Hôm nay,  

Ái nên ơn tình nên nghĩa

29/11/202420:55:00(Xem: 3976)

Nguyen Cong Tru

 

 

Đây là chuyện tình yêu xưa, xa xưa lắm rồi, nhưng dư âm vẫn còn ảnh hưởng sâu đậm đến thế hệ chúng ta hôm nay… hình như con người sống nương tựa rất nhiều vào tình yêu… tình yêu cho con người nhiều ý nghĩa thiêng liêng, nhiều gia vị đậm đà đáng sống. Nếu hỏi tại sao là vậy, thì thưa rằng bên cạnh tình yêu và cuộc mưu sinh, ta còn có những gì? Bầu cử ư, bầu cử đã qua rồi, ngã ngũ rồi, không còn gì để bàn nữa. Nhưng nếu bạn muốn theo dõi hậu bầu cử, đó cũng là ưu điểm, coi thế sự cuộc đời sẽ diễn tiến ra sao những ngày sắp tới. Trước mắt, bên cạnh, xung quanh còn vây phủ đe dọa đầy chiến tranh tàn khốc hủy diệt đe dọa sự sống còn của nhân loại bằng những vũ khí của khoa học hiện đại tân tiến, cộng với lòng ác độc của tham vọng, của chính trị không phương giải quyết.

 

Nếu chiến tranh cứ kéo dài mãi thì trái đất không còn một sinh vật nào sống sót, hiện hữu, trái đất này sè là một đồng khô cỏ cháy với bừa bộn những xác người bị nướng khô…

 

Bỏ qua những điều tưởng tượng sợ hãi kinh dị mà trở về với một chút gì dễ chịu tươi mát hơn, là tình yêu, một tình yêu xa xưa, nhưng vẫn luôn mang giá trị vĩnh cửu, không đàn áp không tấn công như một hơi thở, như nhẹ nhàng êm ái điều hòa cuộc sống cho quân bằng.

 

Xin kể ra đây là một tình yêu của một bậc trưởng thượng, mẫu nghi thiên hạ, coi như khuôn vàng thước ngọc của chung hết thẩy mọi người chúng ta.

 

Thưa đó là chuyện của cụ Nguyễn Công Trứ. Nói về cụ Nguyễn Công Trứ, thì đúng là một đề tài xa xưa, không mới mẻ mà ai ai là người Việt Nam, đa phần cũng biết cụ. Cụ sống vào khoảng 1778-1859 đời nhà Nguyễn thế kỷ 19.

 

Năm Gia Long thứ II, cụ đã dâng vua kế sách quản trị an ninh, hành chánh và kinh tế. Tuy nhiên vì thi cử lận đận, mãi năm Gia Long thứ 18, cụ mới thi đậu Giải Nguyên và được ra xuất chính làm quan. Thời còn học trò, cụ sống hàn vi nghèo khó, gia cảnh đạm bạc, nên khi ra đời và trong suốt cả cuộc sống, cụ thành công và nổi tiếng với triết lý sống: biết đủ.

 

Tri túc tiện túc đại túc hà thời túc,

Tri nhàn tiện nhàn đại nhàn hà thời nhàn.

 

Triết lý tri túc tri nhàn luôn có giá trị vượt thời gian mãi mãi là một bài học đứng đắn cho mọi thế hệ sau.

 

Thuyết “tri túc“ như còn giúp cho cá nhân sống quân bình và giúp xã hội tránh được tội ác, tội và tội phạm đầy rẫy có thể xẩy ra bất kể lúc nào.

 

Ngoài triết lý sống đúng và thoải mái đó, cụ còn là một người có tài văn chương, như một nhà mô phạm canh chừng răn đe cho các phạm trù nghiêm minh của khổng giáo.

 

Dưới các thời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, và Tự Đức, cụ giữ chức Thị Lang Bộ Hình. Kể là Thượng Thư, cột trụ lo việc nước, về quân sự, cụ cùng binh tướng dẹp yên giặc Phan Bá Vành, Nông Văn Vân và bình định chiến tranh Việt-Xiêm La.

 

Cụ còn có nhiều tài kinh bang tế thế, đi khai khẩn đất hoang, làm thành các làng xã, cho dân vô gia cư đến sinh sống lập nghiệp, cụ thành lập các xã huyện Tiền Hải (Thái Bình), Kim Sơn (Ninh Bình) Ninh Cường Giao Thủy ở Bắc Việt, vì nhớ công ơn vỡ đất của cụ, sau này nhiều nơi đã thờ tự ghi ơn cụ, coi như cụ là vị thần Hoàng làng.

 

Nhờ tài ba và siêng năng hoạt động, cụ có sức khỏe tốt, tâm hồn phóng khoáng và sống thọ so với những người đồng thời. Lại nửa bản chất là người khẳng khái, tính tình cương trực, nên đã có lúc đi làm quan mà cũng bị phát vãng, đến phải thốt lên lời:

 

Ra trường danh lợi vinh liền nhục,

Vào cuộc trần ai khóc lẫn cười.

 

Thuở còn hàn vi, lận đận thi cử, mãi tới năm 41 tuổi cụ mới vào hoạn lộ. Bên cạnh tính tình cương trực, cụ vẫn là người đầy tình cảm lãng mạn, khi nghèo khó, người đã thích đi xem hát ví, hát ả đào, gửi lòng vào cung thương lầu bực ngũ âm.

 

Khi còn là học trò nghèo, cụ không có tiền mà vẫn thích đi coi ké các vương tôn công tử nhà giầu tổ chức ca hát, cụ nghe hát ví, hát ả đào và say mê tiếng trống chầu, say mê lời nhạc câu ca, say mê luôn các con hát, gọi là cô đầu hay ả đào. Chữ ả đây không có nghĩa gì xấu, mà chỉ là để gọi một người đi hát. Có lần đó, cụ đứng dòm và nghe từ cổng và cụ lỡ phải lòng ngây ngất một cô đào thanh sắc vẹn toàn,  rồi buồn vì không biết làm sao gặp lại người đẹp, cụ liền nghĩ ra một cách là xin đi theo sách đàn và trống, cặp táp cho cô nàng. May quá cụ được nhận làm việc ấy vì cô đào Tám biết cụ là học trò. Cụ cung cúc tận tụy đi theo ca sĩ như một tài xế thuở nay.

 

Rồi có một ngày, cô đào Tám được quan viên mời đi hát ở một nơi khá xa. Cùng đi với cô, có một tiểu đồng theo hầu, và có cả cụ Nguyễn Công Trứ tháp tùng mang đàn và tráp bên vai. Đi được vài dặm đường, cụ Nguyễn báo động là lỡ quên cây đàn nhị và song loan để gõ nhịp.

 

Làm sao bây giờ? Rồi cô đào miễn cưỡng cùng với cụ vào nghĩ chân tạm dưới một gốc thông già rộng lớn, tọa lạc ven Đường. Cô chủ nhờ tiểu đồng quay về nhà lấy dụng cụ.

 

Khi còn lại chỉ hai người giữa đồng ruộng mênh mang, cụ Nguyễn xúc động và rồi ra sức tán tỉnh cô đào, nhưng tâm trí cô còn để cả vào buổi hát chầu sắp tới, nên cô chỉ “ừ hử ừ hử“ cho qua chuyện. Rồi mọi chuyện qua đi, chuyện tình cảm yêu đương ngắn ngủi rồi cũng qua mau, vì mỗi người bận một công việc riêng tư.

 

Cụ quay lại con đường học trò, vả lại là người có lý trí mạnh, nên tiếp tục vùi đầu vào đèn sách, lo học lo thi cử một cách dũng mãnh rắn rỏi:

 

« Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,

Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên,

Có giang sơn thì sĩ đã có tên

Từ Chu Hán vốn sĩ này là quý.

Miền hương đẳng đã coi là hiếu nghị

Đạo lập thân phải giữ lấy cương thường

Khí hạo nhiên chí đại chí cương

So chánh khí chất đầy trong trời đất»

 

Con người đầy tình cảm luyến ái đam mê, nhưng cùng lúc người cũng giầu nghị lực vượt thoát thường tình.

 

Rồi tới ngày đại đăng khoa, cụ Nguyễn thi đậu và bước vào công danh sự nghiệp. Nhân một dịp lễ hội hát chầu văn thơ với bạn bè, với các cô ả đào. Tấp nập tới.

 

Trong số các ả đào được mời đến, hiện diện cô Tám là cố nhân lúc cụ còn hàn vi… mà cụ đã từng say mê đắm đuối, nhưng cụ vô tình chưa hay biết, thì người xưa đã hát lên rằng:

 

“Giang sơn một gánh giữa đồng

Thuyền quyên ừ hự anh hùng nhớ chăng?“

Nghe câu hát, cụ giựt mình, sửng sốt nhìn ra người xưa, cụ xúc động và đọc một bài thơ tặng nàng:

 

“Liếc trông đáng giá mấy mười mươi

Đem lòng vàng để cạnh tiếng cười

Trăng xế nhưng mà cung chẳng khuyết

Hoa tàn nhưng nhụy vẫn vui tươi

Chia đôi duyên nợ đà hơn một

Mà nét xuân sơn vẹn cả mười

Ví chút tình duyên nên đằm thắm

Khéo làm cho bận khách làng chơi.“

 

Sau đó, cụ nhờ người đi mua sắm phẩm vật kính biếu và trao tiền vàng bội hậu làm quà kỷ niệm cho người xưa. Sử liệu không ghi rõ, rồi sau, cuộc tình này đi về đâu.

 

Trong số các cô đào hát đó, có nhiều người có học, họ thông minh và ứng xử văn chương đối đáp rất tài tình. Cụ cũng kể lại rằng, trước lúc gặp cô đào Tám, cụ có gặp cô đào Nhi thông minh đĩnh ngộ, cụ cũng say mê theo đuổi nghe hát nhiều ngày, mà kẹt là một dịp đó, cụ đang tìm vầng thơ để tán tỉnh nàng thì nàng đã lanh trí hỏi cụ một lô câu hỏi:

 

“Hỏi anh hà tỉnh, hà danh?

Hà châu, hà huyện, niên canh kỷ hà?“

 

Thiệt là một câu hỏi, hỏi nhiều thứ: năm sanh, quê quán, tỉnh nào, huyện nào, châu nào, bao nhiêu tuổi? Cụ Nguyễn chới với vì làm sao mà trả lời bằng ấy ý trong một câu thơ lục bát như của nàng? Cụ liền phải nói đi ngả khác, không chuẩn ý:

 

“Trước Lam Thủy, sau Hồng Sơn

Người nào đọc sách, gẩy đàn là anh”

 

Đã đối không xong thì phải trốn đi xa nàng thôi. Tuy vậy không phải thi nhân chỉ biết làm thơ tán đào, mà khi đứng tuổi, đã yên bề gia thất, có những lúc xa gia đình, người cũng nhiều lần nhớ nhung người vợ ở xa một cách đắm đuối:

 

“Tương tư không biết cái làm sao

Muốn vẻ mà chơi vẻ được nào?

Khi đứng khi ngồi khi nói chuyện

Lúc say lúc tỉnh lúc chiêm bao

Trăng soi trước mặt ngờ chân bước

Gió thổi bên tai ngỡ miệng chào

Một nước một non người cách biệt

Tương tư không biết cái làm sao!"

 

Người vợ ấy thương chồng lặn lội đi thăm, đường xa muôn dặm vất vả, nhìn dáng đi siêu siêu vẹo vẹo của người vợ luống tuổi, cụ Nguyễn cảm thương mà thốt lên lời:

 

“Đành nhẽ bút nghiên mà kiếm mã

Thương ơi kim chỉ cũng phong trần!”

 

Tình yêu thương như đang nghiêng ngả về cuối đường, nhiều thương hơn yêu, nặng nghĩa hơn tình. Cho hay qua năm tháng, qua bao niên kỷ, tình yêu tự nhiên vẫn gắn kết với ý niệm thiêng liêng ” ái nên ơn, tình nên nghĩa.”

 

Trích phỏng lược Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện của nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế

 
Chúc Thanh

Những chiếc đèn lồng đỏ lơ lửng trên đường Nguyễn Huệ như những giọt máu đông cứng trong hổ phách. Don Washington đứng ở rìa Chợ Tết, bàn tay nhẹ nhàng đặt trên eo Helen, cảm nhận hơi ấm từ lớp da tổng hợp của vợ mình—98.6 độ F, luôn hoàn hảo, luôn như người thật. Đám đông chen chúc xung quanh họ: những gia đình mặc cả mua cây quất, cành mai, chậu cúc. Trẻ con đuổi nhau giữa các gian hàng hạt sen, mức sấy, bánh kẹo. Xe máy bóp còi luồn qua những khe hở bất khả thi.
Tháng Chạp bắt đầu với những làn gió nhẹ, đã nghe thoang thoảng mùi hương xuân, chẳng biết có phải là vì cô Thuỷ Tiên giàu tưởng tượng hay không. Cả ấp Trà Cuôn đã rộn ràng chuẩn bị đón Tết, làm cô cũng thấy nao nao trong dạ. Nhạc xuân tưng bừng cất tiếng từ những máy truyền thanh bên hàng xóm. Bên thì réo rắt tân nhạc, Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa/Một chiều xuân ai đã hẹn hò...1, bên thì bùi ngùi vọng cổ, Tết năm nay chắc nhà mình buồn lắm/Ngõ trước vườn sau tiêu điều vắng lặng/Xuân đã về chưa mà con của Mẹ vẫn chưa về...2 Tết sắp về ai lại chẳng nôn nao, nhưng riêng cô Thuỷ Tiên còn thêm nỗi niềm xa nhà nên nghe mấy bài hát đó cô cũng buồn nẫu ruột. Mùa xuân sắp tới, đánh dấu một năm tròn hương lửa mặn nồng giữa Minh Anh và cô, tình yêu còn phơi phới như đoá hoa bừng thắm. Nhưng mùa xuân cũng gợi cho cô những ngày Tết thời con gái vui tươi, hồn nhiên với gia đình ở Sài Gòn.
Độc giả luôn công bình và người viết bài này cũng sẽ bỏ phiếu Kiều Phong nếu có cuộc thăm dò lần nữa. Vậy lý do gì Kiều Phong được mến mộ hơn so với các nhân vật kiệt xuất khác của Kim Dung? Nếu đọc nhiều truyện võ hiệp của nhiều tác giả khác nhau kể cả Kim Dung, bạn sẽ để ý thấy các cốt truyện đêu mang máng một bố cục giống nhau: Có một gia đình hay môn phái nào đó bị kẻ thù ác độc đang tâm tận diệt nhưng may mẵn có một đứa bé, thường là bé trai, may mắn trồn thoát. Đứa bé từ đó phải một mình lưu lạc và may mắn gặp được minh sư thu làm đệ tử truyền dạy võ công tuyệt thế. Nhiều khi cậu ta nhờ cơ duyên ăn được kỳ trân dị bảo nào đó nên có được công lực thâm hậu, võ học tuyệt vời, lớn lên thành một thanh niên khoảng 17, 18 tuổi đẹp trai, thông minh, giỏi võ.
Có một loại gương mà con người không bao giờ muốn nhìn vào: gương phản chiếu nguyên trạng của bản thân. Chúng ta thích gương tô vẽ, gương photoshop, gương nghiêng một góc để che khuyết điểm. Và đối với một số người Việt—đặc biệt những người sống lưu vong trong tâm trí, dù thân xác họ ở California, ở Sydney, ở Paris hay ngay tại Sài Gòn—Trump không phải là chính khách. Trump là tấm gương được tô vẽ hoàn hảo. Họ không yêu Trump vì chính sách của ông. Họ yêu Trump vì ông là phiên bản thỏa mãn ước mơ ngầm của chính họ. Nhưng trước khi đi sâu vào anh Tuấn, hãy dừng lại một chút. Vì câu chuyện này không chỉ về người Việt hải ngoại. Nó còn về những người Việt trong nước—những người đáng lẽ là "bên thắng cuộc."
Là lũ chúng tôi đấy, những con “ngựa” sinh năm Bính Ngọ 1966. Năm đầu tiên bước vào ngưỡng cửa cấp ba, chúng tôi còn ngơ ngác, nhìn nhau …phòng thủ nhiều hơn là thân thiện . Bởi đó là năm lớp 10, vừa mới chia tay bạn bè, thầy cô của mái trường cấp hai, lại nghe nói lớp 10A1 năm nay sẽ là “Lớp Điểm” dành cho những học sinh được tuyển thẳng từ lớp 9 lên lớp 10 và những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi lên lớp 10 .
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn. Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Khác với các tác giả khác, tất cả tình tiết và diễn biến của câu chuyện đều xoay quanh nhân vật chính, truyện của Kim Dung được tác giả lồng vào những câu chuyện khác, đầy đủ tình tiết éo le từ những nhân vật phụ chung quanh kết nối vào trong tác phẩm một cách khéo léo. Những “Truyện trong truyện” này đã làm cho tiểu thuyết Kim Dung vô cùng đa dạng. Thí dụ trong “Bích Huyết Kiếm”, mối tình giữa Viên Thừa Chí và Hạ Thanh Thanh rất tẻ nhạt, trong khi chuyện tình của cha mẹ Thanh Thanh là nàng Ôn Nghi và Kim Xà Lang Quân lại là một thiên tình sử đầy thương cảm.
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.