Hôm nay,  

Rằm Trung Thu xa xưa

13/09/202400:00:00(Xem: 2812)

Trung Thu
Hình minh họa

Lúc xưa thật xưa, người Việt Nam ta có tục lệ bầy cỗ Trung Thu vào dịp tết trăng tròn tháng 8 âm lịch. Cỗ này thường để dành cho trẻ con, vừa vui Trung Thu, vừa ăn bánh vừa ngắm trăng tròn, sáng tỏ.
 
Thường cỗ này gồm phần lớn là bánh Trung Thu, bánh dẻo bánh nướng và rất nhiều thứ trái cây, trái cây chánh là bưởi, bưởi hồng đào ngọt và tròn xoay như một vầng trăng. Ăn bưởi xong, có thể sâu hột trái bưởi, phơi khô đi sem sém, và có thể đốt hạt bưởi từng sâu như đốt nến, đèn cầy.
 
Gọt bưởi xoay tròn, người ta có cái vỏ rỗng, có thể cuốn lại làm một cái lồng đèn, đẹp và tiết kiệm… thêm nữa giống hình ông trăng.
 
Ngoài bánh, đèn, còn có ông tiến sĩ giấy trên mâm cỗ, ý là phụ huynh mua ông tiến sĩ về để làm quà và cũng là khuyến khích các con, các cháu phải noi gương học hành chăm chỉ, đỗ đạt cho danh gia vọng tộc thành đạt như ông tiến sĩ, gọi là ông trạng nguyên.
 
Bên cạnh bánh Trung Thu, ông tiến sĩ, còn là vô số trái cây, hoa quả sung mãn, như hồng, lê, cam, nhãn, táo. Họ làm thành từng mâm trái cây trồng lên nhau, cao và đầy màu sắc, gọi là mâm ngũ quả.
 
Có những lễ hội nhân gian thì chấm giải mâm ngũ quả đẹp. Mâm ngũ quả của gia đình nào đẹp nhất được giải thưởng. giải thưởng là tiền, vàng, hay sắc chỉ ban khen.
 
 Và thời xa xưa đó, cũng có lần ông trạng Quỳnh mang mâm ngũ quả đi thi và ông đã trúng giải.
 
Nhớ lại gần đây hơn thì ông trạng Quỳnh, là khi trước năm 1975, ở Sài Gòn vẫn có một con đường rất đẹp, tọa lạc nơi trung tâm thành phố, con đường mang tên gọi là đường Cống Quỳnh. Đường đó chạy ngang cửa nhà thương Từ Dũ, nối liền đường Hồng Thập Tự tới kênh Tầu Hũ…
 
Ngày đó, chưa đi học nhiều, đã có lúc tôi ngây ngô hỏi bà nội tôi:
 
Bà ơi, tại sao lại gọi là con đường Cống Quỳnh? Bộ ở đó có nhiều cống lắm sao?
 
Bà nội tôi cười hắc hắc trước cái ngây ngô của tôi, bà nói là: không phải đường có nhiều cống, mà là ông trạng Quỳnh, ổng không đậu trạng nguyên, ổng chỉ đậu hương cống, một chức thấp hơn trạng, nên người ta kêu con đường mang tên ổng là đường Cống Quỳnh!
 
Vả lại tánh khí ổng hay châm chọc người khác, có thể ổng thíếu tí chút oai đường bệ, nhưng nếu căn cứ vào cái tài văn chương chữ nghĩa, người ta có lúc vẫn kêu là trạng Quỳnh.
 
Theo ý bà nội tôi kể lại, khi xưa ông đùa dai, tính khí khác người thường thái quá, hay chế riễu mọi người nhưng chắc ông trạng Quỳnh là người sung sướng tại ổng đã sống tự nhiên như ổng thích. Thây kệ, ai muốn kêu là trạng Quỳnh cũng ổn, ai muốn kêu là cống Quỳnh cũng êm.
 
Nhưng trong lũ con cháu chúng tôi sống vây quanh bà, mà lỡ một khi, có đứa nào ba hoa tán dóc, tán láo quá cỡ bằng trời, là bà nội đưa tay làm hiệu:
 
Thôi, đủ rồi, vừa vừa vậy chớ… bay nói cứ như trạng đấy!
 
Có lần chúng tôi tìm dở sách in “giai thoại làng nho“ ra xem ông trạng tài giỏi cỡ nào, châm biếm chọc ghẹo thế nhân cỡ nào. Thì lần đó, may quá, gặp đoạn văn tả trạng sửa soạn một mâm ngũ quả đi thi, thi ngũ quả Trung Thu vào dịp hát hội trăng rằm.
 
Đúng vậy, một lần đó trạng đi ứng thi và trạng đoan quyết là thế nào trạng cũng giật giải.
 
Thời đó (1700-1760) triều vua Lê Dụ Tôn, đồng thời của chúa Trịnh Cương, chính chúa hàng năm hay lo tổ chức thi. Chúa và bà chúa rất khó tánh, khắt khe trong cách lựa chọn mâm ngũ quả trúng giải dự thi tết Trung Thu.
 
Thời đó, Hà Nội xưa, là ở thành Thăng Long, người giầu có hay mang mâm trái cây đi thi, người ta chọn những trái đẹp và ngon như hồng dòn Thái Nguyên, lê Đông Triều, nhãn lồng Hưng Yên, bưởi đào Nghệ An, cam Bố Hạ v.v…
 
Nhà nào ứng thí cũng đội tới phủ chúa mâm Ngũ quả nhiều màu, trái tươi, ngon, xếp lớp lang khéo léo. Riêng ông trạng thì đi tay không, ông chỉ cầm theo một cuộn giấy trắng và một cây quạt giấy xếp nếp, dài hơn cây quạt dân thường dùng.
 
Chẳng may năm đấy, đổi mùa và chúa bị cảm, chúa sợ nắng, sợ gió lùa, chúa chỉ ngồi sau màn che trướng rủ, nhưng bên cạnh chúa, hiện diện bà chánh cung, bà phụ với chúa một phần làm chủ khảo.
 
Vào cuộc thi, mọi nhà lần lượt xếp hàng, đặt lễ dự thi và qua mặt hai vị giám khảo để trình thưa.
 
Đến lượt ông trạng, chúa nhìn ông, bà chánh cung của chúa cũng nhìn ông. Ông mới từ từ mở cuộn giấy cầm theo, trải rộng ra bàn thi, gọi là án thư, trước mặt hai vị giám khảo, trên bản giấy, là hình vẽ của trạng Quỳnh. Ông vẽ cái gì? Thưa, ông vẽ rất đẹp, hình ảnh một thiếu nữ khỏa thân, đẹp yêu kiều, nằm nghiêng nghiêng, một chân co, một chân duỗi thẳng, hai bàn ta úp lại dưới ngực, 10 ngón tay khép lại đan chéo vô nhau khép nép. Dưới bức tranh, ông trạng có chú thích: mâm hoa trái thi giải rằm Trung Thu!
 
Xong đâu đó, ông trạng từ tốn tiến tới trước mặt chúa và bà chánh cung, thưa:
 
Xin chúa và lệnh bà thưởng ngoạn và chấm điểm cho!
 
Chúa lừ mắt nghiêm sắc mặt hỏi:
 
Người nghĩ thế nào mà dám bảo cái bản vẽ này là mâm ngũ quả?
 
Ông trạng lặng lẽ lùi ra xa tí chút, xếp cây quạt giấy dài lại, thong dong cầm quạt chỉ từng điểm trên bức tranh, ung dung như một vị chỉ huy xác định những yếu điểm trên bản đồ hành quân quân sự:
 
Trạng Quỳnh chỉ đầu cô thiếu nữ, và nói: thưa đây là quả bưởi đào, mọng và ngọt. Tiếp đó chỉ đôi mắt đen của nàng, thưa đây là nhãn lồng ngon có tiếng. Trạng chỉ tiếp bộ ngực căng đầy, thưa đây là đào tiên, trồng từ động thiên thai. Tiếp đến hai bàn tay xinh xinh của nàng với những ngón tay búp măng, thưa đây là những trái phật thủ cao quý… và dưới cùng kia, thưa là mít ạ!
 
Chúa đang ốm cũng bật cười ra tiếng.
 
Bà chánh cung, thì chán nản cánh đàn ông, bà cật vấn:
 
Trời ơi, ngỡ trạng cho xem trò gì ghê gớm mới mẻ, chớ cái thứ ngũ quả này thì nữ nhân nào mà không có.
 
Trạng lùi ra xa hơn chút nữa, trổ tài biện bác:
 
Tâu lệnh bà, tục ngữ có câu, người năm bẩy đấng, của năm bẩy loài. Đâu phải người nào cũng giống người nào. Có bậc anh hùng nữ lưu như bà Trưng bà Triệu, có những bậc hiếu hạnh tài trí… và cũng có những kẻ ăn hại, người trần mắt thịt, tầm thường vô số, thì đem gánh đổ ra sông ra biển không hết.
 
… Và thưa lệnh bà, cây trái thì cũng vậy, bẩm bưởi là có bưởi ngọt bưởi chua; đào có đào điếc, đào thơm,  đào lộn hột… nhãn có nhãn lồng nhãn khô. Mít, có mít mật, mít sơ, mít dai, mít đặc, mít ước, mít tố nữ… xin lệnh bà chấm kỹ cho, mâm ngũ quả của thần mang dự thí đây toàn là của quý!
 
Trạng cứ thao thao tán tỉnh, bà chánh cung vụt hỏi:
 
Như ta đây, trạng xếp vào hạng người nào?
 
Tâu lệnh bà, cứ nhan sắc và cử chỉ của lệnh bà, lệnh bà thuộc hàng khuynh quốc khuynh thành, nết na như Tây Thi nước Việt.
 
Bà chánh cung có vẻ xúc động trước vẻ xu nịnh, nhưng lại cũng yên trí là mình có sắc đẹp, có nết na thiệt.
 
Chúa thấy lệnh bà ngồi im cảm động, chúa liền phán cho trạng Quỳnh một câu:
 
Này, nếu mà mâm ngũ quả này của trạng mà là đồ thiệt, thì ta chấm ngay cho giải hoa khôi.
 
Lệnh bà thấy ghét cái thứ đàn ông ham vui, muốn đẩy cái bản vẽ của Quỳnh xuống đất, nhưng trạng lanh tay để nguyên lại chỗ cũ và trổ tài tán tỉnh:
 
Bẩm chúa, bẩm lệnh bà, nếu cái mâm ngũ quả của thần đây mà là đồ thiệt; có thể sờ được, dùng được, ăn được… thì giá trị của nó đâu có lâu bền. Những thứ ăn được, ăn ngon, ăn no mà vào nhà cao sang như phủ chúa, phủ lệnh bà thì ăn vài lần chán ngay!
 
Còn cái mâm ngũ quả bản vẽ này của thần là vô cùng quý giá, không sợ héo úa, không sợ phai tàn hay ung thối… nó vĩnh viễn với thời gian. Nó có thể ăn lúc no, ngắm lúc đói. Cả nhà, cả phủ, cả họ dùng và thưởng lãm hoài hoài không hề suy xuyển.
 
Khải lệnh chúa, khải lệnh bà, vì nó mang cái tính chất siêu vượt thời gian, không gian tới vô hạn đó mà thần mới dám đem trình thi nơi phủ chúa… còn chuyện được thua, chỉ là nhiên hậu.
 
Lệnh bà không hiểu lắm, thí sinh đang nói hươu nói vượn gì gì…  bà chợt nhớ, lúc nãy, ông trạng có liệt bà vào loại khuynh quốc khuynh thành như Tây Thi. Bà chợt đắc ý, chợt mỉm cười sung sướng.
 
Chúa Trịnh Cương mệt rồi, thấy lệnh bà cười và nhác thấy bức vẽ cũng rất đẹp… chúa liền đồng ý cho trạng quỳnh thắng giải, và ngài không quên buông thõng một câu:
“Nhà ngươi đúng là Trạng!“
 
Phỏng theo “Cống Quỳnh“ trang 91 giai thoại
làng nho của tác giả Phùng Tất Đắc.
 
Trung Thu 2024
Chúc Thanh

Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
Tình yêu không phải là thứ ngôn ngữ nói ra, mà là ngôn ngữ để giữ kín! Tôi đã chôn kín hình ảnh đẹp nhất một đời người. Bây giờ người con gái năm xưa đang ở đâu, sống ra sao trong vạn nẽo đường trần hệ lụy. Có còn nhớ cơn mưa bong bóng chiều nào nơi hiên ngôi chùa nhỏ? Có còn tìm thấy những cơn mưa bong bóng bên đời? Hay tất cả đã phôi pha, đã trôi theo những giọt mưa bong bóng một thời đã mất?
Sau khi đội chiếc mũ beret đen lên đầu ông Hậu bước ra ngoài, thấy lòng thoải mái hẳn ra, ở trong nhà này toàn là “luật lệ” ăn cơm đúng giờ, đi ngủ đúng giấc, con dâu “kiểm tra” ông từng tí một “Ủa hôm nay sao ba tắm trễ, tắm vào buổi tối dễ bị cảm lạnh đó ba.” Con trai cũng “để ý” ông từng tình huống: -“Tối qua ba thức khuya quá, 12 giờ đêm con dậy đi tiểu thấy phòng ba còn sáng đèn. Ba nên ngủ sớm dậy sớm tốt cho sức khỏe”. Ông có niềm vui với computer lúc đọc báo xem tin tức, xem you tube mọi đề tài, lúc nghe nhạc, lúc vào group trò chuyện với bạn bè gần xa, ngồi với computer cả ngày cũng chưa chán. Thế mà con cũng… phê phán.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.