Hôm nay,  

Có còn là mộng dưới hoa không?

10/10/202500:00:00(Xem: 2105)
 
Mộng dưới hoa 
  
« Chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng, có người con gái đẹp như trăng… khi gặp em rõ thấy một bà chằng! »
 
Chằng tinh, hay chằn tinh là một loài người hay cũng coi là một loài quỷ hung ác. Tùy vào hoàn cảnh, tùy vào người ta gặp, ta đối diện.
 
Nay thế giới có nhiều loại chằn tinh, chằn ở trong mọi lãnh vực, chính trị, văn hoá, kinh tế, giáo dục và cả trong xã hội v.v…
 
Do đấy, ta muốn tìm hiểu nguyên do chằn ở đâu ra. Hẳn là trong văn hóa Nam Bộ Việt Nam - Ấn Độ - Khmer…?
 
Theo tác giả Huỳnh Thanh Bình, chằn là một loại sinh vật truyền kỳ, làm hộ pháp, canh giữ chùa, tháp, chánh điện phật giáo nam truyền và chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa và tâm linh của người Khmer nam bộ, phổ biến trong kho tàng truyện kể dân gian và tuồng tích sân khấu của đa phần người Đông Nam Á.
 
Khái niệm về chằn được hiểu là những sinh vật có sức mạnh thể chất, hình tướng hung dữ, sở đắc nhiều tài phép biến hóa khôn lường, phẩm chất thiện ác tùy thuộc vào từng loại khác nhau, cũng có thể biến đổi đến chỗ hoán đổi xấu tốt vô lường… tùy không gian, tùy cảm hứng tự thân, tùy hoàn cảnh và lịch sử văn hóa.
 
Ta gọi chung là chằn tinh, nhưng nguồn gốc thì có ba loại:
1/ A Tu La Asura
2/ La Sát Rashashi
3/ Dạ Xoa Yaksha và có Dạ Xoa nữ.
 
Trong văn hóa Bà La Môn, cả ba loại này đều có phẩm chất khác (nghĩa là có xấu, có tốt) khi chúng được phật giáo hóa.
 
Atula – Asura
Atula được biết nhiều, thấy nhiều trong các bản khắc miêu tả cảnh khuấy sữa, gốc từ thần thoại Ấn Độ và ở quốc gia còn chịu ảnh hưởng Ấn Độ như ở di tích Angkor, Angkor Wat, Angkor Thom bên cạnh thần thoại Khmer.
 
Trong tín ngưỡng Indou, Atula có lúc mang ý nghĩa như bậc thần thánh, siêu phàm, có lúc được kể như linh hồn hay bậc thần linh tối cao. Có lúc lại kể như kẻ quỷ quái hay kẻ thù địch Vệ Đà, có một Atula được mang tên là Bình Minh là mang ý tốt lành, và thần Indra (gọi là Đế Thiên) là người chỉ huy các Deva đó. Chỉ huy các Atula đó.
 
Nói chung khởi thủy các Atula đều giỏi giang và có phẩm chất đạo đức tốt, dần dần va chạm nhau, trở nên ngạo mạn và tự phụ, rồi thách thức cả chư thiên… những mâu thuẫn này cho ra hiện tượng sấm sét. Có hai Atula là Ramasua và Mêkhala giành nhau một viên ngọc quý do một bát sữa cô đọng lại mà thành. Cứ mỗi lần trời chuyển mưa, Mêkhala bay lên không trung tắm liền bị Ramasua tung búa lên đánh, hai lưỡi búa đập vào nhau tóe lửa, phát ra tiếng nổ kinh hồn. Họ bảo rằng hiện tượng sấm sét thường xuyên do hai Atula đánh lộn mà ra.
 
La Sát – Rashashi
Có nhiều từ ngữ và tính cách mô tả La Sát, theo đặc điểm và hành vi, La Sát Araras là kẻ giết người, kẻ hay xúc phạm và làm tổn thương, cũng là kẻ ăn cắp đồ cúng hiến, La Sát này rất tráng kiện và khỏe mạnh trong lúc chạng vạng tối. Chúng là loại tham ăn, háu ăn. Chúng có một số phép thần thông là bay lượn hay biến mất, hay tăng giảm kích cỡ thân hình. Loại La Sát này rất đa dạng. Có La Sát hai chân, có loại La Sát ba chân hay bốn chân. Có lúc La Sát là một con mèo, một con chó, một con trăng hay con ngựa hoặc một con voi.
 
Nói chung, đa phần các La Sát là ác, nhưng cũng có những La Sát hoàn thiện. Tính chất hai mặt này thấy ít nhiều trong kinh văn phật giáo, có nghĩa là có những La Sát quay đầu lương thiện sau khi được nghe phật pháp. Đó là trường hợp La Sát Ravana đã thỉnh phật thuyết pháp, và cuộc thuyết giảng này được ghi chép thành Kinh Lăng Già, kinh Lankavatara. Lấy tên núi Lanka đặt tên cho kinh. Núi này ở biển Nam Hải, cao chót vót nhìn xuống biển cả mênh mông, mô tả này để hành giả hình dung ra đó là một hòn đảo, La Bà Na hung ác đã biết dành sự tôn kính  cho Như Lai sau khi nghe thuyết giảng. Thoạt khởi đầu chỉ là họ tò mò mà tới quan sát chư phật xem phật nói gì.
 
Dạ Xoa – Yaksha
Tiếng Việt gọi là Dạ Xoa, xấu như quỷ Dạ Xoa chẳng hạn, trong các ngôn ngữ, có nhiều tên gọi khác nhau, tiếng Sanskrit gọi là Yaksha, tiếng Pali là Yakkha, tiếng Hoa gọi là Ycha, Khmer gọi là Yăk… về giới tính, có Dạ Xoa nam, Dạ Xoa nữ.
 
Dạ Xoa vốn là tên gọi chỉ một loại nhiên thần có Dạ Xoa xấu, cũng có Dạ Xoa đẹp, rất đẹp. Chứ không phải người ta hay nói xấu như quỷ Dạ Xoa!
 
Thường thần thoại coi Dạ Xoa là kẻ nhân từ, chuyên trong coi các kho tàng châu báu trong hang hốc, các kho tàng tự nhiên ẩn trong đất vùi trong rễ cây.
 
Dạ Xoa này được mô tả nhiều trong các thần thoại Hindou giáo và kinh văn phật giáo.
 
Trong thần thoại Hindou và cả phật giáo, Dạ Xoa có cá tính kép, một mặt là vị tiên cô xinh đẹp vô thưởng vô phạt gắn kết với núi rừng.
 
Nhưng bên cạnh cô tiên xinh đẹp đó, còn có một kiểu Dạ Xoa nham hiểm ở những nơi hoang vu, vắng vẻ, thường rình rập để ăn thịt lữ khách, như phù thủy ăn thịt bà cháu cô bé quàng khăn đỏ vậy. Dạ Xoa này khởi điểm là những bà La Sát bảo vệ rừng và đồi núi hoang vu, sau đó được quan niệm như các vị thần giám sát trần gian và của cải nơi họ tá túc.
 
Dạ Xoa nam và Dạ Xoa nữ, cả hai đều là những người hầu cận canh giữ của cho vị thần tài Ấn Độ rất xa xưa, tên gọi Kubera trong kinh Vệ Đà, Kubera là vị thống soái cai quản quỷ và các thần linh sống trong bóng tối. Tức là một vị Diêm Vương. Sau này, Kubera cũng được hiểu một nghĩa khác là ông thần tài, vì trong đất có nhiều của cải cung điện của Kubera ở trên dẫy Himalaya, trong một khu vườn của ngọn núi Tu Di sơn, ngọn núi cao của trung tâm vũ trụ Me Ru (= núi Tu Di) cha con Kubera làm chúa tể các kho báu, của cải, quý giá và được làm vua xứ Lanka (được gọi là Tích lan, Srilanka) sau Kubera có một em trai, rồi gia đình xích mích xô xát vì các cô La Sát xinh đẹp.
 
Tất cả thần thoại ở các quốc gia Ấn hóa ở Đông Nam Á, tín nhiệm về Yaksha thâm nhập sâu sắc và bắt nguồn từ truyện kể các chằn, La Sát, Dạ Xoa của sử thi Ramayalia. Sử thi này lưu truyền sang Nam Việt Nam, được coi là sáng tác văn học nền tảng Miến Điện, Lào, Khmer, Thái Lan… tất cả không phải là một nền văn học để kể, nghe và đọc; mà còn từ đó tạo ra các sản phẩm sân khấu, các hình thức diễn tuồng dân gian và tạo dựng nên vô vàn các tác phẩm điêu khắc, trang trí, hội họa giá trị, thâm nhập khá đậm đà vào tâm thức cộng đồng miền Nam Việt Nam… Ấn tượng là hình ảnh cô Dạ Xoa có lúc được nhắc tới lui nhiều lần trong dân giả…
 
Yaksha cũng được coi là thuộc hạ, tay chân của ông thần tài. Ở Đông Nam Á Yaksha nhận vai trò canh giữ đền chùa, tháp. Là một hình ảnh rất đẹp về mỹ thuật, kiến trúc và cả lịch sử.
 
Ở một khía cạnh khác, sâu sắc hơn, là tính chất hai mặt khác biệt của chằng tinh, dù là A Tu La, hay La Sát hay Dạ Xoa được lưu giữ trong tín lý phật giáo với những biểu hiện thiện ác khác nhau thì A Tu La hay La Sát cũng được coi là một loại chúng sanh. Một loại chúng sanh mà có lúc gặp duyên biết hồi đầu hướng thiện bơi vào bờ!
 
Nhìn, nghe toàn cảnh thế giới chúng ta hôm nay, thiệt hỗn loạn rối ren như chưa từng bao giờ có.
 
Cầu mong sao các La Sát người và các Dạ Xoa, A Tu La người trần thế này, sẽ có lúc phát khởi có hai mặt hoán đổi và biết làm lành tránh dữ như chằng tinh xa xưa…
Cầu mong lắm thay!
Nam Mô Bái Bạch kinh Lăng Già Lankavatara
 
Paris vào thu 2025
Chúc Thanh

Biết bao nhiêu bài viết về Mẹ, công ơn sinh thành, hy sinh của người Mẹ vào ngày lễ Mẹ, nhưng hôm nay là ngày Father’s Day, ngày của CHA, tôi tìm mãi chỉ được một vài bài đếm trên đầu ngón tay thôi. Tại sao vậy?
Hôm nay giống như một ngày tựu trường. Đơn giản, vắng một thời gian không ngồi ở lớp học, nay trở lại, thế là tựu trường. Ngày còn bé, mỗi lần nghỉ hè xong, lên lớp mới, trong lòng vừa hồi hộp vừa vui sướng. Có bao nhiêu chuyện để dành chờ gặp bạn là kể tíu tít. Nhưng bên cạnh đó là nỗi lo khi sắp gặp các thầy cô mới… Mỗi năm đều có ngày tựu trường như vậy, nói chung là khá giống nhau, trong đời học sinh. Nhưng cái ngày tựu trường này thật quá khác. Người ta nhìn nhau không dám cười, không dám chào hỏi. Sự e dè này, dường như mỗi người đã được tập luyện qua một năm. Một năm “học chính trị” trong cái gọi là hội trường mà tiền thân là cái rạp hát.
Cái tên Michelin không xa lạ gì với chúng ta. Vỏ lốp chiếc xe tôi đang dùng cũng mang tên Michelin. Sao hai thứ chẳng có liên quan chi lại trùng tên. Nếu tôi nói chúng tuy hai mà một chắc mọi người sẽ ngây người tưởng tôi… phiếm.
Phi là một người bạn đạt được những điều trong đời mà biết bao người không có. Là một tấm gương sống sao cho ra sống để chết đi không có gì hối tiếc. Là một niềm hy vọng cho sự tử tế vốn ngày càng trở nên xa xỉ ở nước Mỹ mà tôi đang tiếp tục sống.
Có một lần đó thầy kể lại chuyện rằng, thầy có một phật tử chăm chỉ tu học, đã hơn 10 năm, theo thầy đi khắp nơi, qua nhiều đạo tràng, chuyên tu chuyên nghe rất thành kính. Nhưng có một lần đó phật tử đứng gần thầy, nghe thầy giảng về phát bồ đề tâm, sau thầy có đặt một vài câu hỏi kiểm tra coi thính chúng hiểu bài tới đâu? Cô vội xua xua tay, “bạch thầy, những điều thầy giảng, con hiểu hết, con hiểu hết mà. Con nhớ nhập tâm. Nhưng đừng, thầy đừng có hỏi, bị là con không biết trả lời làm sao đâu.” Có lẽ là cô hiểu ý mà cô chưa sẵn sàng hệ thống sắp xếp thứ tự lại các ý tưởng.
Ở xứ ấy, người ta ngủ đến trưa mới dậy. Chàng nhớ thế khi nghĩ về mùa xuân, mùa hạ, mùa thu khi còn bé, mỗi lần nghĩ thế, đều lấy làm ngạc nhiên, và lấy làm ngạc nhiên về sự ngạc nhiên ấy. Thế mà giữa một thành phố châu Âu, chàng lại gặp chúng. Trên nền tường trắng và mặt biển xanh, giữa những màu xanh và trắng, chỉ hai màu ấy, đôi khi xanh và đỏ, chàng gặp lại chúng, hồ hởi, tưng bừng, nó và chàng như hai thằng bạn thời mặc quần xà lỏn nay gặp nhau
Lơ đảng nhìn mây trời và đèn đường, tôi từ tốn chuyển xe sang tuyến trái để cua. Cha tôi thường nói, “Con phải tập bỏ tính lơ đểnh, nếu không, sẽ có ngày gặp phiền phức.” Nhưng lơ đểnh là nơi nghệ sĩ lang thang, ngẫu hứng tìm thấy những sáng tạo không ngờ. Chợt thoáng trong hộp kính nhìn lui, thấy chiếc xe đen nhỏ bắn lên với tốc độ nguy hiểm, tôi chuyển xe về lại bên phải, sau gáy dựng lên theo tiếng rít bánh xe thắng gấp chà xát mặt đường, trong kính chiếu hậu, một chiếc xe hạng trung màu xám đang chao đảo, trơn trợt, trờ tới, chết rồi, một áp lực kinh khiếp đập vào tâm trí trống rỗng, chỉ còn phản xạ tự động hiện diện. Chợt tiếng cha tôi vang lên: “đạp ga đi luôn.” Chân nhấn xuống, chiếc xe lồng lên, chồm tới như con cọp phóng chụp mồi. Giữa mơ hồ mất kiểm soát, tử sinh tích tắc, tôi thoáng nhận ra trước mặt là thành cây cầu bắt qua sông.
Danh đi làm lúc 5 giờ sáng, ra về lúc 2 giờ trưa, từ sở làm đến đây khoảng 10 phút đường phi thuyền bay. Giờ này vắng khách. Những lúc khác, buôn bán khá bận rộn. Áo quần lót ở đây khắn khít thời trang, từ đồ ngủ may bằng vải lụa trong suốt, nhìn xuyên qua, cho đến hàng bằng kim loại nhẹ, mặc lên giống chiến sĩ thời xưa mang áo giáp nhưng chỉ lên giường. Hầu hết khách hàng đến đây vì Emily và Christopher. Người bàn hàng độc đáo. Họ đẹp, lịch sự, làm việc nhanh nhẹn, không lầm lỗi. Cả hai có trí nhớ phi thường. Không bao giờ quên tên khách. Nhớ tất cả món hàng của mỗi người đã mua. Nhớ luôn ngày sinh nhật và sở thích riêng. Ngoài ra, họ có thể trò chuyện với khách về mọi lãnh vực từ triết lý đến khoa học, từ chính trị đến luật pháp, từ du lịch đến nấu ăn… Khách hàng vô cùng hài lòng
Sau hơn ba mươi năm gắn bó với cuộc sống ở Mỹ, ông Hải và bà Lan quyết định về hưu và bắt đầu một chương mới của cuộc đời. Quyết định này, mặc dù bất ngờ với những người xung quanh, lại xuất phát từ một ước mơ giản dị-sống những ngày cuối đời an nhàn tại quê hương. Hai ông bà đã dành dụm được một khoản lương hưu kha khá, cộng thêm số tiền đầu tư từ kế hoạch lương hưu 401k, đủ để họ cảm thấy có thể an tâm sống thoải mái ở Việt Nam.
Mẹ chị vừa bước qua tuổi 90, cụ đã bắt đầu lẫn, không tự săn sóc mình và không dùng máy móc được nữa. Bố chị mới mất cách đây hai năm và Mẹ chị xuống tinh thần rất nhanh sau khi Bố mất. Bắt đầu là buồn bã, bỏ ăn, thiếu ngủ, sau đi tới trầm cảm. Chị đi làm bán thời gian, giờ còn lại cả ngày chạy xe ngoài đường đưa đón mấy đứa nhỏ, hết trường lớp thì sinh hoạt sau giờ học. Chị không thể luôn ở bên Mẹ. Chị tìm được nhà già cho Mẹ rất gần trường học của con, lại gần nhà nữa, nên ngày nào cũng ghé Mẹ được, Mẹ chị chỉ cần trông thấy chị là cụ yên lòng.
Má ơi! Thế giới vô thường, thay đổi và biến hoại trong từng phút giây nhưng lòng con thương má thì không biến hoại, không thay đổi, không suy hao. Nguyện cầu ngày đêm cho má, hướng phước lành đến cho má. Cầu chư Phật, chư Bồ Tát, chư hiền thánh tăng ba đời mười phương gia hộ má vượt qua đau bệnh để sống an lạc trong những ngày tháng tuổi già bóng xế.
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.