Hôm nay,  

Trăng Mùa Gặt Hái

27/08/202515:35:00(Xem: 2409)
nguyetcam01
Nguyệt Cầm - Đinh Trường Chinh

 

Năm ấy cô mười tám tuổi, tốt nghiệp trung học, vừa thi xong kỳ thi tuyển vào trường cao đẳng. Cô mới đến Canada năm năm, từ trại tị nạn. Cô đến trường ban ngày, đêm làm việc ở McDonald’s, đôi khi tiệm ăn khác. Cuối tuần đi lau dọn nhà cho cô giáo chủ nhiệm kiếm thêm tiền. Cô buồn ngủ suốt ngày. Những khi không đến trường, không làm việc, cô ngủ bù trong cái phòng nhỏ của mình, dưới hầm, chật chội, ẩm, tối. Cửa sổ phòng cô nằm ngang mặt đất, nhìn ra thấy bụi cỏ xanh tốt, đôi khi một con dế dương râu nhìn cô chằm chặp. Nhưng cô nằm mơ những giấc mơ đẹp, ngoài cửa sổ hoa lê trắng, hoa lựu đỏ, hoa anh đào hồng mọc lấm tấm. Cô thức dậy khi nghe tiếng chuột chạy. Nhà vắng, cô lục thức ăn nguội trong bếp, ngồi ăn một mình, xong thu dọn hành lý vào cái ba lô, kiểu người ta đi hiking. Cô gặp ba cô ở cửa, ông vừa đi làm về. Đi đâu, con gái Suzanne? Con đi chơi với chúng bạn. Cô nói dối. Cô rất sợ ba cô, một người đàn ông hiền hậu nhưng nóng tính, sáu năm trong trại cải tạo biến ông thành một người khác, ít nói, rầu rĩ, cáu gắt, hung bạo. Ông cấm cô có bạn trai quá sớm, cấm đi chơi về khuya. Cô không bao giờ dám tâm sự với ông. Cô sẽ đi về Sakatoon bằng chuyến xe buýt đường dài, sẽ ở lại ba hay bốn đêm ở đó, trong nhà một đứa bạn gái. Để làm gì? Cô không biết. Cô có một giấc mộng: một kế hoạch làm giàu. Cô muốn các em cô được ở nhà sang trọng, mẹ cô không phải đi làm trong hãng may với hai bàn tay đau nhức, lẩy bẩy, tối nào cũng bắt cô xoa bóp. Trong khi ở đây mùa hè, chim chóc hót líu lo, thì ở phía bắc Saskatchewan, trời trở lạnh. Chuyến xe buýt chạy đơn độc trên đường, về chiều tuyết bỗng xuống mịt mù, cô nhìn thấy trên ngọn đồi, dưới thung lũng, những con chó sói đầu tiên trong đời. Những con báo hoa. Mèo rừng. Những con coyotes. Những cánh đồng lúa mì đã gặt, đồng cỏ “hay” trồng cho ngựa ăn, loại cỏ cuộn thành bó tròn lăn trên mặt đất lấm tấm hạt tuyết trắng như hoa cúc. Liệu cô có thi hỏng kỳ thi vừa qua không.

Cô không biết. Cô học kém môn toán, sinh vật, khoa học, tiếng Pháp, tóm lại môn nào cô cũng lơ mơ vì vào học ngang giữa chừng, không hề chuẩn bị, sau mấy năm bỏ học trong trại tị nạn, từ năm chín tuổi. Trong khi tụi bạn có đủ thức ăn, quần áo, nghỉ ngơi, giải trí, sự hướng dẫn, anh trai, xe đưa đón, thì cô không có gì cả. Cô đi xe buýt mỗi ngày mất hai giờ từ nhà đến trường, trường về nhà. Không có đủ sách vở. Không có giờ để ngủ. Người ốm yếu. Nhưng giọng nói của cô trong veo như nước suối trong bình pha lê đặt ngay ngắn giữa bàn trong nhà cô giáo chủ nhiệm. Đi học trong mùa đông lạnh giá cô chỉ có một cái áo khoác mỏng màu xám, ngồi trong lớp cũng mặc y vậy. Cô giáo bảo: Suzanne, em làm sao thế, cởi áo ngoài ra chứ. Nhưng cô không cởi được, vì quá lạnh. Cha mẹ cô là người tị nạn, nhưng không nhận tiền trợ cấp chính phủ, cặm cụi đi làm ngay từ khi đến xứ sở mới, để dành ki cóp gởi về Việt Nam, các em còn nhỏ, đứa nhỏ nhất bảy tuổi, đứa lớn mười ba, ba đứa con trai, không giúp được việc gì, cô phải làm thêm để phụ mẹ. Cô không nghĩ rằng cô sẽ thành công bằng đường học vấn, nhưng cô tin cô sẽ thành công một cách nào đó, ngày mai, hay tháng sau, hay năm sau. Cô sẽ kết thúc lớp mười hai, nhận bằng tốt nghiệp. Cô đã để dành đủ tiền may bộ quần áo mặc trong lễ ra trường. Tháng trước ba cô dẫn đi chụp một tấm hình thật đẹp, mang áo choàng, mũ, khăn, một thiếu nữ xinh xắn như thể vừa tốt nghiệp từ một trường danh tiếng, Harvard hay Yale chẳng hạn. Khi đi học cô chỉ vừa đủ điểm để thi đỗ các môn. Cô mơ ước làm y tá nhưng biết không đủ sức, cô sẽ cố gắng vào học một trường cao đẳng cộng đồng, rồi sẽ bỏ học giữa chừng vì đuối sức trước khi bị đuổi học, sẽ ghi danh học một lớp đánh máy, sẽ xin làm một chân thư ký ở các văn phòng địa ốc hay luật sư, và để đủ tiền sinh hoạt, cô sẽ đi làm thêm buổi tối ở tiệm McDonald’s nhiều năm nữa, nơi cô được chủ tin tưởng, sẽ làm thêm giờ với lương tối thiểu nhưng cô sẽ bỏ việc ở một tiệm ăn khác, vì chỗ đó quá xa, và người quản lý, một anh chàng Á châu đứng tuổi, giọng nói ngọt ngào, thích đề nghị chở cô về nhà buổi tối, thỉnh thoảng cho cô những món quà nhỏ, làm cô thấy ngại. Trước khi nghỉ ở , cô cần phải xem thử người ta có chịu tăng giờ ở McDonald’s không đã. Tiền thuê nhà đang lên tháng này, nhà sáu miệng ăn trong đó ba đứa trẻ, ba người lớn, ở một tầng hầm basement ẩm thấp, mẹ cô kêu đau nhức ở đầu gối, bây giờ đã lan ra cả khuỷu tay, bàn tay. Buổi tối bà kêu cô xức dầu nóng ở những khớp xương đau nhức. Cô cầm bàn tay của mẹ lên, bà mới năm mươi tuổi mà những khớp xương thứ nhất ở hai bàn tay của bà sưng lên và cong lại như móng vuốt của loài chim sắp tuyệt chủng. Cô thương mẹ, muốn làm nhiều giờ hơn.

Nhưng cuộc đời của cô còn ở phía trước. Tình yêu đối với cuộc sống và sự mơ mộng không hề phân biệt người giàu và kẻ nghèo, người tị nạn và dân bản xứ, học sinh giỏi và bọn học dốt như cô. Cô sẽ để dành tiền và thuê một căn phòng cao ráo sáng sủa, vì ở tầng hầm mẹ cô ngày càng đau khớp. Cô sẽ mua bảo hiểm nhân thọ, loại rẻ nhất, và nếu dư dả hơn cô sẽ giúp mẹ mua bảo hiểm giáo dục cho các em. Rồi cô sẽ chơi stocks, đó là những năm mà chứng khoán đang lên trên thị trường, ai cũng phát điên phát rồ vì tiền và lời hứa hẹn của nó. Rồi cô sẽ thắng vài vụ, thắng nữa, giàu lên nữa trong một đêm, và trong khi chưa kịp ăn mừng, cô sẽ mất sạch sau một đêm, như tất cả những người khác. Nhưng cô không tự tử.

Bây giờ thì cô đang ngồi trên xe buýt, hàng ghế sau cùng, ấm áp, dễ chịu, nghĩ đến tương lai trong khi ngoài trời tuyết rơi như múa, bầy quạ đậu đen cả một nhành cây, những con chó sói hú gào trên ngọn đồi giữa những cánh đồng phía bắc của tỉnh Sakatchewan còn thơm mùi lúa mì mới gặt xong. Cô ngủ gật. Giấc mơ nào cũng dẫn người ta đi rất xa.

Cô thức dậy, bàng hoàng mở mắt thấy mọi người trên xe đang xếp hàng ra cửa gần hết. Xe đang dừng trên bến xe. Cô hoảng hốt lao xuống, cúi người kéo cái ba lô nặng trĩu của mình từ gầm xe. Xe vẫn nổ máy rì rầm làm cô nóng cả ruột. Cô nhìn quanh, thở phào nhẹ nhõm. Khi xe đã chạy, khi những người hành khách đã tản đi mọi nơi, cô tò mò đứng nhìn những tấm bảng chỉ đường, ngơ ngác. Cô tiến lại một người đang đứng chờ xe buýt ở phía bên kia đường. Người đàn bà da trắng mập mạp, vẻ mặt cáu kỉnh, chắc có điều gì buồn bực kiểu như vừa cãi nhau với bạn trai, bạn có thể đoán được. Bà ta khẳng định với cô rằng cô đã lo sợ đúng, tức là cái chỗ cô định xuống kia không phải ở đây. Quá sớm, bà ta bảo thế. Cô xuống xe quá sớm, chưa vào đến trạm xe buýt trong thành phố mà cô cần đến. Từ đây đến đó bao xa? Ba giờ lái xe. Cô kinh hãi.

Ba giờ. Cô nhìn trời bầu trời xám, tuyết mỏng đã ngừng rơi nhưng mây bay qua lớp lớp, mây màu bạc, mây màu chì, cuồn cuộn như sóng, như nỗi lo âu của kẻ xa nhà. Cô ra đường, đứng sát lề để cho người lái xe dễ thấy, ngoắc tay lia lịa, cô vẫn thấy những cô gái chàng trai làm thế trên đường cao tốc. Cái bà lúc nãy, hóa ra là người tử tế, đi ngang qua, ghé tới gần cô, bảo cô muốn đón xe quá giang phải không, vậy thì phải đi ra chỗ kia kìa, cạnh đường cao tốc, trong này là đường hẻm ai mà đón, hở cái con bé nhóc tì. Cô nhớ ra, cám ơn rối rít. Xốc cái ba lô trên vai chạy về phía đường lớn có những đoàn xe đang chạy. Cô vẫy mỏi cả tay không xe nào dừng lại. Con người ngày càng bớt tử tế, cô ngẫm nghĩ, nhớ lại rằng mới cách đây dăm năm khi mới đến, cô thấy người ta đón xe dễ dàng trên đường, thế mà nay cô đứng cả tiếng đồng hồ không người nào ngó tới. Chỗ cô đứng ngay ở vòng cua gấp, xe chạy nhanh, ít người chịu khó dừng lại. Cô sẽ thất bại một lần nữa, như đã từng thất bại trong môn toán, môn hóa học, môn sinh vật, tiếng Pháp, và tiếng Anh.

Thế rồi anh đến. Trong chiếc xe Honda Prestige cũ, màu đỏ hai cửa, kiểu thể thao, hai ngọn đèn trước có cái chụp như cái mũ, khi bạn bật đèn thì nó mở ra khi bạn tắt đèn thì nó sập lại, tuy vậy đôi khi nó làm ngược lại, bạn bật đèn mà đường tối thui. Anh thắng gấp, vì nhìn thấy cô muộn, bánh xe trước siết lên mặt lộ, kêu két. Xe anh đỗ sát lề đường, các xe tải lớn chạy qua vun vút thổi rát cả mặt. Anh mở cửa. Khi cô lí nhí cám ơn thì anh không trả lời, chỉ khẽ gật đầu. Cô thấy anh có vẻ đáng ghét, khinh người, lạnh lẽo. Thực ra anh đang mải nhìn đường, lúc ấy đã tối, xe tải chạy gấp quá, rầm rập, nguy hiểm, phải một lúc sau anh mới ra được, hòa vào dòng xe cộ. Cô ngồi im thin thít, cái túi xách như ba lô kẹp giữa hai đùi, lòng lo lắng đủ thứ. Cô không nhìn mặt anh, chỉ đoán đó là một chàng trai lớn hơn cô rất nhiều tuổi, mười hoặc mười lăm tuổi, tức là ngoài ba mươi, mặt rắn rỏi, cái nhìn buồn buồn. Người cao nhỏng, mặc chiếc áo khoác ngắn, loại không thấm nước. Anh mở nhạc. Lần đầu tiên sau nhiều năm cô nghe lại một băng nhạc cũ. Tiếng người ca sĩ ngân nga trong khoảng không gian mờ tối, hẹp, ấm, của chiếc xe nhỏ. Anh có lẽ là người thích nghe nhạc, nhịp tay nhè nhẹ lên vô lăng. Anh huýt sáo theo bản nhạc.

Cô vẫn nhìn thẳng phía trước, không nhìn ngang nhìn ngửa. Anh liếc nhìn cái túi xách giữa hai đùi cô, thấy cộm lên, nghĩ rằng trong ấy có một khẩu súng ngắn, đã lên đạn, lát nữa sẽ kề vào thái dương của anh. Anh nín thở. Anh nhớ lại số tiền mặt trong túi. Một lúc sau anh đổi ý, gợi chuyện. Họ chuyện trò về mọi thứ. Anh học đại học bỏ ngang giữa chừng vì chuyện cá nhân. Chắc lại chuyện thất tình, cô nghĩ, không nói ra, tự cười trong lòng. Anh bỏ học từ Edmonton về đây làm việc trong một nhà máy, đã mấy năm. Có thể anh sẽ đi học trở lại. Trước khi cô xuống xe, anh tự xưng tên mình và kịp hỏi tên cô. Cô mỉm cười không nhắc lại cái tên ấy của anh, nhưng cô ghi nhớ. Anh muốn học làm kỹ sư nông nghiệp. Saskatoon là một trung tâm nông nghiệp. Cô vừa thi xong kỳ tốt nghiệp trung học. Anh đưa cho cô một thỏi kẹo sô cô la, có lẽ còn sót lại duy nhất trong cái túi vải sau khi anh lục lọi hồi lâu. Thời ấy xe hơi còn xài băng cát xét. Anh vừa lái xe vừa nhờ cô tìm cho anh một bài hát mà anh muốn nghe. Cô tìm được bài hát ấy, họ cùng nghe. Cô kể, vừa đi học đi làm, có ba đứa em trai nhỏ nghịch ngợm. Cái phòng ngủ của cô có con dế ngoài cửa. Đó là tất cả những gì họ trao đổi với nhau.

Đột nhiên cô cảm thấy cô yêu anh.

Không, không phải cô cảm thấy thế. Không phải cô nghĩ thế. Mà cô quyết định thế.

Khi người ta còn trẻ, ai cần lý do? Cô chưa từng hỏi anh có vợ chưa. Cô chưa từng hỏi anh bao nhiêu tuổi, tương lai của anh ra sao, anh đã từng theo học trung học ở đây như cô chưa, anh có chơi stocks không. Cô chưa từng hỏi anh có thi hỏng như cô không. Cô chưa từng hỏi anh sẽ thành công hay sẽ thất bại. Ngoài trời tuyết đã tạnh, trên mặt đường vẫn còn những vũng nước đang tan. Anh dừng lại bên đường đổ xăng. Cô đứng từ xa nhìn anh. Cô nhìn bàn tay thanh mảnh của anh cầm cái vòi đổ xăng. Nhìn cái dáng anh từ phía sau lưng. Cái dáng nhanh nhẹn nhưng buồn rầu, tội nghiệp, cô độc. Cô biết anh là người thông minh, nhưng bướng bỉnh, không phải loại người hay gặp được may mắn. Anh vào bên trong tính tiền, khi bước ra, tới gần xe, sắp mở cửa, anh đứng sững lại, nhìn lên trời. Thấy cô ngạc nhiên, anh chỉ tay cho cô nhìn theo. Trăng lên. Sau những đợt mưa tuyết ngắn rơi bất chợt, rồi dừng ngay, bầu trời trong và ấm trở lại. Mùa gặt hái sắp bắt đầu. Mùa dâu, strawberries, mùa lê, táo, nho. Trăng tròn, sáng rực, màu vàng đậm ngả sang đỏ, như màu mận chín, màu kinh nguyệt, màu giấc mơ, nằm ngay trên đỉnh núi. Anh bảo cô, ở đây vùng đồng cỏ người ta gọi trăng rằm mùa này là harvest moon, từ tháng tám đến tháng mười, nghĩa là trăng mùa gặt hái.

Bây giờ cô đứng đó. Không phải trạm đổ xăng. Trên một bãi đậu xe rộng rãi, tấp nập, vây quanh là shopping malls, trong ánh điện sáng. Cô đứng sững lại vì nhìn thấy anh. Cô nhìn thấy cái má của anh hóp vào, nơi ngày trước hình như là lúm đồng tiền, mái tóc điểm bạc, chiếc cổ cao, gầy, mặc một cái áo khoác xám, kiểu xưa. Cô thấy anh đang đi tới. Khuôn mặt anh đã già đi nhiều, đã khác đi nhiều, nếu đó chính là anh. Má bên phải có sợi râu dài. Cô ngờ ngợ, không tin vào mắt mình. Cho đến khi anh mỉm cười nhìn thẳng vào mắt cô. Thì cô biết.

Cô tưởng anh nhận ra cô, nhưng không phải, anh mỉm cười với một người nào đó phía sau lưng cô, anh đi lướt qua, rõ ràng không chú ý đến cô. Ngày trước cũng vậy, sau khi lên xe phải nhiều phút sau, khi xe cộ vắng trên đường, anh mới thong thả liếc nhìn cô, không phải liếc nhìn, mà cái nhìn chăm chú, rõ ràng. Tôi đang nhìn cô. Anh muốn nói thế, hay cô nghĩ thế. Bỗng người đàn ông quay lại. Suzanne. Anh ta reo lên. Tim đập rộn ràng, cô cố trấn tĩnh, từ từ quay lại. Nước mắt cô ứa ra.

Tất nhiên đó chỉ là sự tưởng tượng của cô. Anh không reo lên như vậy. Anh chưa bao giờ reo lên như vậy với cô. Trong đêm đầu tiên ngủ chung phòng với đứa bạn ở Saskatoon, họ quen thân nhau từ khi còn ở trại tị nạn, cô kể lại câu chuyện hồi chiều, cố tỏ ra tình cờ, không quá hào hứng. Cô bạn vừa ngáp vừa nghe chuyện, ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo: Ở đây ai cũng thế. Có lẽ cô ta muốn nói ai cũng sẵn sàng làm cái việc tử tế bình thường như thế cả, hay có ý gì khác nữa thì cô không biết. Cô muốn cãi lại rằng tử tế và tình yêu là hai thứ khác nhau, nhưng cô im lặng, quấn cái chăn chặt, cố dỗ giấc ngủ. Lúc này đây trên đầu cô, như sau một mùa đông dài, bầu trời sáng lên trước khi tối hẳn. Phía đường chân trời, cô nhìn thấy mặt trăng, từ từ sáng lên, tròn, to, đỏ sẫm. Vầng trăng gặt hái. Hay là vầng trăng ấy không có thực? Vì nó đỏ quá, sẫm quá, như một giấc mơ. Vì vậy nếu người đàn ông ấy quay lại và hỏi: Xin lỗi, tên cô là gì? Cô sẽ im lặng.

Cô đã từng im lặng khi thi hỏng kỳ thi vào cao đẳng ấy. Cô đã từng im lặng khi ba cô chặn cô ở cửa tát một cái như trời giáng và hỏi: Mày đi đâu trong ba ngày qua, đồ con gái hư? Cô sẽ im lặng như khi người quản lý nhà hàng yêu cầu cô ở lại làm thêm giờ đến nửa đêm, nhưng không trả tiền lương overtime cho cô. Hắn chưa bao giờ trả. Cô đã từng im lặng khi mất sạch tiền trong savings account vào trò chơi chứng khoán năm cô mười chín tuổi, với hy vọng sớm có tiền thuê một căn gác sạch sẽ hơn là tầng hầm basement nhìn ra bụi cỏ cao có con dế vuốt râu trầm tư.

Bây giờ, nếu anh quay lại, cô tưởng tượng thế, và hỏi:

Xin lỗi, có phải cô tên là Suzanne không?

Không. Cô sẽ trả lời người ấy. Xin lỗi, tôi không phải là Suzanne.


Nguyễn Đức Tùng

Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.