đứa giả làm đôi tình nhân ngồi xa xa rồi xích lại gần nhau. Cái thời sao mà vui quá!”
     “Ba nhớ không, mình đám cưới xong là chạy tản cư. Mẹ bị bệnh thương hàn, rồi lại đau sốt rét. Ai cũng nói Mẹ là cọng bún. Mẹ nằm đến nỗi tóc kết lại như đội một cái mũ, không chải được.”
     “Tội nghiệp Mẹ! Vậy mà thời làm dâu cũng cực khổ lắm, làm lụng vất vả, chiều chuộng hết tất cả mọi người.”
     “Cái thời của mình là vậy. Mẹ không than van. Mẹ vui vì mình đã có đàn con ngoan và giỏi.”
     “Ừ, hết con lại đến cháu. Ôm từng đứa, từng đứa, hát ru, nuôi lớn. Ba thật cảm phục Mẹ. Mẹ là cái kho của những bài hát ru và ca dao tục ngữ.”
 
***

Nhà vắng vẻ. Mẹ nghĩ mình thật lẩm cẩm khi tự hỏi: “ Người ta nói dân số thế giới tăng mạnh, vì sao bây giờ nhà nào cũng chỉ có một, hai người? Người ta đã đi đâu?”
    Trong ngôi nhà này, Ba Mẹ từng có một đàn con. Nhà trở nên chật vì con hay ăn chóng lớn. Bây giờ các con đi lập nghiệp, tỏa ra khắp chốn. Cũng trong ngôi nhà này, có lúc tụ tập đến năm mươi người, là bà con chạy loạn từ các nơi về. Lúc đó, Mẹ sắm mấy cái nồi to tướng, nấu cho chừng đó người ăn. Nấu mãi rồi thịt cá cũng không đủ, Mẹ phải nấu canh rau muống với hến. Sau này, Mẹ còn giữ cái nồi nấu canh làm kỷ niệm. Cái nồi ám màu xanh um, chùi rửa không ra.
    Trong ngôi nhà này, cũng đã có lúc nực nồng mùi thịt kho mắm ruốc sả ớt. Nguyên liệu chính là thịt, nhưng lại là thịt hiếm hoi, đi mua phải xếp hàng. Vì vậy, khi hoàn thành món thịt kho mắm ruốc sả ớt, Mẹ cho các con “chấm mút” miếng ruốc còn dư, sau khi đã múc hết thịt vào một cái hũ, đậy kín lại, họp cùng những món khô khác, để đi “thăm nuôi.” Vậy mà cái món thịt kho mắm ruốc sả ớt của Mẹ đã trở thành món cao lương mỹ vị đối với các con cho đến bây giờ.
     Người ta đã đi đâu? Mẹ hỏi vọng lại phía Ba. Ba mỉm cười. Ba đã đi đâu? Gần hai mươi năm rồi!
    Đi lên chùa Ba ạ! Ngày xưa Ba không thích đi chùa, nhưng Mẹ thường đi với mấy bà bạn, rủ mãi Ba cũng chịu đi. Đi ra khỏi thành phố, lên vùng núi một chút, ra vùng biển một chút, về thôn quê một chút, cũng là dịp để du ngoạn. Mẹ cũng “rủ” Ba ăn chay. Mẹ thì ăn chay trường, quen rồi. Ba tập dần, cũng ăn được một tháng bốn ngày. Thật đơn giản, dễ dàng. Mẹ nói lòng mình muốn thì làm gì cũng được. Ba nói: “Vouloir, c’est pouvoir!”
    Ba có biết không, bây giờ những người bạn cùng đi chùa với mình không còn đầy đủ nữa. Nay nghe người này bệnh, mai nghe người kia mất, Mẹ buồn lắm! Thỉnh thoảng có người đến thăm Mẹ, là những người còn khỏe. Họ khen Mẹ còn thuộc lòng kinh sách. Là mình may mắn thôi, phải không Ba? Cái gì đã in vào đầu, sẽ không xóa được. Ngày xưa Mẹ tụng kinh sáng, tối. Mẹ trải tấm chiếu trước bàn thờ Phật, đánh chuông gõ mõ, tụng kinh hàng giờ. Nay thì Mẹ chỉ ngồi trên giường, trang nghiêm niệm Phật mỗi chiều, khoảng mười lăm phút. Chỉ trong những phút giây như vậy Mẹ mới thấy lòng thanh thản. Mẹ hồ như đã quên những ngày tháng cơ cực, những lúc xa con “khóc muốn mù con mắt” và giây phút tiễn Ba đi xa thăm thẳm.
 
***
 
Ngày cuối tuần, con muốn đưa Mẹ đi chơi đâu đó. Chà, lúc này Mẹ chẳng muốn đi đâu. “Cái chân chạy” đã mệt mỏi. Thật ra, Mẹ rất nhớ biển, nhớ núi, nhớ những vùng thôn quê, nhớ những ngôi chùa tĩnh mịch. Bây giờ đi đâu Mẹ cũng muốn phải về trước khi mặt trời lặn để có cảm giác an toàn. Các con chiều ý Mẹ, chỉ đi trong thành phố, sáng đi chiều về.
     “Đi lên nhà anh Cả chơi nghen Mẹ! Anh Cả đau chân, mình lên thăm ảnh.”
     “Ừ, nhưng về sớm con à! Ra khỏi nhà, con phải đẩy mẹ bằng xe lăn, lên xuống vất vả, về tối quá không tốt.”
     “Dạ được rồi Mẹ, mình sẽ về trước khi mặt trời lặn.”
    Anh con út nói như một điệp khúc, và mỉm cười.
    Khi về, đường bị kẹt xe. Đường đông nghẹt, toàn xe gắn máy. Chiếc taxi nhích từng chút, từng chút, rồi đứng luôn. Mẹ bắt đầu sốt ruột. Mẹ không thích cái cảm giác ngồi trong bóng tối. Trời tối thật. Con trai sợ Mẹ lo lắng, kiếm chuyện nói cho Mẹ vui. Mẹ cũng nói. Nhưng có một lúc, Mẹ ngước nhìn qua cửa kính xe, im lặng vài giây, rồi thốt lên:
     “Trăng kìa!”
     “Dạ, đêm nay có trăng.”
     “Lâu lắm rồi Mẹ không thấy trăng đêm.”
    Con trai cười:
     “Dạ, vì đi đâu mẹ cũng muốn về sớm, lúc trời còn sáng.”
    Mẹ lại im lặng… Trong suốt cuộc đời, Mẹ từng bày tỏ sự ngạc nhiên và vui mừng khi được xem nhật thực, nguyệt thực. Trăng đêm, nghe đơn giản và bình thường lắm, sao khiến Mẹ cảm động lạ thường!
    Mẹ lẩm bẩm:
     “Cho Mẹ nhìn trăng đêm. Đẹp quá!”
    Đêm không còn là đêm rộn ràng của người và xe chen chúc trên đường. Đêm bây giờ là đêm của ánh trăng dịu dàng, của tiếng đàn mandolin và câu hát trữ tình:
 
“Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối
Rừng chiều mờ sương ánh trăng mờ chiếu
Một đêm thiết tha rồi đây xa cách
Rồi đây hai ngả biết tới phương nào?” (4)
 
“Người” mặc bộ đồ tây màu kem, dáng thư sinh thanh nhã, đã đến bên Mẹ rồi! Trí nhớ của Mẹ lại làm việc. Những lời của bài hát như hiện ra trước mắt, là ơn phước cho Mẹ, để Mẹ được sống lại những giây phút ngọt ngào nhất trong cuộc đời.
 
– Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
(2024)
 
(1) Trích “Thơ Ngây”, tác giả: Anh Việt
(2) Trích “Lỡ Chuyến Đò”, Anh Việt
(3) Trích “Xa Cách”, Xuân Diệu
(4) Trích “Trăng Mờ Bên Suối”, Lê Mộng Nguyên

Chẳng hiểu vì sao, vào lúc bắt đầu cảm thấy già, tôi lại lẩm cẩm đi tìm lại định nghĩa về chữ “bạn”. Bạn tôi là ai? Tại sao tôi lại kết bạn với họ? Lúc trẻ đã từng có một thời suýt bị vợ bỏ vì “lo cho bạn nhiều hơn cho gia đình”; nhưng khi đến độ tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận” tôi lại đâm ra làm biếng gặp hầu hết những nhóm bạn từng một thời thân thiết.
Hôm đó, cô nhất định phải giết cây dạ quỳnh. Khi đêm tối bao phủ, cô sẽ ra tay. Lấy một con dao bén để xắt cành lá nó ra từng mảnh nhỏ. Lấy chai thuốc Draino loại hủy hoại rễ cây để ngâm hết các rễ của nó. Nó phải chết một cách tiệt tích, không còn một chút cơ hội nào sống sót. Nó phải bị phơi khô trên cao vì Quỳnh đụng đất sẽ có thể mọc lại. Cô biết, giết Quỳnh là mất đi tiếng nói vo ve chị em tâm sự. Cô đơn khi có Quỳnh sẽ thay vào cô đơn không có Quỳnh. Cô sẽ bắt đầu một cô đơn khác.
Càng lớn tuổi chừng nào, thì người ta lại thường hay nhớ tới những kỷ niệm trong dĩ vãng của mình nhiều bấy nhiêu. Nhất là những người cao niên đã về hưu, không còn bị ràng buộc bởi những công việc làm thường ngày của mình như trước kia, nên có nhiều thì giờ rảnh rỗi ngồi ở nhà một mình, để hồi tưởng lại những kỷ niệm buồn vui khó quên trong cuộc đời mình, rồi để có những lúc tâm sự cho nhau nghe lại những kỷ niệm khó quên này, trong những dịp tiệc tùng họp mặt bạn bè.
Lộc đã chết! Tích ngỡ ngàng khi nghe tin đó. Chàng không tin vào tai mình. Làm sao Lộc có thể chết được? Mình mới gặp anh ấy có tuần trước thôi mà! Trông anh còn khỏe mạnh, tự tin, tràn đầy sức sống. Vậy mà bây giờ anh đã không còn nữa. Cái chết của anh có cái gì đó không thật. Và có lẽ đó là lần đầu tiên Tích đứng trước nhận thức trực tiếp và thâm sâu về tính chất phi lý của một sự kiện quá bình thường trên đất nước chiến tranh này.
Từ giữa tháng Tám, trước ngày Lễ Labour Day, các trung tâm shopping đã rầm rộ quảng cáo “On Sale” cho mùa “Back To School”. Các con tôi đã lớn, qua rồi cái thuở đi sắm backpacks, tập vở, giấy bút, lunch bags, áo quần, nhưng lòng tôi vẫn nao nao bâng khuâng nhớ về những kỷ niệm ấy. Cũng có lúc tôi lại nh ... chính tôi, ngày xưa là cô giáo trẻ khi còn ở Việt Nam, và nhất là những tháng ngày ở trại tỵ nạn Thailand, làm cô giáo “đặc biệt” có những học trò cũng rất “đặc biệt”.
Chị Hai đã uống một ly nước đầy và đi làm việc tiếp. Đoan vào lại chỗ của mình. Như một phản xạ, Đoan lại cho tay vào túi, làm như tìm xem trong đó có sót lại một viên kẹo chăng. Mơ hồ, Đoan nhớ ngày xưa Đoan hay ví một hành động “vớt vát” nào đó như là “tìm con cá sót lại trong chiếc giỏ của cô Tấm.” Mắt Đoan cay cay. Bỗng như thấy mình đang đi vào lại đường cây còng. Mùa mưa, những chiếc lá trên cao đọng nước, rũ nhè nhẹ xuống tóc Đoan, nghe mát. Hai túi áo blouse lúc nào cũng đầy kẹo. Đoan vào trại bệnh. Những dãy giường đầy người. Thay băng xong cho ai, Đoan tặng người ấy một viên kẹo
Ở đây tôi chỉ muốn đưa một vài nét chính của các môn Khí công mà tôi đã tập qua, để người đọc theo đó sẽ chọn được một môn pháp thích hợp cho mình tập. Chả thế người xưa thường hay nói “Tùy bịnh chọn công“, tùy theo thể chất và sức khoẻ mà chọn cách tập Khí công.
Ngày tựu trường năm nay, trường Việt Ngữ Suối Mở Offenbach đón tiếp 14 học trò mới với tuổi tác, trình độ tiếng Đức, tiếng Việt chênh lệch khá nhiều. Tạm thời, cô giáo gọi lớp này là Lớp Mới. Giờ học đầu tiên, cô giáo chưa thực sự “dạy” chữ, chỉ “dỗ” các học trò. Hy vọng học trò sẽ thấy học tiếng Việt không khó lắm và tìm thấy niềm vui khi đến trường Việt Ngữ mỗi thứ Bảy. Chờ cho học trò tìm chỗ ngồi xong, cô giáo giới thiệu mình, và tập cho học trò chào hỏi. Nghe các em đồng thanh: “Con chào cô giáo”, lòng cô giáo rộn lên niềm vui, liên tưởng câu châm ngôn “tiên học lễ, hậu học văn” mình được học ngày xưa.
Cô vẫn nhìn thẳng phía trước, không nhìn ngang nhìn ngửa. Anh liếc nhìn cái túi xách giữa hai đùi cô, thấy cộm lên, nghĩ rằng trong ấy có một khẩu súng ngắn, đã lên đạn, lát nữa sẽ kề vào thái dương của anh. Anh nín thở.
Tháng tư 1976, sau một mùa đông ở North Dakota, vừa có bằng lái xe, tôi bỏ việc, bỏ lại một vùng quá bình an, quá tử tế, nhưng cũng quá cô quạnh này, đi thẳng về hướng tây...
“Anh nhớ đến dự lễ trao đẳng cấp Đại Bàng cho thằng con em nha! Để mừng cho em và cháu…” Tôi nhận được điện thoại như vậy từ C., một người bạn trẻ có con trai là hướng đạo sinh thuộc Liên Đoàn Trường Sơn, được nhận danh hiệu Đại Bàng vào ngày 16/08/2025. Đã lâu rồi, kể từ khi hai thằng con ngưng sinh hoạt hướng đạo để đi học đi làm, tôi không có dịp trở về thăm lại liên đoàn. Công việc thì nhiều, thời gian thì ít. Nhưng lần này thì không từ chối được rồi!
Đó là tháng 6-1989, lần đầu đến New York và vào một bảo tàng viện nổi tiếng ở đây, tôi tình cờ, tới chỗ treo một bức tranh trừu tượng khổng lồ, cao khoảng 2 mét, ngang khoảng 6 mét. Tôi kinh ngạc với sự giàu có ở đây, bảo tàng viện này dành riêng ra một căn phòng lớn, đơn giản, sang trọng, chỉ để trưng bày một bức tranh đó...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.