Hôm nay,  

Thiện và ác

18/10/202400:00:00(Xem: 4973)
 Thiện và ác 
 
Thiện là hành động, lời nói hay ý nghĩ tốt, thường mang lại an vui cho người, cho mình có khi là cho cả hai phía và cho tất cả mọi người xung quanh. Thí dụ việc là của cơ quan Médecin du Monde, luôn cứu giúp tài chánh cho những người nghèo khó, hoạn nạn ở khắp năm châu lục. Việc làm gần đây của thầy Minh Thiền ở Đức Hòa Dĩ An, thầy và các phật tử đi cứu trợ thiên tai bão lụt Yagi ở miền Bắc Việt Nam, ở Lào Cai, Yên Bái và các vùng, miền người thượng, miền cao do bão lũ gây ra. Họ đói, khổ, lạnh, mất người thân. Phái đoàn chùa Đức Hòa tới tận nơi, lội nước bì bõm ngang bụng mang tặng nạn nhân mì gói, áo quần, tiền và lời vấn an cho những người còn sống sót, đem lời cầu nguyện vãng sanh cho những người đã bị nước lũ cuốn đi, A Di Đà Phât. Người làm việc thiện luôn mang lại niềm vui hạnh phúc và dĩ nhiên được mọi người thương mến, thích gần gũi.
 
Trái với thiện, ác là những hành động, lời nói hay việc làm gây tai họa, khổ đau, buồn lòng người khác cho nên ác thường bị mọi người xa lánh, vì nó hay mang lại hậu quả khó lường. Thí dụ: vụ lường gạt bán vaccin covid giả hay kém chất lượng ở Việt Nam trong những năm đại dịch vừa qua, hay việc thế lực khủng bố Hamas tấn công sang Israël tháng 10-2023 bắn hỏa tiễn tàn sát người vô tội  và bắt nhiều con tin về giam giữ trong các địa đạo, cho họ chết lần chết mòn, rồi hậu quả là chiến tranh Trung Đông ngày càng ngày, càng dữ dội, đe dọa an nguy toàn thế giới. Việc ác làm mọi người ghê sợ và xa lánh.
 
Tuy được phân biệt rõ ràng như vậy, nhưng ranh giới giữa thiện và ác nhiều khi không rõ rệt và có lúc bị hiểu lầm.
 
Thí dụ: thầy nhiều khi quá nghiêm khắc, bị cho là ác, dù chủ ý của thầy là mong trò tiến bộ mau. Xưa có lúc nói là giáo đa tất oán, ngược lại, có những lời nói ngọt ngào xu nịnh cố ý dụ người đối diện làm hư việc, gọi là mật ngọt chết ruồi, do vậy, cái ranh giới thiện ác vẫn mập mờ. Muốn nhận xét đúng hơn, cần có trí tuệ để phân biệt tâm ý con người đó muốn gì khi hành động, khi phát ngôn hay suy tính một việc nào đó.
 
Cũng còn có những thiện ác trái chiều, như ở xã hội này, ở tôn giáo này, điều A là thiện. Sang một xứ sở khác, tôn giáo khác, việc A lại là không chấp nhận như việc sát sanh hay việc phá thai nhi, ở mỗi hoàn cảnh, ở mỗi đức tin, cũng có điểm dị biệt, thiện và ác có lúc rối tung, khó lần gỡ. Vậy có khi phải tùy hoàn cảnh, tùy lòng tin và tùy đạo hiếu sinh mà phán xét.
 
Ngày xưa, khi được quy y với bổn sư truyền giới, thầy Thích Thông Bửu, chúng tôi luôn dậy rằng người làm việc thiện nhiều như cát sông Hằng, mà người ta không bao giờ đếm xuể, người làm việc ác cũng nhiều như tinh tú trên bầu trời bao la mà con người mình không nhìn rõ, khi làm điều thiện mà sẵn sàng tha thứ cho những người khác, như đã từng nhiều lần tha thứ cho chính bản thân mình, thì cảnh giới thiên đàng, niết bàn, cực lạc chính là đang có nơi đây. Trong kinh pháp cú, có dậy rằng:
Lấy ân báo oán
Oán nghiệp chập chùng
Lấy ơn báo oán
Oán nghiệp tiêu tan.
 
Qua lời kinh điển, phật tử hiểu rõ là chủ đích của chánh pháp là muốn chuyển hóa nghiệp ác thành nghiệp thiện, thanh lọc tâm ý thanh tịnh chuyển đổi nước đục thành nước trong. Và không hề có ý tiêu diệt những kẻ ác.
 
Đạo là từ bi, luôn khuyên nhủ chúng sanh:
Tránh làm điều ác
Nên làm hạnh lành
Giữ tâm thanh tịnh
 
Muốn giữ được tâm ý thanh tịnh, mọi chúng sanh cần cố gắng vượt qua được sự phân biệt và cố chấp thiện, ác: không ca tụng việc thiện quá sức, không dè bỉu việc ác quá tệ, không phải là con người ngu si mà không biết thiện và ác đối nghịch. Nhưng vượt qua được sự cố chấp thiện ác, tức là mình thoát khỏi sự trói buộc của thiện nghiệp và ác nghiệp.
 
Người lương thiện là một bồ tát thuậnduyên nghịch duyên đó là những người hay nói hay làm những điều trái ý, đốp chát với ta, ngược với ta. Bảo là họ ác với ta? Có khi đúng mà có khi không, vì cái bản ngã đối chọi, căn cơ, tánh tình nghịch tặc, luôn thúc đẩy họ không đồng ý mọi điều với mọi người xung quanh. Kệ đi.
 
Thí dụ: Trong chùa, có tượng ngài hộ pháp và cũng còn có tượng ngài Tiêu Diên Đại Sĩ, như để đe dọa, nạt nộ và canh chừng.
 
Nói chung, vơi lòng từ bi và lòng kham nhẫn ba la mật, chư phật chư tổ luôn khuyên chúng sanh chấp nhận và biết ơn cả hai vị thuận duyên và nghịch duyên. Cả hai bên đều là những phương tiện giúp chúng sanh tiến bộ trên đường tu tập thường hằng, để luôn luôn đến gần chánh pháp và sống trong chánh pháp.
 
Trở lại chuyện kẻ ác và người thiện, đạo không tiêu diệt kẻ ác, chỉ dốc lòng hoán chuyển ác thành thiện, đó là chủ trương giáo dục bằng từ tâm, một tác giả phương tây, cũng có ý nghĩ gần như vậy:
 
« Ne cherchez pas à être sage à tout prix
La folie aussi est une sagesse
Et la sagesse, une folie
Fuyez les préceptes et les donneurs de leçons,
Faites ce que vous voulez
Et ce que vous pouvez
Rien n’est très important
Tout ce que nous aimons mourra
Et je mourrai moi aussi
La vie est belle.
                    Jean d’Ormesson
 
Trong cuộc đời hành đạo của đức phật, có một câu chuyện sinh động, được nhiều người biết đến, và một khi biết đến thì không thể nào quên, đó là câu chuyện đức phật cảm hóa tướng cướp Angulimala được ghi lại trong trung bộ kinh. Câu chuyện kể lại rằng, ở nước Kosala, do vua Pasénadi trị vì, có một tên cướp khét tiếng giết người tên là Anguli, là một tay thợ săn tàn bạo, giết người như giết thú, khiến cho dân làng rất lo sợ. Từ khi có tên cướp xuất hiện, khắp xóm làng, quốc độ người dân không còn sống yên ổn.
 
Một buổi sáng nọ, như thường lệ, đức phật đắp y, mang bình bát vào làng Savatthi khất thực. Sau khi khất thực và dùng bữa xong, ngài quay trở về và có ý đi trên con đường mà tên cướp hay qua lại. Người đi đường và những người chăn bò hết lòng ngăn cản ngài, nhưng đức phật vẫn giữ im lặng và ngài tiếp tục đi.
 
Thấy phật đang rong ruổi đi một mình, Anguli liền xuất hiện, y mừng rỡ và khởi tâm giết ngài. Y chỉ chờ có vậy và y lấy kiếm, cung, tên ra sẵn sàng và đi sau phật từ một khoảng không xa.
Thế rồi đức phât biết có Anguli theo sau, ngài dùng thần thông khiến cho Anguli dẫu cho có đi với tất cả tốc lực cũng không thể bắt kịp ngài, dù ngài vẫn đi bình thường.
 
Anguli chợt nghĩ, lạ thiệt, trước đây ta có thể đuổi kịp con voi, con ngựa, con nai và cả những chiếc xe đang chạy mau, mà sao bây giờ ta không đuổi kịp Sa Môn Cồ Đàm?
 
Anguli liền hô hoán lên:
Hãy dừng lại, Sa Môn!
Hãy dừng lại, Sa Môn!
 
Đức phật khoan thai đáp lời:
 
Này Anguli, ta đã ngừng rồi, và ngươi, ngươi hãy ngừng lại.
 
Tên cướp Anguli biết rõ Sa Môn Cồ Đàm không bao giờ nói dối điều gì. Vậy là sao? Hắn liền hỏi:
 
Sa Môn, ông đang đi mà nói ngừng rồi. Còn tôi ông biểu tôi ngừng đi là sao?
 
Đức Phật liền giải thích chậm và rõ ràng:
 
Với mọi chúng sanh, ta bỏ kiếm cung xuống.
 
Còn ngươi, ngươi không tự kiềm chế mà vẫn giết người, gây ra bao sự chết chóc đau đớn và hận thù, nên ta nói ta đã ngừng mà ngươi chưa ngừng… hãy ngừng lại! Ngừng lại!
 
Khi đức phật nói lời này, Anguli đứng lặng im, trầm tư suy nghĩ. Dường như lời nói nhẹ nhàng đánh động tâm thức tên cướp bạo tàn. Rồi Anguli từ tốn thưa:
 
Này thưa Samôn, tội lỗi của tôi thật tầy trời. Tôi có thể quay đầu bằng cách nào?
 
Thấy Anguli như đã chuyển tâm ý, ray rứt với việc làm của mình, đức phật liền mở ra một cơ hội cho người biết quay đầu sám hối. Ngài bảo quay đầu là thấy bờ, và sẽ nhận Anguli vào tăng đoàn để Anguli có thể làm mới lại cuộc đời, từ bỏ sự tàn ác, gột rửa tâm ý thanh sạch, từ đó đi dốc lòng làm các điều lành.
 
Nghe xong, Anguli liền quăng bỏ kiếm cung khí giới xuống vực sâu, quỳ gối đảnh lễ đức phật và xin xuất gia theo ngài.
 
Sau này, khi trở thành tu sĩ, Anguli đi khất thực, rất nhiều lần bị người quanh vùng đánh đập đau đớn nhưng ông hiểu rằng đó là những ác nghiệp phải trả. Đức phật trông thấy, ngài tự tay băng bó các vết đau cho Anguli. Ngài băng bó những vết thương thân xác và đồng thời băng bó luôn cả những vết thương trong lòng phạm nhân, chữa lành tâm linh cho kẻ phạm tội sát nhân đã biết quay đầu từ bỏ cái ác mà hướng thiện.
 
Giáo hóa được một tên sát nhân, từ bỏ ác nghiệp quay đầu vào bờ, ít ai tin, nhưng Sa Môn đã giáo hóa thành công Anguli. Điều làm cực kỳ khó, đến ngài phải dùng thần thông giáo hóa lúc đầu, sau, dùng oai lực tâm từ mà đánh động tâm thức phạm nhân.
 
Ít ai tin rằng một người cực ác có thể quay đầu 180° để thành người tốt. Sự thay đổi tận gốc của một kẻ cực ác thường là điều không tưởng, thế mà tên cướp ác độc Anguli đã làm được việc ấy, việc khó tin ấy.
 
Là nhờ vị thánh tăng rất từ bi cảm hóa, việc này khơi dậy lòng tự tin của tất cả mọi người.
 
Quay đầu là bờ, đáo bỉ ngạn, nếu chúng ta nỗ lực vượt bực, dùng nội lực làm lực đẩy để quay 180°, ta sẽ thấy bờ, hướng đến bờ và bơi vào bờ.
 
Nếu tự tin để vượt qua mặc cảm tội lỗi của mình.
 
Nếu tự tin để vượt qua sự nghi ngại của người ngoài ta.
 
Ta sẽ biết cách lội ngược dòng một cách ngoạn mục để về đích.
 
Không bao giờ là muộn đối với người biết quay đầu hướng thiện. Một tên cướp giết người còn biết quay đầu, huống chi người thường chúng ta, chúng ta đôi khi có lỗi lầm mà chưa tột cùng như Anguli! Chư phật khuyên chúng sanh nên thay đổi thái  độ với người khác qua câu chuyện Anguli. Các ngài khuyên phật tử có cái nhìn tích cực vào nỗ lực hoàn thiện là quyết tâm làm mới, làm lành lại của tất cả mọi người xung quanh và của cả chính ta.
 
Thái độ cố chấp khắc kỵ không đem lại lợi ích gì cho ai cả.
 
Một khi thay đổi nhận thức, hành vi nương đó mà thay đổi theo. Anguli làm được, thì mọi người khác đều cũng có thể.
 
Kinh Angulimala, trung bộ kinh 86, ghi lại rằng: sống trong hạnh phúc, tha thứ, chấp nhận là được giải thoát.
 
Thưa, đạo phật không chủ trương lấy thiện diệt ác. Đạo phật mong chuyển hóa ác thành thiện. Không ghét người ác vì không có người ác, chỉ có ý niệm ác là xấu.
 
Đạo chủ trương chuyển hóa ác nghiệp thành thiện nghiệp chuyển hóa ba nghiệp chưa thanh tịnh thành ba nghiệp thanh tịnh.
 
Đạo phật mong muốn đem lại niềm an lạc cho cá nhân, hạnh phúc cho gia đình và hòa bình cho xã hội.
 
Đạo phật, thưa đạo nói chung, mọi chúng sanh, mọi tín đồ, đều không muốn gây hận thù và không muốn có kẻ thù.
 
Chỉ có từ bi và trí tuệ để yêu thương và cảm thông.
 
Thưa, tất cả đều có sẵn trong cuộc đời này, và cùng với tấm lòng bác ái sát liền bên.
 
A Di Đà Phật
Paris mùa biến động
của chiến tranh ào ạt
Chúc Thanh
 

Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.