Hôm nay,  

Tình yêu

19/02/202510:05:00(Xem: 6763)

two faces
Ảnh minh họa Art.org

 

 

 

Lòng ta chôn một khối tình

Tình trong giây lát mà thành thiên thu

Khái Hưng

 

Mon âme a son secret, ma vie a son mystère

Un amour éternel en un moment conçu

Sonnet d’Avers

 

 

Nhân dịp ngày lễ tình yêu, nhắc đến tình yêu, hẳn ta nhớ ngay đến bài thơ tình già, tả cuộc tình chắc nich của cụ Phan Khôi :

 

Hai mươi bốn năm xưa

Một đêm vừa gió lại vừa mưa

Dưới ngọn đèn mờ

Trong căn nhà nhỏ

Hai mái đầu xanh kề nhau than thở

 

Ôi đôi ta thương nhau hẳn đà tình nặng

Mà lấy nhau hẳn đà không đặng

Đến nỗi lòng tính trước phụ sau

Chi bằng sớm liệu mà buông nhau

Hay, nói mới bạc làm sao chớ

Buông nhau làm sao cho nỡ

 

Thương được chừng nào hay chừng nấy

Chẳng qua ông trời bắt đôi ta phải vậy

Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng

Mà tính chuyện thủy chung.

 

Hai mươi bốn năm sau

Tình cờ đất khách gặp nhau

Hai mái đầu đều bạc, nếu chẳng quen lung

Đố có nhìn ra được?

Ôn chuyện cũ mà thôi, liếc đưa nhau đi rồi

Đôi mắt còn có đuối…

Thơ mới Phan Khôi


Thưa bạn, chuyện tình yêu là vậy, là xa xưa như trái đất, và vẫn luôn luôn là mới, vì con người sống cần tình yêu, con người mà không có tình yêu thì quá mộc mạc đến u tối, như một bầu trời không trăng sao. Tình yêu có nhiều thay đổi, tùy theo tuổi, theo hoàn cảnh và tùy theo mỗi người.

 

Khi ta còn trẻ, tình yêu tuổi đôi mươi nồng cháy hăng say, “yêu là yêu không bờ bến rồi…”

 

Qua tuổi trung niên, tình yêu ấm áp, phong kín và đậm đà đầy kỷ niệm khó phai nhòa.

 

Tình yêu với thời gian, đi vào tuổi lão niên, nếu còn sống đó là những sợi tơ hồng thừng, chão bền chặt, khó rời.

 

Có những cụ ông cụ bà 70, 80 tuổi còn sống bên nhau, nương dựa lẫn nhau, không phải là họ chỉ cậy nhờ nhau miếng cơm ly nước, mà họ nương tựa vào sự có mặt bình yên của nhau rất nhiều, bà khỏe thì ông khỏe, ông vui thì bà vui theo, một cánh hoa tàn thì cánh hoa kề bên sẽ rung rung.

 

Tôi xin kể hầu bạn nghe câu chuyện tình yêu khá đặc biệt của cha mẹ nuôi tôi, là ông Quách Vĩnh Sanh và bà Võ Thị Chanh.

 

Lý do tôi khăng khít liên hệ với họ cũng rất tình cờ, hồi đấy ông chồng tôi đi xa, bận công việc, tôi ở lại nhà một mình hai ba tháng, đặng coi chừng nhà, vì có lúc xã hội quá bất ổn.

 

Ở nhà một mình, tôi tự do coi T.V tối ngày, ra vô internet coi tin tức và đi du lịch quảng cáo hà rầm, riết cũng chán, mỏi mắt, hôm ấy đẹp trời, tôi quyết định ra ngoài.

 

Tôi ra siêu thị Auchan gần nhà, ô vui quá, siêu thị giáp dịp lễ Noël cuối năm rộn rịp người mua sắm, đầy hàng hóa đủ màu long lánh tươi vui, nhộn, rộn ràng. Đi rảo rảo mỏi cẳng, tôi ra băng ghế ngồi nghỉ, uống nước và đọc sách. Chỗ đấy có một quầy sách tự do, ai muốn coi cứ lấy coi, coi xong tự nhiên để lại chỗ cũ. Rồi đang coi sách dậy nấu ăn, tự nhiên có một chị đồng hương ghé ngồi xuống kế bên và ngỏ lời:

 

Chị ơi, chào chị, chị là Việt Nam hả? Chào chị và cho mình làm quen nhe, chị cũng ở gần đây?

 

Chào bồ, oui, tôi, Việt Nam, tôi ở gần đây thôi, tôi tên Mai, rất vui được quen bạn.

Em ở ngay dẫy nhà sau siêu thị, residence de nénuphar, em tên Liên, 55 tuổi, em còn làm việc cho banque Société Générale. Em có chồng và hai con đã lớn. Em còn có một mẹ già 95 tuổi, đang ở với em cùng nhà.

 

Mình hơn bạn 10 tuổi, vừa nghỉ hưu, nên rảnh rang và như lúc này thư thả ra đây đi dạo chợ Noël. Ngồi cạnh nhau thủ thỉ tâm tình được khoảng nửa giờ, thì cô Liên mới làm dạm hỏi:

 

Chị ơi, chị có biết ai là người Việt mình, mà muốn đi nuôi một bà già Việt Nam không? Mách dùm em, đó là nuôi, canh giữ má em đó. Bả còn tỉnh táo lắm, chỉ cần người giúp đỡ khi bà ăn uống, thay áo quần, giúp làm vệ sinh và canh chừng bả trong nhà thôi.

 

Tôi nghe Liên kể một lô công việc, liền nheo nheo mắt:

 

Nè, mướn mình đi, mình đang muốn làm việc nè!

 

Ok, vậy được quá, cám ơn chị, em đưa chị về nhà gặp má em nhe, má em tên Chanh, gọi là má Chanh!

 

Tôi rảo bước đi theo Liên về gặp má Chanh… chẳng biết cụ như thế nào, chanh hay quất đây, nhưng tôi tự nhủ sẽ cố gắng chiều và săn sóc cụ… vì tôi mồ côi, thiếu mẹ từ thời thơ ấu. Tôi thích có mẹ lắm.

 

Nhờ thế tôi được gặp má của Liên, đó là một cụ già  gần 100 tuổi, 95, nói cho đúng. Cụ già rồi mà còn sạch sẽ chu đáo gọn gàng. Cụ đẹp người, mặt sáng như gương và rất tình cảm, cụ gọi tôi là con gái ơi, và tôi cũng kêu bà là má cho tiện việc thưa gởi.

 

Mỗi ngày tôi đến 8 giờ sáng, coi chừng má Chanh cho Liên yên tâm đi làm, chiều lối 7 giờ, Liên về nhà và tôi về nhà tôi. Liên trả tôi một phong bì tượng trưng 20 euros mỗi chiều và một phần ăn tối.

 

Liên có một ông chồng Tây rất dễ mến, cởi mở và lịch sự. Louis vui vẻ với má và cả với tôi nữa.

 

Vậy mà một tuần lễ sau, má nói má sắp về nhà má, thì con gái có đi theo coi chừng má nữa không? Ok để xem, thì ra má thu dọn về nhà má, cũng gần đó thôi, ở phía bên kia siêu thị, nhà của nhà nước cho mướn, nên không đẹp sang trọng như cái villa của vợ chồng Liên ở.

 

Tôi đưa má về nhà má, mẹ con đi bộ, cũng không có gì nhiêu khê ngoài hai giỏ sách gọn ghẽ. Lúc chia tay Liên tâm sự với một chút bực bội:

 

Chị Mai à, thôi về bển, chị vẫn đến săn sóc má như ở đây nhe, em vẫn trả tiền sòng phẳng như vậy, ở bển cũng như ở đây vậy.

 

Tôi lơ mơ không hiểu lắm thì Liên kể lể tiếp:

 

Má không muốn ở với tụi em lâu, chỉ chừng vài ba bữa là má đòi về bển, ở bển, má sống với cậu tư, cậu là chồng đầu tiên, chồng sau đó và chồng bây giờ của má! Liên nói lung tung không rõ lắm. Nhưng sau khi đưa má về bên nhà housing, gặp cậu tư, thì tôi hiểu rõ hơn hoàn cảnh của má.

 

À, là có vậy, cậu tư là chồng má Chanh, là ông Quách Vĩnh Sanh thân quý, mà những ngày tiếp theo đó, tôi coi ổng như cha nuôi của tôi vậy và kêu ổng bằng ba Sanh.

 

Ba Sanh tánh tình rất hào hiệp, cởi mở thân ái với tất cả mọi người xung quanh, từ đứa con nít chạy giỡn đâm sầm vào ông tới cả người facteur. Ông tướng người cao ráo phương phi, mặt mũi sáng láng, rất xứng đôi với má Chanh.

 

Khi rảnh rang, ông ra ngoài vòng rào siêu thị, lượm ba món đồ còn tốt như quạt, nồi cơm điện, tv, mà người ta xài chán quăng bỏ, ông mang chúng về lau chùi, tu bổ lại, khi thử điện xong, thấy vận hành tốt, ông ghi vô là: en bonne qualité, xong bao bọc mang bỏ để ngoài hành lang siêu thị, coi ai có cần hay nghèo túng thì cứ tự nhiên khuân về mà xài, c’est gratuit!

 

Ngoài cửa sổ hành lang nhà, ông trồng đủ loại bông hoa rất vui, đẹp rực rỡ. Quý nhứt là những chậu bông giấy đủ màu đỏ, tím, trắng, vàng. Có những chậu hoa lan đã tàn mà ông khéo tu bổ tưới tắm, chúng lại trổ bông nhiều lắm, rất dịu dàng.

 

Tôi chỉ có thể đứng trước dậu mà ngắm ngó, nhưng chẳng dám mở lời khen, vì lỡ khen thì ông cụ hối:

 

Lấy đi, lấy vài giò mang về nhà cô đi, trồng cho vui! Chúng tôi tự nhiên đi tới chỗ thân tình rất mau vì ba Sanh đã kể là, khi xưa ông ở trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, ông cứ nói vắn tắt, dân V.B ấy mà! Tôi thắc mắc vặn hỏi V.B là cái gì? Ông cười xòa, võ bị ấy mà, võ bị Đà Lạt. À ra thế. Ông ở trong quân đội, tôi nhỏ hơn nhiều tuổi và cũng ở trong hàng ngủ giáo chức thể chế VNCH.

 

Ngày ấy, trước 1975, tôi dậy học ở Nhơn Trạch, Biên Hòa. Nghe nói vậy, ông mừng rỡ vì ông có một người bạn chí thiết là đại úy Long, làm quận trưởng quận Nhơn Trạch đồng thời.

 

Ông cứ kể đi kể lại tới hai ba lần là cái ngày đình chiến theo hiệp định paris 27-01-1973, ông về quận Nhơn Trạch thăm yếu khu thành Tuy Hạ, thăm quận trưởng Long rồi nhơn dịp đó, có quân nằm vùng mặt trận mang cờ hai màu ra căng ở bìa rừng cao su để giành dân chiếm đất ông tức tối rủ đại úy Long chở đại bác ra phía ngoài bìa rừng, lên đạn nhắm thẳng cờ mặt trận bắn, đoàng đoàng đoàng cho lá cờ cộng sản của chúng chạy biến mất vô rừng cây cao su rậm rạp…

 

Ông cũng từng tâm sự về mối tình tha thiết của ông và bà má… “Ba biết má lúc má còn con gái, ở Trung Lương Mỹ tho, má còn trẻ, đẹp lắm với tuổi ngoài đôi mươi,  má đẹp dịu dàng trong sáng rất khả ái. Khi đó, ba có 16, 17 tuổi ba đã nhìn thấy và thầm yêu cô Chanh. Ít năm sau, má đi lấy chồng, má lấy ba Hiếu, là ba ruột của cô Liên đó và Liên có một em trai tên là Thảo. Nghe nói em trai Thảo đã mất khi còn nhỏ. Sau khi họ đã có hai con, chẳng may ba Hiếu bạo bệnh mà mất đi lúc tuổi còn rất trẻ. Người ta đồn má Chanh có số sát phu; sát gì sát, ba vẫn thường yêu trộm nhớ cô Chanh.

 

Sau khi chồng chết, má Chanh buồn bỏ lên Saïgon, buôn buôn bán bán, rất khấm khá, vào thời buổi người Mỹ đổ vào Việt Nam khá đông. Còn ba thì gia đình hối thúc lên Saïgon học thi tú tài, sau đó, may, thi vô được quân trường VB Đà Lạt.

 

Vô được trường VB, ba vùi đầu học quân sự và dùi mài kinh sử để quên đi tình yêu day dứt buổi đầu.

 

Sau bốn năm học, về đơn vị tác chiến, ba đi hành quân nhiều nơi thấm mệt thấm vui mà ba vẫn không quên người cũ.

 

Trong một lần về Saïgon bát phố, lang thang qua các đường Lê Thánh Tôn, Lê Lợi, Nguyễn Trung Trực, rồi đường Tự Do, tình cờ dòm qua những cửa kính những mặt hàng sang trọng, ô, ngớ ngẩn, mà ba loáng thoáng thấy ai như cô Chanh ẩn hiện lấp ló giữa một lố cửa kính, ba định thần nhìn kỹ và mạnh dạn bước vô một cửa hàng, vô rồi, ba thấy má Chanh con thiệt, bằng xương bằng thịt, bà như rớt từ trên trời xuống trước mặt ba, bà đó, bả đứng bán trong một cửa hàng mỹ phẩm Coty sang trọng ở thương xá Passage Eden. Ba vô chào và hai người nhận ra nhau… cùng quê Mỹ Tho đã 9 năm trước. Từ đó, thấu rõ hoàn cảnh đơn thân của cô Chanh, nên về được thành phố, là ba lui tới đó hoài hoài. Y là má Chanh cũng ưng ý ba… nên vui lắm mỗi lần gặp nhau. Hồi đấy, như là ba cũng khá bảnh bao.

 

Nhưng, cái gì cũng nhưng, là gia đình bên ba phản đối dữ dội không cho ba cưới cô Chanh, viện lẽ trai tơ không lấy gái nạ dòng!

 

Nhưng ba rất yêu và nhứt định cưới cô Chanh làm vợ chánh thất, ba giận má ba và không kể họ hàng, ba tự lo làm đám cưới trong quân đội và ba có mời cho được cô Mai Lệ Huyền và ca sĩ Hùng Cường tới hát giúp vui… đám cưới nhà binh, vui, hùng hậu, rôm rả lắm… cô dâu thì đẹp não nùng… và may thay hôm đấy đấy, cái tụi VC nó không pháo kích ùng oàng…

 

Sau đó, ba có nơi dừng chân ở Saïgon mỗi lần về phép, ba má sống êm đềm bên nhau, rồi mỗi lần được ra ngoại quốc như qua Mỹ hay qua Mã Lai học về tác chiến cận chiến, đi và về thì ba mang theo hai valises chất đầy mỹ phẩm, hàng deluxe cho má con bán… xen kẽ là những đồ lót đắt tiền. Nói thiệt ra lương nhà binh, ba đâu có nhiều nhặn gì tiền mà giúp má nuôi Liên và em Hùng mà má mới sinh ra sau này.

 

Nhưng, lại nhưng nữa, là khi má buôn may bán đắt, bạo tay kiếm tiền lớn, thì mất Miền Nam, ngày 30-04-1975, ngày đại nạn dân Miền Nam ta.

 

Ba không về kịp nhà một lần, ba bị bắt ngay trong đơn vị tác chiến, ba là tù binh bị đẩy ra Bắc ngay. Mịt mù tin tức, mãi ba năm sau, mới hay tin má Chanh đã xoay sở nhờ cậy một người bạn hàng ở pháp làm mai mối cho má một ông Tây già, để làm hôn thú đặng má xuất cảnh mà mang theo các con ra ngoại quốc. Ở nước ngoài má phải sống với người chồng Tây 5 năm trời, hầu hạ săn sóc ổng và khi ổng ra đi vĩnh viễn. Má Chanh lại lần mò quay về Việt Nam.

 

Về lại quê hương tù tội, má lặn lội đường xá xa xôi thăm ba, sau lo liệu làm lại hết giấy tờ hồ sơ bảo lãnh kịp mười năm sau, khi ba được thả về, má lo cho ba cùng sang đây.

 

Con coi, tình thì nặng, nghĩa thì đầy, mà sao Liên hay kiếm chuyện cằn nhằn má nó và ba hoài!”

 

Ba để đó con, con lo vụ này, con sẽ giải thích cho Liên nó hiểu là: con nuôi cha không bằng bà nuôi ông và ngược lại ông nuôi bà cũng vậy, đó là phong tục Việt Nam, lại nữa, má ở bên đó, trong ngày, hai đứa nó đi làm suốt, nhà vắng hoe, buồn hiu…

 

Mà này, ba cũng 86 tuổi rồi, lúc này coi má Chanh run run yếu, lo cho má ba có mệt không?

 

Thì có ngày ba cũng mệt cầm canh, nhưng ba hạnh phúc sống bên má. Quê hương đã mất rồi, mất tất cả rồi… ba còn một chút hạnh phúc nhỏ nhoi tuổi già bên bả. Tội nghiệp, ông nói thế đó rồi xúc động, đưa Kleenex lên chậm chậm mắt lèm nhèm.

 

Mà ổng thương yêu bà hết lòng, bà thích ăn bánh cuốn hay bánh tôm, ông lật đật làm hay có tiệm bán đâu đó, tìm mua về cho bả ăn. Trước là vụng, sau lần khéo và ngon, hai người vừa ăn vừa ngỏn ngoẻn ngó nhau cười y hai đứa con nít nhỏ.

 

Khi thấy trên mặt bà có lẩn mẩn vết thâm thâm, ông vội tìm crème mỹ phẩm về thoa thoa nhẹ nhàng, xóa xóa những vết nám trên da bà. Ông nói bà không phải là bà già mà bà là bà trẻ của ông. Thiệt ra bà nằm hơi nhiều trong ngày! Có lần Liên bất chợt nhìn thấy ông đang lau mặt thoa kem cho bà, nó đưa tay lên trời, cằn nhằn: “đúng là hai con khỉ già!”

 

Tuy bà trẻ của ông thiệt mà bà đã phải mang couches và ông luôn chằm hăm rình xem thứ ba nào siêu thị bán hạ giá couches, ông vội đi mua ngay về cho bà 2,3 lố bự… đặng thay luôn cho dễ chịu.

 

Đêm đêm bà ngủ mơ ngủ mớ, kêu và gọi, làm ông lại hô mệt cầm canh! Ban ngày, khi ở đó, tôi hối ông đi ngủ một buổi chiều đặng lấy lại sức khỏe… có lần đó, ông kể ban đêm rồi, bà mơ và gọi lớn: Hiếu ơi,  Thảo ơi… bảo rằng nằm mơ thấy người trong gia đình đã mất từ lâu là điềm gở… nhưng rồi ông đứng lên tập vài động tác thể dục nhẹ và rót nước uống ngay.

 

Một lần đó, bà nói bà bị đau ran ran bên mạn sườn. Tôi trấn an là không sao, chắc là bị gaz dồn ép, nên đi khám bác sĩ. Nhưng mà ông không tin, ông phản bác:

 

Không phải tại gaz đâu, với má, có thể là chuyện khác, độ xưa là xưa, má con buôn bán đồ lót đắt tiền, có lúc bà cần biểu diễn, và bà đã lỡ đi sửa ngực, nay tuy đã lâu rồi, cũng phải đi kiểm tra lại. Ba nghĩ như ngày đó, cỡ minh tinh màn bạc cũng ít có hàng hiệu mà uốn éo như bả đâu . Bả uốn éo thử qua thử lại trước gương coi có duyên lắm! Y con nít làm điệu.

 

Bẵng đi một tuần bận công chuyện riêng, một ngày bất ngờ tôi trở lại khuôn viên Auchan, vừa đi ngang vòng quay xe ngựa voi giải trí của trẻ em, tôi thấy ông ba ra ngồi tò ho một bên cổng siêu thị, bên cạnh có 3,4 lô couches bự che khuất nửa người.

 

Tôi dáng chừng tò mò hỏi: bữa nay siêu thị bán đại hạ giá couches sớm quá hả ba?

 

Ông không trả lời, chỉ nhìn lên bóng đèn và ứa nước mắt: rồi thều thào:

 

Đây không phải đồ mua, đồ nhà, ba mang ra đây đặng mang đi cho, đi biếu, c’est gratuit… ai cần cứ lấy!

…..

 

Ờ… mang đi biếu, không xài nữa, bị má mất rồi…

…..

 

Má Chanh mất rồi, đưa vô bệnh viện bị má khó thở, rồi bà đi rất mau, đi ngay trong phòng khám.

 

Ông nói một hơi rồi lặng lẽ khóc… khóc ấm ức, nghẹn!

Cứ nhìn ông già khóc vợ nghẹn lời, mà nhớ lại nhiều lần ông còn như muốn kể lể:

Cuộc tình của ba với má Chanh gián đoạn rồi kết nối nhiều lần mà không đáng buồn vì là cuối đời ba vẫn yêu quý má, má vẫn yêu thương ba như ngày đầu mới gặp…

 

Thiệt là tái hồi Kim Trọng ba hả? Ba may mắn lắm đó. Ông già nhà binh hết thời, vẫn nhẹ tênh, trả lời hỉ hả ra chiều tâm đắc:

 

Ôi trời! Cám ơn! Trong mọi hoàn cảnh, mà vẫn nghĩ tốt về nhau, lo lắng, cư xử với nhau thâm tình thâm nghĩa là tình yêu tuyệt vời… còn như cái miệng thế gian toàn mơ hồ vẩn vơ:

 

“Buông luông thì cũng chẳng mòn

Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ”

Ngày lễ Tình Yêu / 2025

nhớ về gia đình ba má Sanh

Chúc Thanh

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.