Hôm nay,  

Tình Chết Đuối

10/09/202410:29:00(Xem: 3543)

Truyện chớp. Ngu Yên

 

Tình Chết Đuối Ngu Yên
Vô tình đọc báo thấy cáo phó: bà Trần thị Lệ Thanh qua đời, ngày mưa tháng nắng năm trời. Mới hay tình cũ mất đời tình xưa. Không pháp danh cũng không tên thánh. Chủ lễ tang không phải chồng con. Nghĩa là em chết cô đơn. Một người vô đạo linh hồn về đâu? Một cảm giác tê tái từ ngực lan nhanh ra khắp người.

Khắc khoải với ý nghĩ, ông Lý phóng xuống hồ bơi, thả mình chìm trong nước, lập bập gọi Thanh ơi, một dây bọt nước từ miệng trào ra, những bóng bóng trồi lên, vỡ trên mặt hồ, hơi thở âm thầm Thanh ơi, Thanh ơi, tan vào không khí. Người nghe cảm giác gì không? Tình nghe cảm giác tấm lòng chết trôi. Ông Lý muốn chia sẻ cảm giác nghẹt thở, cận kề cái chết, lòng hối hận nặng dần đè ông chìm sâu. Sống không tính lỗi lầm lớn hay nhỏ mà tính lòng hối hận nhỏ hay lớn. Thanh chết đuối ở hồ Tuyền Lâm. Đi du thuyền gặp tai nạn? Buồn quá tự tử? Bị giết chết? Ông không biết. Vội vã trồi lên trong ý thức hồi sinh.

Đứng trước cửa phòng trọ, Lý bưng hộp bánh kem, tay mặt còn kẹp theo chai Cocacola, Thanh đứng sau lưng, tay cầm ly nước mía. Lý nói:

- “Em vào phòng anh ăn bánh mừng sinh nhật xong mình sẽ đi xem phim Love Story, nghe bạn anh nói phim này hay lắm.”

- “Hết phim thì em phải về liền, mẹ em tổ chức sinh nhật chiều nay.”

- “Chìa khóa anh để trong túi quần bên mặt, em lấy mở cửa đi. Không chừng em sẽ tìm thấy món quà.”


Thanh đưa bàn tay lách vào miệng túi. Lý hơi xoay mông lại cho bàn tay dễ lọt vào. Thanh giật tay ra rất nhanh. Dáng điệu bừng cháy giận dữ. Nàng quay lưng bỏ đi. Nhìn bước chân quả quyết, dứt khoát, nhanh chóng rời xa. Lý không kịp, có lẽ, không dám nói gì. Không ngờ món quà sinh nhật nghịch ngợm lại là lý do mà họ gặp nhau lần cuối cùng.

Tôi yêu nét mặt xương xương, vẻ đẹp lạnh lùng, chân dung xa vắng của Thanh. Dáng điệu, cử chỉ, không nhanh không chậm, thoải mái mà chừng mực. Chúng tôi yêu nhau không nhiều không ít, Thanh có giới hạn, dĩ nhiên, tôi thì không. -- “Hôn em, anh có cảm tưởng như hôn bà ni cô.” Thanh cười nhẹ,-- “Em ăn mặn.”
-- “Em có nghĩ, sau khi ra trường mình làm đám cưới không?”

-- “Sao gấp quá vậy. Em muốn đi làm thời gian. Từ từ, anh phải lo việc làm cho tử tế, bố em khó tính lắm.”

-- ”Giữa bố em và anh em chọn ai?”

-- “Anh muốn làm cho em khó chịu phải không?”

Từ nhỏ tôi đã biết mình đẹp. Hầu hết người quen đều nói tôi khó chịu. Có thể, vì tôi thích sạch sẽ và qui tắc. Bạn tôi thường nói: -- ”Thanh, mày lúc nào cũng lạnh lẽo. Cười lên coi. Thằng nào mà dám cua mày.” -- “Anh họ tao muốn làm quen với mày.”-- “Tao không thích.” -- “Anh Tùng bên ban triết muốn hẹn với mày.”-- “Tao không muốn.” –“Định ở giá hả?” –“Lúc nào tan lớp, tao cũng thấy anh chàng đó lảng vảng chờ mày.”-- “Mặc kệ người ta.”

Kể cả sau khi ra trường đi dạy, góc nhìn chọn lựa đàn ông của tôi rất giới hạn. Không cần đẹp trai, nhưng không thể xấu. Không quá cao, cũng không thể lùn. Không ăn diện thời trang, cũng không quê mùa. Không nói nhiều, cũng không câm nín. Không cần thông minh, nhưng đừng ngu khờ. Không cần làm anh hùng, nhưng đừng hèn nhát. Nhưng các tiêu chuẩn này không có nghĩa tôi sẽ chọn người trung bình. Năm thứ hai đại học, tôi đã chọn Lý, anh sinh viên trường Phú Thọ. Người có nhiều đặc điểm. Vừa đứng đắn lại vừa nghịch ngợm. Thường có những ý nghĩ bộc phát khác thường làm cho cuộc tình chúng tôi bật cười. Tiếc là, anh đã nghịch quá giới hạn. Tôi không thể bị xúc phạm. Chuyến xe đời tôi không thể chở bất kỳ ai, chồng, tình nhân, bạn bè, những người làm tôi khinh thường.

Hôm sinh nhật của Thanh, tôi suy nghĩ mãi về món quà. Thanh không tỏ lộ sở thích gì đặc biệt. Con nhà giàu, thứ gì cũng có. Sau cùng, tôi nghĩ ra món quà khác thường, nàng vẫn khen tôi có những ý nghĩ lạ mà hay. Món quà này chắc chắn làm nàng ngạc nhiên và nhớ suốt đời. Tôi có thể hình dung nét mặt nàng sững sờ, rồi thẹn thùng, sau đó yêu tôi nhiều hơn. Khi nghiền ngẫm đủ, kinh nghiệm cho tôi hiểu, sáng tạo dùng làm cho đời sống tốt đẹp hơn, không phải dùng vui chơi bừa bãi.

Bàn tay năm ngón làm gì? Trước sau cũng sẽ, tiếc chi lần đầu. Trước khi đến đón Thanh đi lấy bánh mừng sinh nhật, để sửa soạn món quà, tôi đã cắt đáy túi quần bên phải và không mặc quần lót.

Ngu Yên
Truyện chớp 907 chữ. 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.