Hôm nay,  

Em Ở Nơi Nào…

05/10/202412:58:00(Xem: 4345)
minhhoa01
Minh họa Đinh Trường Chinh

 

Chừng năm sáu người làm chung nơi góc xưởng, cái góc khuất đến có người vừa làm việc vừa hút thuốc trong xưởng cũng chẳng phải sợ bị đuổi việc dù có yêu cầu từ ông chủ xưởng do sợ cháy, ông yêu cầu mọi người ra ngoài hút thuốc chứ đùng hút trong xưởng, nhưng ông bắt được quả tang người vừa chạy máy vừa hút thuốc trong xưởng thì ông yêu cầu người đó ra ngoài hút hết điếu thuốc rồi trở vô làm, ông chẳng đuổi việc ai nên cũng không ai sợ thì tôi sợ một người không hút thuốc có tấm lòng vị tha.

Người coi như đại diện của nhóm công nhân hạng hai nơi góc khuất cũng dễ tính với chính mình làm gương cho anh em, anh ta bày cơm ra ăn tại chỗ làm theo lệnh cái bao tử, cóc thèm lên phòng ăn của xưởng vì cạnh phòng làm việc của ông chủ mà ăn cơm trái giờ cũng lành ít dữ nhiều…

Cái xưởng cấp gia đình nhỏ nhoi, cũ kỹ nhưng đã truyền lại được ba đời. Trên văn phòng ông chủ có treo hình ông nội của ông là ông chủ sáng lập ra xưởng, đến hình cha ông là người thừa kế, đến ông là đời thứ ba tiếp tục điều hành cái xưởng thấp lè tè từ thời Đệ nhị thế chiến nhưng làm ra những cái xẻng đào giao thông hào, hố cá nhân cho quân đội Mỹ là niềm tự hào của một gia đình cha truyền con nối. Cái xưởng giờ đã cũ đến có rắn trên trần nhà chứ chuột đã có quốc tịch từ lâu, những con chuột bản địa, bản xứ già lụ khụ tới đi không nổi, một lần té xuống sàn nhà từ những lỗ thủng trên trần nhà là coi như vĩnh biệt vì không còn sức lực để trở lại giang sơn, quê quán trên ấy…

Một ngày như mọi ngày, tiếng máy giập kim loại cứ đều đặn chạy, cho ra những sản phẩm kim loại nhỏ nhỏ, xinh xinh cho người ta lắp ráp nhiều vật dụng trên đời từ máy móc tới đồ gia dụng. Nhưng đừng thấy xưởng nhỏ, cũ kỹ tồi tàn mà xem thường, nơi đây từng làm ra cái lò xo cho điện thoại Nokia thời còn hai nửa gấp lại, mở ra. Rất khó tin là xưởng được hợp đồng với hãng máy bay Boeing, dù chỉ làm ra tấm lưng bằng kim loại cho cái microway trên máy bay, một tấm kim loại mỏng phía sau cái microway nhưng xài trên máy bay nên không được nhiễu sóng điện từ, nên mắc tiền bằng nguyên cái microway mới ra đời, bán ngoài chợ đồ điện gia dụng khi cái microway còn chưa có đĩa xoay…

Mới đầu nơi đây còn mang hơi hướm Mỹ là Hợp chủng quốc nên có Mỹ đen, Mễ, Việt nam và người Nam Mỹ. Nhưng theo thời gian, những người quốc tịch khác Việt nam bỏ việc đi hãng khác, người xin được qua làm việc khác trong xưởng cho sạch sẽ hơn, nơi làm việc sáng sủa hơn được phần nào, không có chuột rơi, rắn lưọn trên trần nhà phát ớn... Nhìn đi nhìn lại còn toàn Việt nam là ba người cũ và ba người mới vào làm. Tới đây là đủ dân ca ba miền của quê ta vì bắc trung nam có hết. Ông bắc di cư thường não nề khi nghe ông than “giời ơi” và “ối giời ơi…” thì ai cũng ối não với giọng bi thương tới nổi da gà, “Ối…giời… ơ…i…, sao khổ thân tôi thế này!” Khổ hơn việc ông phải làm là giọng khổ đã ám vào thân ông từ lọt lòng mẹ hay sao mà nghe khổ tận cùng khổ. Thở dài thì ai chả từng thở dài khi bó tay, nhưng không ai thở dài não nùng và đẫm lệ như ông, nghe ông thở dài thì dế cũng khóc, cào cào châu chấu bay lượn chia buồn với chỗ làm của ông trống hoác ra một lỗ vách to tướng do xe xúc ủi xập mà không ai vá lại lỗ thủng cho ông nên gió bấc về, lạnh hơn Hà nội quê ông nhiều. Ông chỉ được mỗi việc giỏi hơn làm là khi nghe rủ nhậu là ông quên hết sự đời, hết ối giời ơi để hào hứng tham gia với hết lòng nhiệt tình. “Ối giời lạnh…” nghe bi ai sầu thảm thì “ối giời ngon, mồi ngon…” nghe muốn bỏ ăn lạt, bỏ theo Phật năm phút để suýt soa theo ông đưa cay miếng phèo heo chấm nước mắm mặn giằm ớt trái, lại kèm miếng dưa chua đưa cay rượu lạt thì ối giời ơi… trên cả tuyệt vời.

Mấy người nam bộ, dân miền tây làm chơi ăn thật đã quen nên tỉnh bơ thế sự nhân tình. Chủ nói ngày mai làm sớm vì cần hàng nhưng tối lỡ nhậu thì hôm sau đi làm trễ hơn bình thường, người không tỉnh nồi thì nghỉ ở nhà luôn cũng không sao vì ông chủ là dân nhậu thứ thiệt nên rất sẵn lòng thông cảm, đích thân ông dậy sớm đến xưởng để khích lệ tinh thần anh em, và ông sẽ đứng máy thay cho người chưa tỉnh rượu bia nên không đi làm. Ông làm cho tôi có cảm tình với người Mỹ, nước Mỹ rất nhiều khi tôi mới qua Mỹ. Tôi chưa hề quên hình ảnh hai anh em ông là Mỹ trắng, là chủ xưởng mà ôm chặt ba thế hệ nhà ông Mỹ đen vừa qua đời. Họ khóc thương ông Mỹ đen như người thân ruột thịt khi tang lễ, anh em ông chủ vô cùng thương tiếc ông Mỹ đen đã làm việc ở xưởng nhà ông từ thời cha ông còn sống…

Tôi có cảm giác mọi người trong xưởng rất thương mến anh em ông chủ hơn sợ chủ đuổi việc, và anh em ông chủ cũng thương mến mọi người như anh em chứ không chủ thợ rạch ròi. Việc đến phải đến, ông chủ mướn người vô chạy máy sỏi đá mà tiếng Anh gọi là “deburr machine” thay cho ông Mỹ đen đã qua đời. Ông này dị tướng nên anh em chờ xem tài của ông vì ông bà mình nói những người dị tướng thường có tài. Nhưng một tuần trôi qua, chỉ có tuần tới tiếp tục chứ không có gì lạ về ông trọ trẹ. Ai cũng biết ông người miền trung nhưng ai hỏi ông là người tỉnh nào ngoài trung thì ông gắt gỏng chứ không trả lời. Ông lên lớp giảng giải cho người miền bắc, người trong nam hiểu ra chính sách chia để trị của thực dân Pháp chứ đất nước Việt nam liền một dải, người dân từ bắc vô nam nói chung một ngôn ngữ là tiếng Việt từ đời cha ông để lại giang sơn gấm vóc nước Việt cho con cháu. Sao người Việt lại nô lệ tự nguyện cho Pháp, đi phân biệt bắc trung nam để chia rẽ chính dân tộc mình…



Tôi nghe mà nể trọng ông là người hiểu biết dù hơi khó nghe giọng ngoài trung của ông, tôi không hiểu vì sao ông cáu gắt khi có người hỏi ông là người tỉnh nào ngoài trung; nếu là người Quảng thì Quảng gì, có gì đâu mà ông cáu gắt với những người trong nam đặt câu hỏi. Ông dường như chỉ chừa mặt ông bắc kỳ là không cáu gắt vì ông cũng nổi da gà khi nghe “ối giời ơi” và tiếng thở dài sâu thẳm hơn hồ Gươm, hồ Hoàn kiếm…

Cuối cùng, chính là lão rùa vàng hồ Gươm phát hiện ra tài của dị tướng miền trung là hay hát, hát suốt trong lúc làm việc, hát cả ngày... Lão rùa hỏi tôi có nghe rõ chữ “ở” trong câu hát đi hát lại của lão dị suốt ngày? Tôi lắng tai nghe cho kỹ phát âm từ “ở” trong câu, “em ở nơi nào… có còn mùa xuân không em…” Tôi càng lắng nghe cho kỹ trong tiếng máy giập kim loại chạy ình ịch suốt ngày… tôi càng thấy bốc mùi vì chữ “ở” nghe mùi lắm, không phải mùi mẫn mà mùi hương… cho tới hôm hoàn toàn không cố ý, chỉ là ngẫu hứng với âm nhạc khi ông dị cất tiếng hát quen thuộc và tai nghe chưa hề có vấn đề của tôi thì chính xác là, “em ỉa nơi nào…” Tôi ngẫu hứng xuống xề… “có còn mùi hương không em?”

Mọi người cười tới ngưng làm vì ai cũng ôm bụng cười thì sao làm việc được, vừa lúc ông chủ xách chai rượu đỏ ngon xuống xưởng với một cọc chung nhựa nhỏ, ông rót cho mỗi người một chung thưởng thức rượu ngon ngay trong lúc làm việc là phong cách của ông chủ xưởng nhà. Ông chủ không hiểu chuyện gì mà đám Việt nam cười nghiêng ngả, ông lờ mờ hiểu chuyện không lành khi thấy ông dị cũng ngưng làm, mặt đỏ lên phừng phừng như uống rượu mạnh chứ không phải rượu đỏ, ông dị làm cho tôi một trận tới nơi tới chốn, nào là “chém cha không bằng nhái giọng”. Rồi chuyển qua chụp mũ liếm giày thực dân, bợ đít đế quốc… ông mạt sát tôi tối tăm mặt mũi. Tôi uống chung rượu đỏ của ông chủ cho để bình tĩnh lại khi còn trẻ, dễ bất chấp phải trái mà xử luôn, xử liền, xử đẹp khi bị lăng nhục… Cuối cùng tôi xin lỗi ông tôi đã sai khi nhái giọng là việc không nên làm. Ông không tha thứ cho tôi mới khó xử khi chỉ còn cách ra sân, ra bãi đậu xe để phân phải trái. Đến ông rùa hồ Gươm nổi nóng, “đếch nói phải trái, không xin lỗi xin phải gì nữa, có dám thì ra parking nói chuyện phải trái…” Nhưng tôi vẫn kiên trì xin lỗi những ngày sau đó dù không được tha thứ, bỏ qua…

Cho đến vụ khủng bố 11 tháng 9 năm 2001. Kinh tế suy thoái sau đó, xưởng nhà cô quạnh đơn đặt hàng tới ông chủ tuyên bố đóng cửa xưởng vẫn chăm lo cho công nhân tới hết khả năng của anh em ông, làm nhiều người rơi lệ. Ông chủ gọi tôi lên văn phòng ông và nói chuyện ngoài ý muốn của tôi với ông. Ông viết cho tôi lá thơ giới thiệu đi bất cứ nơi đâu tôi xin việc làm, ông bảo đảm với nơi nhận tôi vô làm việc bằng lời giới thiệu tôi là người công nhân làm việc giỏi, siêng năng và chăm chỉ. Xin gọi cho ông khi muốn nhận tôi vô làm việc ở hãng xưởng nào đó mà tôi xin việc để biết rõ hơn về tôi. Xin hãy giúp ông nhận tôi vô làm việc, ông vô vùng biết ơn.... Và ông sẽ nhận lại tôi là người đầu tiên khi xưởng ông có lại việc làm… thì bố ai ngu dại khờ nhận tôi vô hãng họ như nuôi ong tay áo. Nhưng tấm lòng ông chủ xưởng tôi là điều tôi không quên về nước Mỹ và người Mỹ đích thực.

Tôi về ăn tiền thất nghiệp trong vận rủi có may đến liền, ông bạn lôi tôi đi làm nhà hàng thành ra có hai đầu lương, muốn nghèo cũng khó nhưng bất an với chuyện ông dị vì mình đã có lỗi nhưng không được tha thứ, bỏ qua. Tôi mang án treo không có ngày mãn án cho tới hôm nay, đã là ngày ông rùa hồ Gươm gọi cho tôi báo tin ông dị đã qua đời, có thể thì đi dự tang lễ ông ấy là lời xin lỗi cuối cùng, không bỏ qua thì làm gì nhau khi ông cất tiếng hát, “em ở nơi nào…” thì mọi người cùng vô điệp khúc, “có còn mùi hương không em…” Tôi chỉ có lỗi đã nghĩ ra điệp khúc ấy! Người bắc gốc gác của tôi mà tôi mới hiểu ra một đặc tính của người bắc là ông rùa…

Gặp nhau không ngờ ở nhà quàn vì ông rùa đã lên cụ. Ông dị vẫn đăm đăm nhìn tôi dù chỉ còn là di ảnh. Vợ ông đặc biệt quan hoài đến tôi với ông cụ rùa khi biết ra là bạn làm chung với ông dị đã mấy chục năm không gặp nhưng hay tin qua báo đài địa phương vẫn đi viếng tang lễ ông dị với hết tình xưa nghĩa cũ… Bà quả phụ mới toanh dành thời gian cho tôi với ông cụ rùa hơi nhiều khi tâm sự với chúng tôi về ông dị. Cha ông là người Quảng trị miền xuôi, nhưng là người buôn muối lên mạn núi và buôn thổ sản rừng về xuôi bán lại. Ông nội tụi nhỏ phải lòng và cưới làm vợ một cô sơn cước người dân tộc, sinh ra ông dị đi ngược lên núi là quê ngoại mà về xuôi với biển là quê nội. Tới chiến tranh ngày càng khốc liệt thì cha ông đưa gia đình về Đà nẵng để sinh sống, tốt hơn cho việc kinh doanh của ông nội đám nhỏ ở Quảng trị quê ông từ biển lên núi Trường sơn. Thế là ông dị nhập nhằng tiếng Quảng trị miền xuôi miền núi, tiếng Quảng nam ở Đà nẵng khi ông khôn lớn…

Điều tôi không bị trầy da mà đau như đổ ruột khi nghe vợ ông dị kể, ông đi lính Việt nam Cộng hoà chứ không theo Việt cộng. Đóng quân nhiều nơi thì có nơi ông có người yêu, và khi trở lại thăm thì người yêu ông đã chết trong bom đạn chiến tranh… nên ông tuy sau đó lập gia đình với bà nhưng thành thật tỏ lòng nên bà thông cảm ông hay hát chỉ một câu… “Em ở nơi nào… có còn mùa xuân không em…!”

Tôi nghe bà kể, nước mắt tôi trào ra không cầm lại được, là lời xin lỗi chân thành với vong linh ông dị. Xin ông tha thứ cho tôi…


Phan

Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
Tình yêu không phải là thứ ngôn ngữ nói ra, mà là ngôn ngữ để giữ kín! Tôi đã chôn kín hình ảnh đẹp nhất một đời người. Bây giờ người con gái năm xưa đang ở đâu, sống ra sao trong vạn nẽo đường trần hệ lụy. Có còn nhớ cơn mưa bong bóng chiều nào nơi hiên ngôi chùa nhỏ? Có còn tìm thấy những cơn mưa bong bóng bên đời? Hay tất cả đã phôi pha, đã trôi theo những giọt mưa bong bóng một thời đã mất?
Sau khi đội chiếc mũ beret đen lên đầu ông Hậu bước ra ngoài, thấy lòng thoải mái hẳn ra, ở trong nhà này toàn là “luật lệ” ăn cơm đúng giờ, đi ngủ đúng giấc, con dâu “kiểm tra” ông từng tí một “Ủa hôm nay sao ba tắm trễ, tắm vào buổi tối dễ bị cảm lạnh đó ba.” Con trai cũng “để ý” ông từng tình huống: -“Tối qua ba thức khuya quá, 12 giờ đêm con dậy đi tiểu thấy phòng ba còn sáng đèn. Ba nên ngủ sớm dậy sớm tốt cho sức khỏe”. Ông có niềm vui với computer lúc đọc báo xem tin tức, xem you tube mọi đề tài, lúc nghe nhạc, lúc vào group trò chuyện với bạn bè gần xa, ngồi với computer cả ngày cũng chưa chán. Thế mà con cũng… phê phán.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.