Hôm nay,  

Mưa Bên Kia Sông

30/08/202400:00:00(Xem: 3543)
 
ben kia xong
Hình minh họa
 
1.
Chiếc xe đò rẽ vào ngả ba Lộ Tẻ, chạy chậm lại rồi ngừng hẳn. Trên xe một số người nhốn nháo, ló đầu ra cửa sổ xem có chuyện gì. Anh phụ xe nhảy xuống vội vàng chạy về phía trước. Đã hơn 2 giờ chiều, trong xe hầm nóng và trở nên ồn ào. Vài phút sau, anh phụ xe trở lại và báo tuyến đường về Rạch Giá đã đóng vì nước lũ về ngập một số đoạn đường dài phía trước. Tất cả bà con phải xuống xe, hoặc tìm nhà nghỉ tạm chờ nước rút, hoặc bao đò máy về Rạch Giá. Đó là một buổi chiều giữa mùa nước nổi, tôi theo dòng người bước xuống xe, trời hanh nắng và đứng gió. Đường xá, đò ghe tôi không biết rành, chắc là phải tìm nhà xin trọ, chờ nước rút. Cũng không có gì gấp gáp, tôi đang trở về trường cho khóa học “chính trị hè" hằng năm cho thầy cô giáo của tỉnh. Định hỏi thăm anh phụ xe về nhà nghỉ, thì thoáng tiếng gọi tên mình:

- Thầy Long... thầy Long...

Quay lại, là người con gái dáng dong dỏng cao, tóc ngang vai và nụ cười với chiếc răng khểnh thật tươi. Bất ngờ, tôi vẫn chưa nhận ra người quen hoặc đã gặp ở đâu, đành cười đáp xã giao.

- Em tên Xuyến dạy trường tiểu học An Hòa. Đã gặp thầy Long ở mấy buổi họp giáo dục huyện... Đông quá, chắc thầy hổng nhớ đâu?
- Gặp Xuyến ở đây, mừng quá. Gọi tên được rồi, đồng nghiệp mà...
- Xuyến từ Long Xuyên về. Chắc là sẽ kẹt nước lụt đến mai. Anh Long có dự định về Rạch Giá chiều nay luôn hông?

Đúng là “ở hiền gặp lành”, tôi gật đầu ngay. Xuyến cho hay, khoảng 1 tiếng đồng hồ nữa có đò máy về Rạch Giá ngay chiều nay. Tôi theo Xuyến đến gặp chủ ghe, dặn chỗ. Xuyến rủ tôi đi ăn tạm gì đó, chuyến đò về tới Rạch Giá chắc cũng phải 8, 9 giờ tối. Bên quán ăn và chuyến đò máy chiều hôm đó, tôi và Xuyến đã quen nhau. Xuyến có nước da ngâm ngâm, dáng đi thẳng, rắn chắc và đặc biệt là nụ cười răng khểnh với bờ môi cong thật đẹp... Để rồi những buổi tan trường sau đó, trên chiếc xe đạp, có hôm Xuyến “đèo” tôi, có hôm tôi chở Xuyến. Nhà Xuyến nằm phía bên doi Gòn, mỗi ngày phải qua đò Tắc Ráng. Gọi bến đò Tắc Ráng nhưng thật ra là một chiếc phà nhỏ đưa người qua bên kia ba nhánh sông: doi Gòn, doi Dừa và doi cây Xăng (?). Nhiều buổi chiều đợi chiếc phà nhỏ, tôi và Xuyến có những giây phút bên nhau thật gần và thật “vội”. Vội đủ để Xuyến thường “chê” tôi: “Bàn tay và môi anh mềm như con gái!”.  “Bàn tay thì được, còn môi.. . Làm sao em biết mềm như môi con gái? Em đã thử môi con gái chưa?”. “Nói bậy không hà. Em chỉ so sánh dzậy thôi mà”.

Khác với bề ngoài cứng rắn, Xuyến rất dễ mũi lòng, nhiều lúc thật yếu đuối. Quê ở tận Xẻo Rô thứ Bảy, cô giáo Xuyến cũng rất giỏi về sông nước, ruộng nương. Một lần cùng Xuyến về thăm nhà, tôi mới biết mình thật sự quá “dở” và thương vô cùng những con người chân chất, một đời sống chết với từng tấc đất bờ kinh. Ba má của Xuyến rất hiếu khách và ít nói. Họ sống đơn giản, tần tảo và chịu đựng. Sự chịu đựng hằn lên những vết nhăn của tháng năm và số phận. Chừng như họ không có sự lựa chọn, mà cam chịu như cây lúa theo mỗi chiều gió ngoài đồng. Mồ hôi và máu của họ đã nuôi dưỡng bao lý tưởng của chiến tranh. Để cuối cùng họ vẫn là nạn nhân câm lặng nhất cho dù ai là kẻ chiến thắng. Sự câm lặng của đất, của những cây lúa chín vàng phải chăng là tiếng nói trung thực của lòng yêu nước? Tất cả đã thành thói quen, đã thành nếp như những đường viền chân chất một đời không đổi... Theo Xuyến đi giăng câu, đặt dớn trên những dòng kinh, bờ ruộng tôi chợt thấy lòng mình thật bình yên. Cuộc sống chừng như chậm lại, mọi nhu cầu tưởng chừng như tan biến, nhẹ tênh. Dưới tán dừa, bên hàng điên điển vàng che bóng là những nụ hôn dài, cuống quýt không kịp thở. Bờ môi tôi tham lam, bờ môi Xuyến cũng không muốn dừng. Nhưng không hiểu sao trong những giây phút đó, đôi mắt Xuyến dường như có chút tư lự, có chút băn khoăn. Hoặc lắm khi đang nói cười, nàng bất thần lặng im trong khoảng trống vô chừng. Hỏi, Xuyến chỉ cười nhẹ và nói "không có gì đâu anh!".
            
Người đàn ông đứng tuổi tự giới thiệu tên Phong, hiện đang làm việc ở trại cây trồng thuốc đông y thị xã Rạch Giá. Khuôn mặt đượm chút khắc khổ, thân hình cao lớn, anh Phong xin lỗi đã đường đột gặp tôi. Bên quán cà phê dì Năm trước cổng trường, câu chuyện anh khiến tôi hụt hẫng, bất ngờ. Anh Phong và Xuyến ở cùng quê. Cả hai đã quen nhau vài năm về trước, tình cảm tốt đẹp và họ đã đề cập tới hôn nhân. Chuẩn bị đám hỏi, thì gần đây Xuyến tỏ ra lơ là, có ý chối thoát. Và anh Phong biết được Xuyến quen tôi trong một thời gian vừa qua. Anh không trách cứ gì, chỉ muốn biết tôi là ai, và có tình cảm thật sự gì với Xuyến... Tôi nhìn người đàn ông trước mặt như nhìn thấy chính tôi. Mỗi trái tim có lý lẽ riêng của nó, nhưng đều mù lòa như nhau! Nếu không, sẽ chẳng bao giờ là tình yêu thật sự? Rồi thì cho đến lúc nói lời chia tay, tôi và Phong chỉ ngồi im lặng, không nói gì thêm. Cái bắt tay chắc nịch của anh, tôi hiểu thêm, đây mới là duyên phận, hạnh phúc của Xuyến. Bàn tay này sẽ bảo bọc, nâng niu đời nàng trong những mai này. Không phải là tôi. Nhìn chiếc bóng cao lớn của anh rời khỏi quán, tôi chợt thấy lòng mình là cả bao nỗi chia xa.
 
Trong những ngày sau đó, tôi đã không gặp Xuyến nữa. Mọi liên lạc thư tay, mọi tìm kiếm đến trường, tôi đều trốn tránh. Như không có, không hề xảy ra. Tôi dối người hay tự dối tôi? Cuộc sống với bao hệ lụy vây quanh, như cuốn hút, xô đẩy mọi số phận nhỏ nhoi của chúng ta. Lá thư cuối của Xuyến thật ngắn, mong được gặp tôi như lần sau cùng. Và tôi cũng không còn đủ lý do để từ chối. Buổi chiều bến phà nhỏ Tắc Ráng vẫn vội vã, vẫn tấp nập người. Tôi ngồi khuất  trong một quán nước lụp xụp, hướng về phía bến sông. Khuất chỉ đủ tôi nhìn thấy Xuyến đứng bơ vơ giữa dòng người xuôi ngược. Để nhìn thấy bao lần đôi môi Xuyến cắn chặc và ánh mắt vô vọng, đợi chờ. Chiều nay trên bến sông, tôi đã giữ đúng lời hẹn sau cùng. Với em và với chính tôi.

Gió từ bờ sông nhè nhẹ, hanh hanh hơi nước thổi. Tôi phải nhiều lần cầm lòng, chỉ cố gắng thu hết hình ảnh của Xuyến vào thương nhớ của mình. Chiều chìm dần và cơn mưa cũng chợt đến. Cơn mưa chiều bất chợt, trút nước lên bóng dáng người con gái trên bến nước. Xuyến vẫn đứng đợi, dưới cơn mưa, nhiều lần đưa tay vuốt mặt. Bàn tay đó, bờ môi đó nồng nàn, mãnh liệt. Rồi em sẽ quên tôi, theo thời gian trôi một dòng không trở lại. Rồi tôi sẽ đâu đó bên đời, luôn nhớ dáng hình người con gái bên sông, chiều mưa thương tưởng.Tất cả như một giấc mơ, một giấc mơ có thật. Tình yêu thật sự có được không phải nhốt trong tay, mà buông thả theo đường bay vời vợi của số phận? Và chừng như mỗi số phận con người luôn hiện diện quanh đây,  như bao giọt mưa chợt lăn nhẹ xuống bờ môi tôi thấm mặn…

Chuyến phà nhỏ cuối cùng cũng đưa người con gái tôi thương về phía doi Gòn. Bên kia sông, mưa vẫn bay bay nghiêng che dáng hình người con gái xa dần. Dòng sông buổi chiều mưa lạnh, buồn và mênh mông...  

“Tôi đứng bên này sông,
trời mưa bên kia sông, mắt vương lệ nhòa
vòng tay kín đan thầm dìu nỗi xót xa
Tôi vẫn thương và nhớ
dù mai quên trong tôi, dáng xưa yêu kiều
tình xa vắng cho dài ngày tháng cô liêu..!"   (*)
 
Durham, North Carolina
Nguyễn Vĩnh Long
(*) Mưa Bên Kia Sông - Nguyễn Thiện Lý
 

Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.