Hôm nay,  

Cây Mai Của Đồng Nguơn

29/01/202514:29:43(Xem: 5042)

Mai Dong Nguon
 (Hình: internet)
Ngày ba mươi Tết. Đồng Nguơn.

Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn.

Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?

Trên đường đi, hầu như ở đâu cũng thấy ruộng. Đến những xóm nhà dân thì ruộng được thay thế bằng những sân phơi thóc. Thóc phơi trước nhà, nhiều đến nỗi phơi lấn lên mặt đường. Thóc phơi ở sân bên hông nhà. Và chắc chắn là có cả ở sân sau. Con gái thị thành, lần đầu tiên thấy cái gì cũng lạ, lạ từ cây cầu tre lắt lẻo cho đến vườn chuối, ao bèo. Nhưng bây giờ chị đã thấy quen thuộc. Tất cả ẩn hiện trên đường đi. Và khi xe dừng trước ngõ xóm, đi vào khu dân cư, thì quang cảnh lạ hơn một chút.

Lính đóng trước nhà dân. Chị hỏi thăm. Và đây rồi! Lời dặn của anh thật chính xác, chị đã tìm ra anh. “Tìm ra”, là bởi vì anh đang xắn tay áo giúp bà chủ nhà phơi thóc. Một cảnh rất bình yên.

Anh giới thiệu chị với bà chủ nhà:
-    Thưa bác, đây là bà xã của cháu.
Hai người chào nhau. Bà chủ nhà, trạc tuổi mẹ của chị, trầm trồ một cách thật thà:
-    Cô… cô đẹp quá!
Chị ngượng nghịu cúi đầu. Anh tự nhiên hơn, khoe ngay:
-    Bà xã của cháu là hoa khôi trong trường đó bác!
-    Vậy sao? - Tiếng “Vậy sao” đặc trưng của người miền nam. Bà cũng không hỏi là trường nào.

Hai người bước chậm rãi trong sân phơi thóc. Đó là một khoảng sân tráng xi-măng sạch sẽ. Có mùi thơm thoảng nhẹ. Chị nghĩ “mùi thóc lúa”, rồi thầm chế nhạo mình dân thị thành ít biết về chuyện thôn quê. Ba năm qua, kể từ khi anh ra trường Thủ Đức, chị thỉnh thoảng đi thăm anh như thế. Anh đi nhiều nơi ở miền nam. Cô nữ sinh Đà Lạt từ cao nguyên xuống với cảnh ruộng đồng, rồi ra cũng đã khá quen. Có lúc thăm anh tận tiền đồn, nhưng cũng có lúc thăm tại nhà dân, nơi đoàn quân trú đóng chờ di chuyển. Lần này là Đồng Nguơn, một cái tên chưa một lần chị nghe đến, dù là trong bài học Sử Địa. Anh viết thư báo rằng anh không được về nhà ăn Tết. Tết này phải cấm trại. Lệnh cấp trên cho phép người nhà đến thăm. Và thế là chị đã biết Đồng Nguơn.
Họ đi vào nhà. Bà chủ nhà đang lui cui sau chái bếp chuẩn bị đãi họ bữa cơm chiều. Chị trố mắt ngạc nhiên, khi nhìn thấy bên trong nhà là nền đất, trái ngược hẳn với sân xi-măng láng bóng sạch sẽ phơi thóc ngoài kia. Anh hiểu ý, giải thích:
-    Ở đây nhà nào cũng vậy, họ coi trọng cái sân phơi thóc, nên tráng xi-măng kỹ lắm! Còn trong nhà thì đa số rất đơn sơ.
Bà chủ nhà bước lên nhà, chỉ vào bộ ván cao, bảo chị:
-    Tối nay cô nghỉ ở đây với tôi, không lo gì cả nhé!
-    Dạ, cám ơn bác. Mấy ngày cháu ở đây, sẽ làm phiền bác lắm ạ!
-    Không sao đâu. Tui có một mình, có cô và các anh đây sẽ vui mà! Con trai tui vài ngày mới về, cháu đi làm ở quận.
Chị hỏi:
-    Bác ơi, thóc phơi sau nhà, nhiều quá, một tay bác làm sao xuể ạ?
-    Mùa này không mưa, khi con trai về thì nó giúp tui. Nhưng cô biết hôn, mấy ngày nay có các anh đây giúp, tui cũng đỡ lắm!
Bà đưa đôi mắt nhìn anh, tỏ vẻ biết ơn.

Trời tối thật mau. Chị chưa kịp ngắm nhìn trọn vẹn quang cảnh xung quanh.

Những người lính ăn cơm ngoài sân, xong rồi họp lại đàn hát. Anh chị chơi với họ một chốc rồi anh nhắc chị đi ngủ sớm. Bà chủ nhà đã vào mùng.  Đèn dầu thắp mù mù. Hai người ngồi ở bậc thềm cửa. Muỗi bay vo ve bên tai. Anh không cho chị ngồi nữa, sợ bị muỗi đốt.
-    Ngủ sớm đi em! Sáng mai mình còn nhiều thời gian nói chuyện. Anh sẽ đưa em ra chợ chơi.
Chị “dạ”. Ngày mai còn nhiều thời gian. Chị vẫn có đủ thời gian báo cho anh một tin vui.

**

Mới đâu khoảng bốn giờ sáng. Chị bị đánh thức bởi tiếng lao xao người ta nói chuyện bên ngoài. Bà chủ nhà cũng thức giấc. Họ cùng lắng tai nghe.
Anh đến bên bộ ván, nói khẽ:
-    Anh phải đi.
Chị ngồi ngay dậy:
-    Anh đi sao?
-    Có lệnh hành quân.
Chị ra khỏi mùng, quơ chân tìm đôi giép mang vào. Bà chủ nhà cũng ra, nói vội:
-    Để tui gói cho mấy anh vài đòn bánh tét.
-    Dạ cám ơn bác.
Anh quay sang chị:
-    Tiếc quá, không được ăn Tết với em. Em về Sài Gòn ăn Tết với chú thím vậy nhé!
-    Dạ.
-    Hay là em ở lại đây chơi với bác một ngày, mai hãy về.
-    Dạ.
-    Em đừng buồn nhé!
Rối anh ôm siết lấy chị. Chị muốn nói cho anh về tin vui. Nhưng chị tự ngăn mình lại. Anh sắp ra lại vùng hành quân, nhiệm vụ chắc sẽ rất nặng nề. Anh sẽ có nhiều việc để lo. Thôi, cứ để về nhà, viết thư sau cũng được.

Toán quân đã đi. Nhanh gọn như khi họ đến. Bà chủ nhà không ngủ lại được, ra sau bếp nhóm lửa. Chị đứng một mình trong gian nhà thênh thang.

**
Đứng trong sân phơi thóc, chị thấy rõ tấm lòng trân trọng của người dân thôn quê đối với “hạt ngọc trời cho”. Họ đã dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho việc trồng, gặt, phơi lúa. Bà chủ nhà, tóc đã pha sương, vừa xới những hạt thóc lên, vừa kể cho chị nghe chuyện gia cảnh của bà. Chồng chết khi bà mới sanh đứa con trai, bà ở vậy nuôi con. Phước cho bà, đứa con trai lớn lên cũng ngoan, chăm làm, nên bà không lo lắng gì nữa. Có mấy công ruộng bà cho người ta thuê, bà cũng đủ ăn với số thóc lúa phần bà có được. Trong khi nghe bà kể chuyện, chị dõi mắt nhìn phía vườn cạnh sân phơi thóc. Là một vườn mai. Sắc hoa vàng đã ánh lên một vùng. Mồng một Tết, nhà nông có người cũng vẫn ra ruộng. Nhưng sắc xuân về chan chứa không lầm vào đâu được. Bỗng đâu có vài tiếng nổ vang lên rời rạc. Bà chủ nhà cũng như chị, nghiêng tai lắng nghe. Hai người nhìn nhau. Họ ngầm nói qua ánh mắt: không phải pháo, mà là tiếng súng.

Chị sẽ không thể ở lại đây ăn Tết với bà chủ nhà như anh dặn. Anh không có mặt nơi này. Chị xin phép bà chủ nhà để về lại Sài Gòn. Bà không ép, gói ghém cho chị hai đòn bánh tét. Bà ân cần nói:
-    Cô cẩn thận nghen! Có bầu, đi đứng nhẹ nhàng, đừng xách nặng.
Chị cảm động. Mình không có nói gì với bà, vậy mà con mắt của người phụ nữ dạn dày với cuộc sống đã cho bà biết. Vâng, cái điều đã làm cho chuyến đi thăm chồng lần này của chị có một điều đặc biệt khác với những lần trước. Cái điều chị muốn kể cho anh nghe nhưng không đủ thời gian. Cái điều mà chị sẽ phải viết trong thư mà thôi.

Chị như lênh đênh trong cái không khí Tết ở miền quê, nhưng lại không giống Tết. Chị giống như người lữ hành cô độc nhiều hơn. Trên phà Mỹ Lợi về thành phố, màu vàng của hoa mai vẫn còn dịu dàng vương vấn. Tiếng pháo đốt lén rời rạc vang lên như từ mọi phía của mặt sông. Và như có khói bay vào mắt.

**
Ba mươi tháng tư. Đồng Nguơn.

Anh đứng trong sân sau. Sân phơi lúa thóc. Không có thóc. Bà chủ nhà đã gom hết thóc đi xay và trữ gạo vào nhà, như để chuẩn bị cho những ngày mưa tới. Mảnh sân trơ trụi như không có sức sống. Nhịp sống cũng có vẻ đang dừng lại thật. Anh đau đớn như bị ai tước đoạt một cái gì. Những ngày cố gắng chống chọi bằng tàn hơi rồi cũng phải chấm dứt. Anh cho đồng đội giải tán. Họ không còn thấy lại nhau. Mỗi người đi về trú quán của mình. Trên con đường nhỏ trước khi vào ấp Đồng Nguơn, bày ra một cảnh anh chưa từng bao giờ nghĩ đến: áo quần giày mũ của lính vương vãi khắp nơi. Anh cắn chặt môi, cố gắng giữ vẻ bình tĩnh. Bà chủ nhà, vẫn ân cần như trước, dọn cơm cho anh ăn. Bà ái ngại hỏi:
-    Anh tính sao?
-    Dạ, cháu về Sài Gòn, ra trình diện ạ!
-    Phải. Ai cũng vậy hết. Tui nghĩ chắc không sao đâu!

-    Dạ, chắc không sao…
-    Còn gia đình, còn vợ con, anh hãy ráng…
-    Dạ, cháu cám ơn bác, cháu sẽ ráng.
Anh nuốt miếng cơm vào họng. Cơm mặn đắng.

Khi chỉ còn một mình ngoài vườn, anh đấm mạnh nắm tay vào cột gỗ. Máu chảy. Anh để dòng nước mắt uất hận chảy tuôn.

**

Và như thế, như những người thất trận khác, anh trình diện, rồi đi vào trại “cải tạo”. Anh trấn an bà con đừng lo nghĩ nhiều cho anh. Chị đã theo gia đình đi về Đà Lạt sau mấy tuần tạm trú ở Sài Gòn “lánh giặc”. Bây giờ thì hết chỗ để lánh. Đâu đâu cũng là “họ” rồi!

Anh đi “tù cải tạo” hơn hai năm, rồi vì bệnh nặng nên anh được cho về. Bà con Sài Gòn mừng vui, lo lắng cho anh, hỏi anh “tính sao”. Anh đâu biết tính sao. Cuộc đời đã xoay chuyển không ngờ. Người thanh niên lớn lên với bao nhiêu hoài bão xây đắp, bây giờ như đứng trong một cái hố sâu của thất vọng. Anh vẫn còn trẻ quá mà! Hai mươi bảy tuổi. Anh chưa biết “tính sao”.

Trở về Đà Lạt. Gia đình của cha mẹ anh bị “kiểm kê” mất hết tài sản vì có một cửa tiệm trên chợ, nên được gọi là “tư sản mại bản”.  Ba anh thất chí. Anh thất chí. Hai cha con vác cuốc đi làm rẫy. Nhiều người Đà Lạt khi đó cũng đi làm rẫy. Như một cái “mốt” chăng? Không hẳn thế. Mà là một phương tiện để sinh sống. Không bán được khoai củ như nhà vườn chuyên nghiệp thì cũng “có cái để ăn”. Thời gian này người dân cao nguyên thiếu gạo hơn cả cái thiếu của miền xuôi. Gạo bán kèm với thức ăn độn là khoai sắn theo “tiêu chuẩn đầu người”. Có nhà ăn su ăn sú trừ cơm. Anh tận dụng chiếc xe gắn máy cũ để chở rau chở sú về nhà. Nhưng ba của anh thì muốn đi bộ. Ông thường mang cái túi lớn trên vai, oằn lưng vác về những hoa màu thu được. Có khi ông gánh. Ông bảo thời chạy “tản cư” năm 1945 ông cũng gánh. Bây giờ ông trở lại gánh. Ông chủ tiệm với ông làm rẫy là một. Ông cuốc bộ đến quen, nhất quyết không đi xe. Cứ như vậy cho đến ngày ông chết.

Anh càng thất chí hơn. Anh trở về phố. Hai vợ chồng thuê nhà ra ở riêng. Thằng con trai kháu khỉnh lớn nhanh. Chị đã nghỉ học lâu nay, ra chợ bán buôn . Nói “bán” cho hay ho, chứ cái gọi là gian hàng của chị là một khoảng sân nhỏ bên hông chợ, trên đó chị bày một ít rau để bán. Những chanh, những hành, những ớt. Thế thôi. Cái “gian hàng” oai phong như thế vẫn phải đóng tiền chỗ mỗi ngày. Nhưng Trời thương, nhờ cái mảnh gian hàng đó mà chị trang trải được những chi phí cho gia đình. Cô nữ sinh hoa khôi của trường nữ trung học áo xanh đã đổi khác rất nhiều, đã nhuốm phong sương đúng theo nghĩa đen, vì sương và gió sớm của xứ lạnh đâu có tha cho làn da của một ai. Buổi sáng chị ra chợ sớm đón những nhà vườn mang rau ra bỏ mối, ngồi bán suốt ngày cho đến tắt mặt trời, tối đến lo cơm nước, dọn dẹp nhà cửa, đón con từ bà nội về. Chị vẫn mỉm cười, không một lời than.

Nhưng anh thì mắc bệnh trầm cảm. Anh đã không quen được với cảnh đời mới dù anh luôn dặn mình hãy cố gắng. Đêm ngủ anh thường giật mình ngồi bật dậy, nghe ùa đến trong anh nỗi xót xa thương nhớ đồng đội. Anh nhớ những con suối, những khu rừng, những làng mạc thôn ấp. Anh nhớ cảnh nhường nhau từng bịch gạo sấy, từng điếu thuốc hút một nửa. Rồi anh thảng thốt trong một giấc mơ có cảnh các anh em đồng đội vội vàng cởi bỏ quân phục, tìm đường chạy mỗi người một phương. Anh vẫn còn nghe rất rõ giọng nghẹn ngào của người lính gần gũi mình nhất: “Thiếu úy! Em sẽ tìm lại Thiếu úy.”  Anh nhớ cái nắm tay chảy máu của mình. Anh lại hãi hùng với ký ức những ngày trong tù cải tạo. Những lời thuyết giảng xoáy vào tai. Những lời nhiếc móc. Những ngày nắng lửa lầm lũi đi lao động. Những buổi mưa dầm ngồi trú ở một góc nào đó nhớ nhà, nhớ cha mẹ vợ con. Anh đã bị một hậu chứng khó chữa lành. Anh không dễ dãi đi tìm quên ngoài quán nhậu. Anh tìm vào một thế giới có nhạc, có thơ văn. Nhưng tất cả đều không giúp gì được cho anh.

Một ngày, người lính cũ tìm đến nhà anh. Thầy trò mừng tủi. Người lính vẫn gọi anh là “Thiếu úy”. Và thật cảm động, anh ta tặng “Thiếu úy”  một chậu mai vàng. Cây mai Đồng Nguơn, vì anh ta là người dân miền ấy, đã được anh “rinh” lên xe đò đem đến tận đây để tặng người chỉ huy cũ của mình.

**

Cây mai trồng ở cao nguyên, vẫn sống nhưng không nở hoa. Bao nhiêu mùa xuân vùn vụt trôi. Mỗi Tết đến, anh trông chờ cây mai nở những nụ hoa vàng. Nhưng nó sống èo ọp, thoi thóp như một cơ thể héo úa. Người ta bảo cây mai nếu được chăm sóc tốt có thể sống cả trăm tuổi. Anh quyết định cho nó ra ngoài đất, không để trong chậu nữa. Có người anh em bạn rủ đi làm rẫy dưới chân đèo Prenn, anh đem cây mai về trồng dưới đó.

Anh chọn làm rẫy, sống như một người ẩn dật. Chị thì không muốn. Chị chọn sống ở Đà Lạt, ngay phố chợ để buôn bán. Chị đã sắm được một cửa tiệm nhỏ bán len và đan áo. Anh đi đi về về. Bề ngoài, trông họ vẫn là một gia đình bình thường.

Đứa con trai lớn lên thành một cậu thanh niên tuấn tú. Nhưng cậu có lối sống trầm mặc. Cậu thường tìm mua những mẩu đá quý, và ngồi một mình yên lặng hằng giờ, khắc lên những mẩu đá ấy nào tượng Phật, nào tượng Chúa, nào tượng thần tiên. Cậu thiếu sự gần gũi với cha. Hai mươi mấy năm, hai cha con chỉ nói với nhau những câu thật đơn giản. Mà anh cũng không biết có cái gì để chia sẻ cùng con. Bởi anh còn mang một tâm bệnh chưa chữa lành.

**

Chị khóc khi đọc những dòng chữ tuyệt vọng của anh:

“Có thể anh sẽ chết. Như bao người tuyệt vọng. Cây mai anh trồng mãi chẳng nở hoa. Anh không quên được quá khứ. Anh không quay lưng với mình. Nhưng anh hằng phải đối diện với những kẻ lãng quên, những kẻ quay lưng. Có lẽ anh sẽ chết. Một ngày nào cây mai chết vì không muốn nở hoa, anh cũng sẽ chết”.

Cả tuần nay anh không về nhà. Tết đến nơi rồi! Một mình chị lo “cúng quảy trong nhà trong cửa”, nói theo cách quen thuộc của người mình. Đứa con đi với bạn bè vào núi tìm mua đá quý. Chị nghe nỗi buồn xót xa bào xé trong lòng. Đã có ai đó nói rằng một người buồn quá có thể “vỡ tim”. Có một anh bạn đã chết vì nhồi máu cơ tim và chết trong giấc ngủ không ai hay biết. Anh rồi cũng thế sao? Chị hoảng hốt. Đứa con về nhà sáng mồng một. Hai mẹ con đèo nhau trên chiếc Honda, xuống rẫy của anh.
Chân đèo Prenn. Rẫy nằm sâu bên trong, cách đường lộ lớn một cây số. Thằng con chở mẹ trên đường đất đỏ gập ghềnh. Họ đến trước sân nhà, một ngôi nhà nhỏ như mọi cái nhà quanh đây dựng sơ sài để trông chừng vườn rẫy. Chị như rú lên khi trông thấy cây mai ủ rũ xơ xác, khô đét. Bao nhiêu năm nay nó vẫn sống tuy rằng sống buồn sống héo. Bây giờ nó muốn chết rồi chăng? Chị chạy như bay vào nhà. Ngôi nhà đơn sơ chẳng mấy khi khóa cửa. Chị sẽ gặp anh như thế nào đây? Ôi, anh ơi!..
-    Chúc mừng Năm Mới!
Chị giật mình. Anh trong bộ đồ tươm tất, trông như sắp sửa đi đâu. Chị bàng hoàng. Anh nói tiếp ngay:
-    Xin lỗi em. Anh chuẩn bị về trên nhà mình đây! Hôm nay là Tết mà! Mình về ăn Tết chứ em?
-    Dạ…
-    Con chở em xuống đây à?
-    Dạ, hai mẹ con chạy xuống với anh. Em sợ anh…
-    Sợ anh buồn à?
-    Không… Anh ơi, cây mai héo queo rồi!
Anh thở dài:
-    Phải. Mai vàng khó ra hoa nơi miền rừng núi lạnh lẽo. Ăn tết ba ngày xong mình cùng đi Đồng Nguơn đi em! Đi thăm thằng lính cũ của anh. Đi thăm ngôi nhà có lần em đã ghé đấy! Bà chủ nhà chắc bây giờ lụm cụm lắm rồi. Vườn mai của bà chắc nở đẹp phải biết. Phải đi Đồng Nguơn thôi! Thằng con cũng đi nữa. Anh có nhiều điều để chia sẻ với nó.
Nước mắt tràn đầy trong mắt chị. Người con gái hoa khôi trong trường nữ trung học áo xanh, bao năm dạn dày tần tảo vẫn sáng lấp lánh vẻ đẹp nhu lành. Chị gật đầu thật nhanh như sợ anh đổi ý, như sợ những gì mình nghe thấy chỉ là trong mơ.

Trước cổng, cây mai vàng xơ xác như sống lại. Cây mai của Đồng Nguơn.

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
 

Những chiếc đèn lồng đỏ lơ lửng trên đường Nguyễn Huệ như những giọt máu đông cứng trong hổ phách. Don Washington đứng ở rìa Chợ Tết, bàn tay nhẹ nhàng đặt trên eo Helen, cảm nhận hơi ấm từ lớp da tổng hợp của vợ mình—98.6 độ F, luôn hoàn hảo, luôn như người thật. Đám đông chen chúc xung quanh họ: những gia đình mặc cả mua cây quất, cành mai, chậu cúc. Trẻ con đuổi nhau giữa các gian hàng hạt sen, mức sấy, bánh kẹo. Xe máy bóp còi luồn qua những khe hở bất khả thi.
Tháng Chạp bắt đầu với những làn gió nhẹ, đã nghe thoang thoảng mùi hương xuân, chẳng biết có phải là vì cô Thuỷ Tiên giàu tưởng tượng hay không. Cả ấp Trà Cuôn đã rộn ràng chuẩn bị đón Tết, làm cô cũng thấy nao nao trong dạ. Nhạc xuân tưng bừng cất tiếng từ những máy truyền thanh bên hàng xóm. Bên thì réo rắt tân nhạc, Đón xuân này tôi nhớ xuân xưa/Một chiều xuân ai đã hẹn hò...1, bên thì bùi ngùi vọng cổ, Tết năm nay chắc nhà mình buồn lắm/Ngõ trước vườn sau tiêu điều vắng lặng/Xuân đã về chưa mà con của Mẹ vẫn chưa về...2 Tết sắp về ai lại chẳng nôn nao, nhưng riêng cô Thuỷ Tiên còn thêm nỗi niềm xa nhà nên nghe mấy bài hát đó cô cũng buồn nẫu ruột. Mùa xuân sắp tới, đánh dấu một năm tròn hương lửa mặn nồng giữa Minh Anh và cô, tình yêu còn phơi phới như đoá hoa bừng thắm. Nhưng mùa xuân cũng gợi cho cô những ngày Tết thời con gái vui tươi, hồn nhiên với gia đình ở Sài Gòn.
Độc giả luôn công bình và người viết bài này cũng sẽ bỏ phiếu Kiều Phong nếu có cuộc thăm dò lần nữa. Vậy lý do gì Kiều Phong được mến mộ hơn so với các nhân vật kiệt xuất khác của Kim Dung? Nếu đọc nhiều truyện võ hiệp của nhiều tác giả khác nhau kể cả Kim Dung, bạn sẽ để ý thấy các cốt truyện đêu mang máng một bố cục giống nhau: Có một gia đình hay môn phái nào đó bị kẻ thù ác độc đang tâm tận diệt nhưng may mẵn có một đứa bé, thường là bé trai, may mắn trồn thoát. Đứa bé từ đó phải một mình lưu lạc và may mắn gặp được minh sư thu làm đệ tử truyền dạy võ công tuyệt thế. Nhiều khi cậu ta nhờ cơ duyên ăn được kỳ trân dị bảo nào đó nên có được công lực thâm hậu, võ học tuyệt vời, lớn lên thành một thanh niên khoảng 17, 18 tuổi đẹp trai, thông minh, giỏi võ.
Có một loại gương mà con người không bao giờ muốn nhìn vào: gương phản chiếu nguyên trạng của bản thân. Chúng ta thích gương tô vẽ, gương photoshop, gương nghiêng một góc để che khuyết điểm. Và đối với một số người Việt—đặc biệt những người sống lưu vong trong tâm trí, dù thân xác họ ở California, ở Sydney, ở Paris hay ngay tại Sài Gòn—Trump không phải là chính khách. Trump là tấm gương được tô vẽ hoàn hảo. Họ không yêu Trump vì chính sách của ông. Họ yêu Trump vì ông là phiên bản thỏa mãn ước mơ ngầm của chính họ. Nhưng trước khi đi sâu vào anh Tuấn, hãy dừng lại một chút. Vì câu chuyện này không chỉ về người Việt hải ngoại. Nó còn về những người Việt trong nước—những người đáng lẽ là "bên thắng cuộc."
Là lũ chúng tôi đấy, những con “ngựa” sinh năm Bính Ngọ 1966. Năm đầu tiên bước vào ngưỡng cửa cấp ba, chúng tôi còn ngơ ngác, nhìn nhau …phòng thủ nhiều hơn là thân thiện . Bởi đó là năm lớp 10, vừa mới chia tay bạn bè, thầy cô của mái trường cấp hai, lại nghe nói lớp 10A1 năm nay sẽ là “Lớp Điểm” dành cho những học sinh được tuyển thẳng từ lớp 9 lên lớp 10 và những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi lên lớp 10 .
Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn. Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Khác với các tác giả khác, tất cả tình tiết và diễn biến của câu chuyện đều xoay quanh nhân vật chính, truyện của Kim Dung được tác giả lồng vào những câu chuyện khác, đầy đủ tình tiết éo le từ những nhân vật phụ chung quanh kết nối vào trong tác phẩm một cách khéo léo. Những “Truyện trong truyện” này đã làm cho tiểu thuyết Kim Dung vô cùng đa dạng. Thí dụ trong “Bích Huyết Kiếm”, mối tình giữa Viên Thừa Chí và Hạ Thanh Thanh rất tẻ nhạt, trong khi chuyện tình của cha mẹ Thanh Thanh là nàng Ôn Nghi và Kim Xà Lang Quân lại là một thiên tình sử đầy thương cảm.
Vào những năm của thập niên 1960s và 70s, truyện võ hiệp kỳ tình là một phong trào ăn khách nhất của các tờ nhật báo thời bấy giờ. Có khá nhiều tác giả viết võ hiệp lúc đó, nhưng cái tên Kim Dung là sáng chói nhất. Ông là một hiện tượng nổi bật làm say mê hàng triệu độc giả và khán giả từ những trang tiểu thuyết của thế kỷ 20 kéo tiếp đến thế giới phim bộ Hồng Kông thế kỷ 21, không phải chỉ tạiViệt Nam, mà còn nhiếu nước khác ở Á châu.
Con đã nghe rất nhiều lần ở chùa, các thầy đọc: Quán tự tại Bồ Tát, hành thâm bát nhã ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…Con đã nhìn thấy ở các chánh điện các chùa, các tượng Quan Thế Âm, phật A Di Đà và Đại Thế Chí Bồ Tát, được đặt cạnh nhau, hợp thành bộ Tây Phương Tam Thánh để dẫn dắt chúng sinh vào thế giới cực lạc tịch tĩnh. Con cũng thấy tượng phật Quan Âm được đặt thờ ở cổng chính các chùa, ở các nơi trang nghiêm để chúng sanh chiêm bái và ngưỡng vọng lòng từ bi cứu khổ cứu nạn…
Tới đây, tôi lại nhớ cái ngày ấy, khi tôi ngồi bàn phỏng vấn đi Canada. Thực ra, chỉ là cuộc nói chuyện ngắn gọn, vui vẻ, vì tôi làm việc trong văn phòng Cao Ủy trại tỵ nạn, thường xuyên giúp đỡ phái đoàn Canada chuyện điền forms cho các gia đình đi Canada, nên ông trưởng phái đoàn quen mặt, thấy tôi bị phái đoàn Mỹ từ chối, ổng sẵn sàng nhận tôi đi Canada bất chấp trong hồ sơ lý lịch của tôi có đầy đủ anh chị em đang ở Mỹ
Trong thời đại nhân danh mọi thứ trừ sự thật, chữ “trung thực” vừa đắt giá vừa khả nghi – người ta nhân danh đạo lý che đậy quyền lợi, nhân danh hòa bình chuẩn bị chiến tranh, nhân danh “dám nói thẳng” biện minh cho mất nhân cách. “Người Trung Thực Nhất Thế Giới” mượn hai vị sứ giả hành tinh soi ranh giới giữa trung thực và bình phong mưu đồ: không trào lộng, dù tiếng cười khó thảnh thơi; không buộc tội ai, dù bóng ai đó thấp thoáng. Xin giới thiệu đến độc giả Việt Báo khúc văn suy tưởng này, bình thản giọng kể mà day dứt nỗi băn khoăn trước cái giá thế giới phải trả cho việc “dám” nói thực.
Sau 4 năm trong trại tù Cải Tạo, tôi trở về Vũng Tàu, tìm lại gia đình mình. Gia đình tôi đã thành cổ tích. Cha Mẹ tôi qua đời, anh em tôi thất lạc, ngôi nhà của chúng tôi đã thành nhà của một cán bộ cao cấp ngoài Bắc dọn vào. Tôi thành người tứ cố vô thân, tôi cố đi tìm gia đình anh tôi, nhưng tăm cá bóng chim. Người nói anh tôi bị bắt lại sau khi vượt biển không thành, người nói cả gia đình hình như đã sang tới Úc, có người lại nói chuyến tầu có gia đình anh tôi mất tích trên biển.Vì nếu bị bắt lại thì ở tù mấy tháng cũng ra. Sang đến Úc thì phải có tin về. Có người nói hình như anh tôi bỏ xót lại một đứa con nhỏ mới 7, 8 tuổi. Hôm cả nhà có người đến đón ra khơi thì thằng bé chơi ngủ lại ở nhà bạn, chủ thuyền không đợị được. Hứa là sẽ cho nó đi ngay chuyền sau. Nhưng chuyến sau không bao giờ có.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.