Hôm nay,  

Chuyện Vãn: Năm Thìn Nói Chuyện Rắn Trong Tác Phẩm Kim Dung

07/02/202500:00:00(Xem: 6111)


1
2


 

Văn hóa phương Tây, rắn vừa là biểu tượng trong lĩnh vực y khoa vừa là nguồn cảm hứng trong hội họa, kiến trúc và văn học. Văn hóa Hy Lạp bắt nguồn từ vị thần cổ đại Hermes, sứ giả của các vị thần. Thần Esculape được coi là ông tổ của ngành y dược. Biểu tượng của Tổ Chức Y Tế Thế Giới  WHO (World Health Organization) con rắn quấn quanh cây gậy Esculape cầm. Cục Quân Y VNCH có thêm đôi cánh trên thanh kiếm.

 

Theo truyền thuyết phương Đông, Trung Hoa từ thời cổ đại cho rằng thần Nữ Oa đầu người thân con  rắn là vị thần sáng thế, có quyền uy tối thượng, đội đá vá trời khi bầu trời rách toang, đất đai rung chuyển, núi rừng bốc cháy, nước ngập mênh mông, loài người hốt hoảng kéo nhau chạy trốn. Thần Nữ Oa luyện hơn ba mươi sáu nghìn viên đá ngũ sắc lấp lại bầu trời cho loài người cư ngụ.

 

Theo bài viết của BS Nguyễn Xuân Quang cho rằng Nữ Oa cũng không phải là người Tàu, Nữ Oa khi chết biến thành chim Tinh Vệ đội đá vá trời, tha đá lấp biển đông. Tương truyền rằng con gái vua Viêm Đế ngày xưa vượt biển chết chìm, hóa ra chim Tinh Vệ, ngậm đá ở núi Tây về lấp biển Đông… Tinh Vệ là con gái vua Viêm Đế mà Viêm Đế là tên hiệu của Thần Nông. Nữ Oa Tinh Vệ là con của Mẹ Trứng Nước Thần Nông Viêm Đế. Như thế rõ như hai năm là mười Nữ Oa không phải là người Trung Hoa.

 

Thần thoại Việt Nam, Thần Nam Thần Nữ là hai vị thần đầu tiên sinh ra con người. Thần Nam tên là ông khổng lồ Tứ Tượng và Thần Nữ là bà Nữ Oa. Theo truyện này thì bà Nữ Oa có chồng là ông Tứ Tượng. Ông này ngỏ ý muốn lấy Nữ Oa. Bà Nữ Oa thách ông Tứ Tượng đắp núi thi, nếu ông đắp cao hơn bà sẽ lấy làm chồng. Kết quả ông Tứ Tượng đắp núi thua bà. Nữ Oa đắp một ngọn núi cao ngất trời, đứng trên đó có thể thấy khắp cõi trời đất. Dấu tích còn lại của ngọn núi cao của bà Nữ Oa đắp, dân gian cho là núi Nam giới ở Hà Tĩnh ngày nay. Ông Tứ Tượng đắp núi thua nhưng kiên gan trì chí đeo đuổi mãi, cuối cùng bà Nữ Oa cũng xiêu lòng lấy ông làm chồng.

 

Như thế rõ ràng theo thần thoại Việt Nam thì Nữ Oa là vị Thần Nữ đầu tiên. Và ta cũng thấy thần Nam thua tài thua sức Thần Nữ Nữ Oa. Nữ Oa chính vị Thần Nữ đầu tiên sinh ra loài người, trong đó chính yếu là Hừng Việt đúng như truyền thuyết Việt Nam.

 

Trong võ học cổ truyền, rắn là một trong những loài động vật tiêu biểu được các võ sư ngày xưa tìm hiểu, quan sát để hình thành các bí quyết võ công với tên gọi Xà Quyền. Xà Quyền có các bài múa: Rắn thần luyện trăng (xà thần luyện nguyệt), rắn vàng từ đất nhô lên (kim xà lục khởi), rắn quật động trời (xà phiên thiên chân), rắn trắng phun bọt (bạch xà phẫn mạt), rắn lăng lướt sương (xà đằng tẩu lộ), rắn sừng quẫy đuôi (giác xà ứng vĩ)… vừa nhu vừa cương với nhiều thế võ bí hiểm. Về kiếm pháp có xà hành đao, xà hành kiếm.

 

Môn võ nầy xuất xứ từ Trung Hoa và sau đó truyền sang Việt Nam cũng như các môn Long Quyền (Võ Rồng), Hổ Quyền (Võ Hổ), Hầu Quyền (Võ Khỉ), Hầu Quyền (Võ Khỉ), Hạc Quyền (Võ Hạc), Kê Quyền (Võ Gà)…

 

Các thế Xà Quyền với nhiều bộ thế linh động, bài võ liên hoàn, thủ và công linh hoạt khi chiến đấu sắc bén làm cho đối phương trở tay không kịp.

 

Nhà văn Kim Dung dựa vào môn võ nầy đã sáng tạo ra các nhân vật và võ công cái thế trong chốn võ lâm.

 

Năm 1955, ông bắt đầu viết tiểu thuyết võ hiệp. Bộ truyện đầu tay của ông là Thư Kiếm Ân Cừu Lục. Năm 1956, ông bộ thứ hai là Bích Huyết Kiếm. Năm 1957, bộ truyện thứ ba là Tuyết Sơn Phi Hồ và sau đó là Xạ Điêu Tam Bộ Khúc (gồm 3 bộ Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên Đồ Long Ký, 1961). Năm 1963 với Thiên Long Bát Bộ gồm Lục Mạnh Thần Kiếm. Năm 1967 với Tiếu Ngạo Giang Hồ và năm 1969 với Lộc Đỉnh Ký. Toàn bộ tác phẩm của Kim Dung được tóm gọn thành hai câu đối:“Phi Tuyết Liên Thiên Xạ Bạch Lộc. Tiếu Thư Thần Hiệp Ỷ Bích Uyên” (Phi Hồ Ngoại Truyện - Tuyết Sơn Phi Hồ - Liên Thành Quyết - Thiên Long Bát Bộ - Xạ Điêu Anh Hùng - Bạch Mã Khiếu Tây Phong - Lộc Đỉnh Ký - Tiếu Ngạo Giang Hồ - Thư Kiếm An Cừu Lục  - Thần Điêu Hiệp Lữ - Ỷ Thiên Đồ Long - Bích Huyết Kiếm - Uyên Ưng Đao).

Trong các tác phẩm nầy, trích dẫn vài nhân vạt điển hình đã gây sóng gió trong chốn võ lâm.

 

* Bích Huyết Kiếm & Kim Xà Lang Quân

 

Vào cuối thời nhà Minh Viên Sùng Hoán bị cáo buộc thông đồng với ngoại phiên và bị hoàng đế Sùng Trinh xử tử. Con trai Viên Sùng Hoán là Viên Thừa Chí nhờ may mắn được đưa lên núi Hoa Sơn, được Mục Nhân Thanh và Mộc Tang đạo nhân truyền thụ võ nghệ. Trên núi Hoa Sơn, Viên Thừa Chí tình cờ phát hiện ra Kim Xà Kiếm và Kim Xà Bí Kíp - di vật của Hạ Tuyết Nghi và học được kiếm thuật vô địch – nổi danh với tên gọi Kim Xà Lang Quân.

 

Kim Xà Kiếm có nguồn gốc từ Ngũ Độc Giáo, thanh kiếm này khác với những thanh kiếm ở Trung Nguyên, nó không thẳng mà uốn lượn như hình con rắn, mỗi khi xuất chiêu vận nội công, thanh kiếm sẽ chuyển sắc vàng, đồng thời đầu kiếm tỏe ra như lưỡi rắn.

Với nọc độc của các loài động vật rất nhiều, nguy hiểm nhất như: bọ cạp, nhện phễu, rết, cóc… nhất là rắn, khoảng 450 loài rắn có nọc độc. Nọc rắn được tạo ra bởi các tuyến nước bọt hàm dưới chứa nhiều loại độc tố rất nguy hiểm.

 

Ngũ Độc Giáo nguồn gốc từ Tây Vực là tà phái với hai bí kíp võ công xuất hiện trong ba tiểu thuyết Tiếu Ngạo Giang Hồ, Bích Huyết Kiếm  Lộc Đỉnh Ký. Ngũ Độc Giáo nổi tiếng với khả năng dùng độc cũng như các võ công có liên quan đến độc dược. Hà Thiết Thủ, giáo chủ Ngũ Độc Giáo, trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, chưởng môn nhân của Ngũ Độc Giáo là Lam Phượng Hoàng.

 

Ngũ Độc Giáo cho người trong giang hồ không tên thật của giáo phái này mà là Ngũ Tiên Giáo. Ngũ Độc Giáo có trụ sở tại vùng Miêu Cương, tỉnh Vân Nam và sau đó dưới trướng Nhật Nguyệt Thần Giáo.

 

Môn võ công trứ danh và lợi hại nhất của Ngũ Độc Giáo là Ngũ Thánh Tam Bảo. Ngũ thánh gồm rắn, rết, bọ cạp, nhện và cóc. Nếu phối hợp với các loại cỏ cây hoa lá lạ thì sẽ tạo ra loại rượu ngũ bảo hoa mật tửu, khi bị đầu độc thì hết thuốc chữa. Ngũ Độc Giáo có ba món bảo vật là Kim Xà Kiếm, Kim Xà Chùy và Tàng Bảo Đồ. Về sau 3 món bảo vật bị Hạ Tuyết Nghi dụ dỗ Hà Hồng Dược - công chúa của Ngũ Độc Giáo lấy cắp.

 

Từ đó Ngũ Độc Giáo có môn quy kỳ lạ nhất, theo đó, Ngũ Độc Giáo chỉ truyền chức giáo chủ cho nữ. Ngày lên ngôi, giáo chủ phải chặt bỏ một tay sau đó lắp tay giả bằng móc sắt. Bàn tay này vừa có dụng ý nhắc nhở các giáo chủ câu chuyện năm xưa của Hà Hồng Dược, vừa có tác dụng giúp luyện độc. Trên cánh tay giả được tẩm thêm nhiều loại độc dược mà không ai có thuốc giải.

 

Cả gia đình Hạ Tuyết Nghi bị Ôn Lão Lục của phái Ôn Gia giết hại. Hạ Tuyết Nghi may mắn sống sót trốn thoát và xâm nhập vào Ngũ Độc Giáo luyện tập bảo vật trấn bang của Ngũ Độc Giáo, nguồn gốc từ Tây Vực.

 

Kim Xà Kiếm hình dạng rất khác biệt. Lưỡi kiếm không thẳng mà uốn lượn như hình con rắn. Mỗi khi xuất chiêu vận nội công, thanh kiếm sẽ chuyển sắc vàng, lưỡi kiếm từ một tách ra làm đôi, hệt như hình lưỡi rắn. Kim Xà Kiếm có sát khí rất nặng, chém sắt như chém bùn. Bị kiếm này đâm, chất độc xâm nhập toàn thân tê liệt.

 

Hạ Tuyết Nghi nhờ thanh kiếm nầy đánh đâu thắng đó, nhưng cuối cùng bị Ôn Gia Phái hạ độc rồi vây khốn trong Ngũ hành trận. Mang mối thù không đội trời chung với Ôn Gia, Hạ Tuyết Nghi giết 50 người và làm nhục 10 phụ nữ khác trong gia đình họ Ôn. Tuy nhiên, sau khi bắt cóc được Ôn Nghi, ông bị vẻ đẹp bên trong của nàng cảm hóa. Tuy Hạ Tuyết Nghi võ nghệ cao thâm, nhiều lần bất phân thắng bại với Ôn Gia Ngũ Lão nhưng ông đã bị Ôn Gia Ngũ Lão đầu độc bằng Túy Tiên Mật trong bát canh hạt sen do Ôn Nghi đưa mà không biết có độc bên trong chén canh.

 

Cuối cùng Hạ Tuyết Nghị bị bắt, bị cắt hết gân tay, gân chân, trở thành phế nhân, trốn trong một hang đá ở Hoa Sơn, dành những ngày cuối đời để mài giũa Kim xà kiếm pháp và phá giải Ngũ hành trận của Ôn Gia nhưng bất thành và ôm hận mà chết trong hang đá, không người chôn cất. Ác lai ác báo.

 

* Tây Độc Âu Dương Phong

 

Trong Võ Lâm Ngũ Bá (Anh Hùng Xạ Điêu va Thần Điêu Đại Hiệp) xuất hiện 5 nhân vật  bá chủ võ lâm là Trung Thần Thông Vương Trùng Dương, Tây Độc Âu Dương Phong, Bắc Cái Hồng Thất Công, Đông Tà Hoàng Dược Sư và Nam Đế Đoàn Trí Hưng (sau nầy xuất gia là Nhất Đăng đại sư).

 

Âu Dương Phong là chủ nhân núi Bạch Đà ở Tây Vực, nhân vật độc ác, nhiều mưu mô thủ đoạn, gian trá. Võ công rất cao, thường dùng một cây gậy có thả hai con rắn độc ở đầu làm vũ khí. Ngoài tuyệt kỹ của y là Cáp Mô Công, ông chế ra các loại thuộc độc không ai giải được, ông bị người trong giang hồ gọi là Lão Độc Vật.

 

Âu Dương Phong người thô kệch, đầu đội khăn xanh như người Hồi, râu quai nón, da đen bóng, mắt to tròn. Sau lần Hoa Sơn luận kiếm thứ nhất, Âu Dương Phong được bầu vào Thiên hạ ngũ tuyệt, danh xưng là Tây Độc. Không có nhân vật nào địch nổi với Tây Độc.

Khi thấy Vương Trùng Dương (giả chết) ốm nặng sắp qua đời, y liền tìm đến nhằm lấy cắp Cửu Âm Chân Kinh, không ngờ Vương Trùng Dương đã chuẩn bị trước, đánh y trọng thương. Âu Dương Phong đành chạy về Tây Vực dưỡng thương suốt mười năm mới tái xuất giang hồ.

 

Âu Dương Phong và Dương Khang (con của Dương Thiết Tâm và Bao Tích Nhược nhận làm con nuôi) lên Đào Hoa đảo của Đông Tà và giết chết năm người trong nhóm Giang Nam Thất Quái, chỉ để lại một mình Kha Trấn Ác vốn bị mù để đổ tội cho Hoàng Dược Sư. Nhưng mưu kế này sau đó bị Hoàng Dung phát hiện. Tại Miếu Thiết Thương, Hoàng Dung thông qua lời kể của Cô Ngốc đã vạch tội Dương Khang giết Âu Dương Khắc (tuy gọi Âu Dương Phong là chú, nhưng chính là con ruột của Âu Dương Phong trong cuộc tình vụng trộm giữa Tây Độc và chị dâu mình sinh ra). Dương Khang sợ bị lộ chuyện nên định giết người diệt khẩu đánh một chưởng vào người Hoàng Dung, nhưng không ngờ lại trúng độc của Âu Dương Phong dính từ trước trên áo của Hoàng Dung. Âu Dương Phong đã bỏ mặc Dương Khang bị trúng độc chết mà không cứu.

 

Nói về vũ khí đáng sợ thâm độc nhất của Âu Dương Phong là Xà Nhi với con rắn trong tay gã. Âu Dương Phong đã dày công nghiên cứu hàng chục năm, kết hợp vô số thứ rắn độc nhất thiên hạ vào trong con rắn này khiến độc dược của nó trở nên vô cùng khủng khiếp.

Trúng loại độc này, nếu không được chính Âu Dương Phong giải thì chỉ có chết. Mà chết chưa phải là hết, sự đáng sợ của con Xà Vương này nằm ở chỗ nó biến nạn nhân của nó trở thành một nguồn độc lây bệnh mới. Bất cứ ai chạm vào cái xác đều sẽ bị nhiễm độc và chịu cái chết đau đớn.

 

Khi lão thổi tiêu thì bầy rắn độc đột nhiên xuất hiện đến tấn công địch thủ vì vậy lão không ngán “nan địch quần hùng”.

 

Có lần Âu Dương Phong và Chu Bá Thông rời Đào Hoa đảo. Chu Bá Thông thách Âu Dương Phong có thể giết hết cá mập trên biển. Âu Dương sai người bắt một con cá mập ở dưới biển lên, lấy nọc con rắn trên gậy đổ vào miệng, con cá chết ngay lập tức. Sau đó, con cá mập được thả xuống biển, các con cá khác lại ăn xác và cũng chết liền. Lần lượt, con sau ăn xác con trước, thế mà cuối cùng cả vùng biển xác cá mập nổi lên trắng xóa.

 

Trong lần thâm nhập vào phủ vương gia nước Kim, Quách Tĩnh vô tình uống được máu của con bảo xà mà Lương Tử Ông đã nuôi 20 năm. Sau đó, không chỉ công lực được gia tăng Quách Tĩnh cũng không bị trúng bất kỳ loại độc rắn nào khác trong thiên hạ.

 

Trên đảo Đào Hoa, Lão Ngoan Đồng (Chu Bá Thông, đệ tử của Vương Trùng Dương) với võ công tuyệt thế Cửu Âm Chân Kinh, Song Thủ Hỗ Bác làm cho Tây Độc ở thế bị động. Tây Độc dỡ thủ đoạn bá đạo cho mãng xà cắn, Lão Ngoan Đồng nhiễm độc toàn thân, Quách Tĩnh giúp ông hút chất độc ra ngoài nên bình an vô sự.

 

Với dĩ độc trị độc, có vài nhân vật không sợ độc. Ngoài Quách Tĩnh có Du Thản Chi còn có tên gọi khác là Trang Tụ Hiền, xuất hiện trong Thiên Long Bát Bộ. Du Thản Chi si mê A Tử (A Tử, đệ tử của Đinh Xuân Thu). Quá si tình nên gã mê muội cam tâm tình nguyện phục thị A Tử và cho rằng đó là lý tưởng, là mục tiêu, là hoài bão của cuộc đời mình. Du Thản Chi chấp nhận tất cả thủ đoạn tàn độc của A Tử, dù là bị đau đớn, sỉ nhục, hành hạ và hủy hoại thân xác lẫn linh hồn chỉ với tâm niệm được yêu nàng, dù là mối tình câm, chỉ mong được gần nàng.

 

A Tử cho người đem khuôn sắt nung chảy lên đầu Du Thản Chi, nỗi đau đớn tột cùng thế nhưng, trong cơm đau giày xé, tâm hồn gã vẫn hạnh phục và luôn hướng về A Tử mà không chút hối hận.

 

A Tử lấy cắp Bích Ngọc Vương Đỉnh trốn về trung thổ mang đỉnh ngọc trong mình, phóng ngựa ra ngoài thành, Du Thản Chi chạy theo. Đến góc rừng vắng vẻ, A Tử xuống ngựa, đốt hương thơm bỏ vào trong đỉnh. Mùi hương quyến gọi loài độc trùng rắn, rết, nhện, bọ cạp... quanh đó kéo đến. Độc trùng theo mùi hương mò vào đỉnh ngọc. A Tử bắt Du Thản Chi thò tay vào đỉnh cho độc trùng hút máu tươi. Khi độc trùng no máu, bụng căng phồng, rời cánh tay Du Thản Chi rơi xuống, A Tử đập chết độc trùng, lấy máu xoa vào hai lòng bàn tay, luyện công.

 

Trong một đêm bị nọc độc hành hạ khủng khiếp Du Thản Chi lăn lộn, quằn quại trên sàn đá. Tình cờ gã nhìn thấy hình vẽ trong một quyển sách mang theo. Hình vẽ người nằm trong tư thế giống như kiểu gã đang nằm. Trong lục phủ, ngũ tạng của người trong hình vẽ có một đường chỉ đỏ chạy qua những kinh mạch. Du Thản Chi hướng dẫn bằng tâm ý cơn ngứa trong người chàng theo đường chỉ đỏ ấy. Gã cảm thấy cơn ngứa hạ đi, dễ chịu. Từ đó mỗi đêm gã dùng cách đó để hoá giải… Vô tình gã đã học được phép luyện công theo Dịch Cân Kinh. Bí kíp Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm Tự bị đánh cắp, gã mang theo mà không ai biết. Gã vô tình luyện được bí kíp nầy nên tích tụ một lượng độc tính âm hàn khủng khiếp. A Tử ngạc nhiên khi thấy Du Thản Chi bị loại độc trùng kịch độc như con Hàn Ngọc Băng Tầm cắn mà vẫn không chết.

 

Với khả năng hộ thể từ Dịch Cân Kinh, Du Thản Chi tiếp tục hấp thụ nhiều loại dị độc khác, đặc biệt là độc từ con Thiên Sơn Băng Tằm. Mọi loại hàn độc đều không có tác dụng với Du Thản Chi. Với tính chí âm chí hàn từ con vật quý hiếm này, nội công của Du Thản Chi gia tăng vượt bậc, thậm chí chưởng pháp âm độc của Tinh Túc lão quái Đinh Xuân Thu cũng không thể xâm nhập cơ thể Du Thản Chi.

 

Trương Vô Kỵ (con của Trương Thúy Sơn - chính phái  và Ân Tố Tố - tà giáo) trong Ỷ Thiên Đồ Long. Khi Triệu Mẫn (Triệu Minh) người Mông Cổ xâm nhập vào Trùng Nguyên gây chấn động giang hồ với Thập Hương Nhuyễn Cân Tán loại chất độc này không màu, không mùi, không vị, cho dù có dùng kim châm cũng không thể phát hiện. Người bị trúng độc thân thể tê liệt, hoàn toàn vô lực, không còn khả năng kháng cự. Loại độc dược này nguy hiểm hơn ở chỗ có thể dễ dàng phát tán trong không khí, pha vào nước uống hoặc đồ ăn, khiến người trúng độc thậm chí không biết lý do tại sao gặp họa và trúng độc lúc nào... chính vì vậy, rất nhiều bậc đại cao thủ võ lâm kinh nghiệm đầy mình, cảnh giác cơ trí hơn người, nhưng khi đối mặt với Thập Hương Nhuyễn Cân Tán của Triệu Mẫn cũng đành bó tay chịu trói, giao phó tính mạng cho nàng.

 

Triệu Mẫn là người xinh đẹp, thông minh tài trí, mưu mẹo hơn người nhưng cũng không kém phần độc ác. Triệu Mẫn không chỉ bắt nhốt các môn phái, khiến cho võ lâm chao đảo, khiếp sợ và thù ghét, nàng còn suýt nữa là rạch khuôn mặt xinh đẹp của Chu Chỉ Nhược nếu không có Trương Vô Kỵ cứu.

 

Vô Kỵ bị trúng độc được Thường Ngộ Xuân dẫn đến Hồ Điệp cốc để gặp thần y Hồ Thanh Ngưu chữa hàn độc trong người, nhờ vậy Vô Kỵ đã lĩnh hội toàn bộ y thuật của Hồ Thanh Ngưu và trở thành lang trung giỏi.

 

Vô Kỵ bị cha con Chu Trường Linh lừa gạt, chàng tình cờ phát hiện ra âm mưu thâm độc này nên bỏ trốn rồi bị kẻ thù truy đuổi trên núi tuyết Côn Luân đã vô tình lạc vào một thung lũng, may mắn bò vào được sơn cốc thông qua một cái hang hẹp, mổ bụng cứu con vượn già và đã học được toàn bộ nội công Cửu Dương Chân Kinh (Cửu Dương Thần Công) nhờ đó đã thành công hóa giải hàn độc của Huyền Minh Thần Chưởng trong người và được miễn nhiễm độc dược.

 

Khi luyện thành Cửu Dương Chân Kinh có được nội công hùng hậu vào loại bậc nhất trong thiên hạ. Cửu Dương Chân Kinh giúp người luyện hoán gân chuyển cốt, khiến cơ thể bách độc bất xâm. Sau này Vô Kỵ nhờ vào nội lực Cửu Dương Chân Kinh thâm hậu cùng tâm pháp nội công Càn Khôn Đại Na Di nên Vô Kỵ đã học được nhiều tuyệt kỹ võ công thượng thừa, trở thành cao thủ có võ công và nội lực tuyệt đỉnh.

Trong Ỷ Thiên Kiếm Đồ Long Đao, Hân Thù Nhi luyện võ công Thiên Thù Tuyệt Hộ Thủ, lấy nọc độc của loài nhện độc để luyện công. Vì có nọc độc trong máu nên mặt và da thịt Hân Thù Nhi sần sùi, xanh đỏ dễ sợ. Vô Kỵ giải trừ chất độc và chỉ cho nàng cách khác để luyện võ công, Hân Thù Nhi trở lại xinh đẹp.

 

Trong tác phẩm Kim Dung chỉ đề cập đến độc dược trong tà phái sử dụng trong ám khí, đao, kiếm, rượu, phấn… và cả võ công nên thược loại bá đạo, vì vậy trong chính phái không sử dụng đến.

 

* Dĩ Độc Trị Độc

 

Trong tác phẩm của Kim Dung có 5 cao thủ vạn độc bất xâm.

 

Quách Tĩnh

Quách Tĩnh là một trong những tuyệt thế cao thủ xuất hiện chính trong 2 tác phẩm Thần Điêu Đại Hiệp và Thần Điêu Hiệp Lữ. Không chỉ võ công siêu phàm, khả năng kháng độc của Quách Tĩnh cũng ít ai sánh bằng.

Trong lần thâm nhập vào phủ vương gia nước Kim, Quách Tĩnh vô tình uống được máu của con bảo xà mà Lương Tử Ông đã nuôi 20 năm. Sau đó, không chỉ công lực được gia tăng nhiều phần, mà Quách Tĩnh cũng không bị trúng bất kỳ loại độc rắn nào khác trong thiên hạ.

Trên đảo Đào Hoa của Đông Tà Hoàng Dược Sư, Lão Ngoan Đồng bị mãng xà của Âu Dương Phong cắn, Quách Tĩnh đã giúp ông hút chất độc ra ngoài mà vẫn bình an vô sự.

 

Trương Vô Kỵ

Giáo chủ đời thứ 34 của Minh Giao trong Ỷ Thiên Đồ Long nhờ cơ duyên luyện được tuyệt thế võ công như Cưu Dương Thần Công, Càn Không Đại Na Di, Thái Cực Thần Công. Đặc biệt, kể từ sau khi luyện được trọn vẹn Cửu Dương Thần Công, khả năng kháng độc của Trương Vô Kỵ càng được gia tăng mạnh mẽ, có khả năng kháng độc.

 

Vô Kỵ khi bị trúng Huyền Minh thần chưởng của Huyền Minh nhị lão, Trương Vô Kỵ dù được Thái cực tôn sư Trương Tam Phong tìm mọi cách cứu chữa nhưng không thể nào bài trừ được chất độc trong người. Phải đến khi bị rơi xuống vực và vô tình luyện được Cửu Dương Thần Công lấy được trong bụng con bạch hầu, thì hàn độc của Huyền Minh thần chưởng mới tiêu tan.

 

Du Thản Chi

Trong quyển Thiên Long Bát Bộ, Du Thản Chi còn có tên gọi khác là Trang Tụ Hiền. Sau khi rời khỏi Tụ Hiền Trang và lưu lạc đến nước Liêu, cơ duyên kỳ ngộ đã giúp Du Thản chi luyện thành Dịch Cân Kinh. Với khả năng hộ thể từ Dịch Cân Kinh, Du Thản Chi tiếp tục hấp thụ nhiều loại dị độc khác, đặc biệt là độc từ con Thiên Sơn Băng tằm.

Với tính chí âm chí hàn từ con vật quý hiếm này, nội công của Du Thản Chi gia tăng vượt bậc, thậm chí chưởng pháp âm độc của Tinh Túc lão quái Đinh Xuân Thu cũng không thể xâm nhập cơ thể Du Thản Chi. Du Thản Chi là nhân vật đặc biệt si tình, chấp nhận mọi khổ hình độc ác của A Tử coi như “thú đau thương”!

 

Viên Thừa Chí

Trong quyển Bích Huyết Kiếm, Viên Thừa Chí nhờ Chu Thiên Bằng Thiềm hút mọi loại độc trong cơ thể. Chu Băng Thiềm sẽ tự động hút chất độc ra ngoài. Ngay cả Hà Thiết Thủ, giáo chủ Ngũ Độc Giáo khi nhìn thấy Băng Thiềm cũng không khỏi ngưỡng mộ.

 

Đoàn Dự

Trong quyển Thiên Long Bát Bộ, Đoàn Dự nhờ cơ duyên may mắn nên học được Bắc Minh Thần Công có thể hút công lực của người khác. Đoàn Dự sau khi vô tình ăn được Mãng Cổ Chu Cáp, một con cóc thần thoại được xưng là Vạn Độc Chi Vương, cơ thể Đoàn Dự cũng tự nhiên trở nên vạn độc bất xâm. Bất kỳ loại độc nào trong thiên hạ, dù có độc tính mạnh mẽ tới đâu cũng hoàn toàn vô dụng với Đoàn Dự.

Trong các tác phẩm của Kim Dung, chính phái không luyện và sử dụng độc dược, chỉ có tà phái nhưng không khống chế võ lâm, đó là hậu ý của ông.

 

Nhân Năm Thìn, Nói Về Rắn Trong Tác Phẩm Kim Dung chỉ đề cập tổng quát vài nhân vật, môn phái xuất hiện trong chốn võ lâm liên quan đến độc hại của loài rắn.

 

Little Saigon, 1/2024

Vương Trùng Dương

 

Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.