Hôm nay,  

hoa nở vì ai....

11/10/202520:50:00(Xem: 5255)

Tản mạn thơ

Tranh Hoa cua Hoa
Tranh Đỗ Anh Hoa.


 

Tháng 7 trời xanh cao, mùa lên hâm nóng. Mặt đất nung nhiệt ngấm ngầm địa chấn, như muốn cùng người rung vang lời ngân quá khứ. Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm, “mù không lối vào...” (TCS). Vang vang trong gió, lời trẻ thơ láng giềng vọng lại đùa vui tiếng nước. Nghe mát rượi chạy quanh lưng trần từng gáo múc, từng gàu treo giếng lặng và nước mưa lũ tràn máng xối. Nước ơi, nước gọi sông, gọi suối, gọi nguồn, nước hát ngàn xanh của biển lộng trào mùa thơ ấu cũ. Nơi xa mờ cơn nắng, hải đảo hiện thành ốc xanh cuối chân trời, đùa cợt gọi mời kẻ lạc đường đang chết khát sa mạc. Mờ ảo phía ấy, những chấm xanh li ti trong mùa nắng vỡ xuống soi dáng đăm chiêu mắt ngây. Như hoa đom đóm nhòe lên mắt, thị giác vẽ nên hình dung người đi về xa thẳm. Bấy giờ, lớp trường đã đóng cửa, hàng cây cuối xuống cù rủ mùa hè đi rong hoang lãng mạn. Áo người bung xòe chiều chờ đợi một thời. Những tà vạt mong manh phất phới như loài ma không chân trên mặt lộ ngày hè chứa chan. Sót lại chăng, vẽ vời như buổi sáng hôm nay, có mây trắng rất cao, cao ngất trên mọi triền ký ức.
 
Giọng hồ cầm Nat King Cole êm ái dệt lời kéo tôi nhè nhẹ, I see your face in every flower, your eyes in stars above...  the very thought of you.  The very thought of you, sao bỗng niệm tình lân hư trở về vô cớ? Câu hỏi xoay quanh, You là ai? Là người? Là thế giới? Là Em? Xem hoa thấy dung nhan người, nhìn sao cao xa thẳm trên kia bỗng hiện tiền một ánh mắt. Chỉ một niệm. Một niệm Em, thế giới hoàn thành trong chớp lóa big bang...
 
Một lần Basho đi trên đường làng, điều khiến ông chăm chú chính là đám hoa dại bên đường. Ông viết một haiku, thiên hạ thích, và họ gọi tên bài thơ ấy nazuna haiku.
 
Yoku mireba Nazuna hana saku Kakine kana.
(Basho)
 
Looking carefully
A shepherd’s purse is blooming
Under the fence                        
         (trans. R.H.Blyth)
 
Nhìn kỹ nhé chú tâm nào
vùng bông dại rộ
ven rào ngộ thay
          (Vũ Hoàng Thư phỏng dịch)
 
Từ “kana” đặt ở cuối câu trong tiếng Nhật mang nhiều ý nghĩa khác nhau để biểu thị sự kinh ngạc, ngưỡng mộ, hay phiền muộn, hoặc hân hoan, đôi khi hoài nghi... Đại sư D.T. Suzuki, nhà thiền học danh tiếng của Nhật cho rằng “kana” trong bài haiku này có thể dịch sang tiếng Anh thích hợp nhất chỉ bằng một dấu chấm than! Dấu chấm than diệu kỳ mở nguồn thăm thẳm sinh tồn bằng một lời vô ngôn! Vậy thì “Kakine kana” trong câu cuối ta có thể nôm na nói rằng: hàng rào ngộ thiệt! Thế hàng rào có chi mà ngộ? Ngộ là ở chỗ hoa nazuna bung rộ cạnh bên, chứ hàng rào nào dính dáng chi với cái ngộ. Không dưng chữ ngộ bật dậy đôi điều khép mở ảo huyền, ngân lên một cung bậc dị thường mênh mang dưỡng nuôi y bát. Ngộ là nhầm [ngộ nhận], ngộ là gặp gỡ đối mặt nhau [hội ngộ], ngộ cũng là hiểu ra, là vỡ lẽ, là tỉnh giấc [giác ngộ]... Thì ra từ nhầm lẫn [ngộ nhận] ta đối diện [hội ngộ] với sự việc, từ đó khai mở tâm thức để không còn mê muội [giác ngộ]. Tất cả cũng từ một chữ ngộ! Quả là ngộ thiệt chứ chẳng nói chơi hý luận. Không vô minh thì cũng chẳng có giác ngộ như lời thầy, tổ thường nói.
 
Ông Basho bảo “hãy nhìn kỹ, có hoa nazuna nở dưới bờ rào”. Bài haiku thoạt nghe có vẻ cũng tầm thường thôi nhỉ. Nazuna là một loài hoa trắng dại vẫn mọc hoang bên vệ đường mà thiên hạ thường chẳng ai quan tâm hay để ý đến. Nếu nhại theo lời bài hát Hoa Trinh Nữ của Trần Thiện Thanh thì “hoa Nazuna không mặn mà bằng nàng hồng kiêu sa, hoa đâu dám khoe màu cùng một nàng Cúc vàng tươi”. Tuy nhiên Basho nhấn mạnh, hãy nhìn kỹ. Nhìn kỹ ở đây phải hiểu là nhìn với thái độ chú tâm và tỉnh thức, bỏ hết những phân chia biện biệt để nhìn như một thiền giả. Nhìn bằng con mắt vô niệm như vậy tự khắc sẽ thấy hoa nazuna đẹp như nàng hồng kiêu sa, đẹp không thua gì đóa sen hồng thắm chốn tịnh độ. Một cái nhìn trong tâm thức rỗng không cho tiểu thể hòa tan cùng đại thể, bởi chưng tầm thường hay phi thường, nhỏ bé hay vĩ đại vốn cùng nhất thể chân như. Chiêm nghiệm cánh hoa nazuna khiêm tốn nở bên bờ rào là thấu đáo điểm chín mùi của sự sống, khắc giờ phát tiết tinh hoa, mở toang nút thắt, phơi phới cùng nhân gian. Giây phút đó, ta và hoa là một, không còn biên giới chia cách giữa trong và ngoài, giữa ta và thế giới. Ta vươn vai chạm cùng vũ trụ trong niềm tự tại như chưa bao giờ được “sống”, liền khi ấy thấy bắt được tính bình đẳng của vạn vật, không phân biệt sang hèn, to nhỏ, những nhỏ nhoi vốn bị lãng quên của nhân gian đời thường. Kana! Ngộ thay!
 
Thế kỷ trước, một thi sĩ Việt cô đơn như chưa từng cô đơn, kinh ngạc và sụp lạy một cành hoa vừa nở. Đó là bài thơ ngắn “Thược Dược” của Quách Thoại ít được nhắc đến,
 
Đứng im ngoài hàng giậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu

Ta sụp lạy cúi đầu
(Thược Dược - Quách Thoại)
 
Tất nhiên là kinh ngạc khi bất ngờ nhận ra đóa thược dược lồ lộ đứng im ngoài hàng giậu. Hoa im sững làm cho ngoại hình như cao hẳn lên, vĩ đại hơn bình thường. Thi sĩ kinh ngạc như thiền sư ở khắc giây hoát nhiên đại ngộ. Hoa không chỉ khoe màu, hoa còn truyền cảm bằng thanh âm tiếng hát. Hoa được nhân cách hóa thành người, thành Em, thành Nàng Thơ, thành Chân Lý, v.v... Phút giây đó, cũng tỉ như phút giây Basho-nazuna, hay Archimedes-Eureka, chỉ hiện hữu khi thi sĩ trong một sát na gay cấn, hốt nhiên kỳ tác thành một tia chớp sáng lòa, nối liền mạch nguồn hương phấn, thiết lập sợi dây liên đới nối hoa với người làm một, kết mình cùng thế giới không chia. Sợi dây ấy vẫn hằng có, chỉ là bình thường vì vô tâm ta không nhìn thấy đấy thôi. Người vô tình để cho mấy cuống đỏ phù dung lặng lẽ một mình giữa lòng núi vắng lặng, không bóng người, giản hộ tịch vô nhân... rồi bời bời hoa nở, bời bời hoa rơi... phân phân khai thả lạc,
 
Mộc mạt phù dung hoa
Sơn trung phát hồng ngạc
Giản hộ tịch vô nhân
Phân phân khai thả lạc
          (Tân Di Ổ, Vương Duy)
 
Ngọn cây hoa Phù Dung
Giữa núi nẩy cuống đỏ
Quạnh quẽ cổng bên khe
Bời bời rụng và nở
          (Giản Chi dịch)
 
Câu hỏi không dưng bất chợt vào một sáng hè oi ả nắng, rộn rã lời mây trắng: Hoa nở cho người, hay hoa nở vì ai? Câu hỏi dìu dắt hiện sinh đi về nơi tịch mịch chan hòa cùng cõi thế phong ba, đưa chân đến những chóp đỉnh phong nhiêu dị thường của bát ngát thăm thẳm bất khả tư nghì, họa chăng chỉ có thể thong dong vi vút bằng những giả dụ chênh vênh có lẽ. Có lẽ?
Có lẽ thược dược chỉ thực sự nở khi Quách Thoại cúi đầu sụp lạy để bắt nhịp cầu liên đới cho hoa/người bình đẳng tương lân, tất cả là một, một là tất cả, ta là thế giới, thế giới là ta.
 
Có lẽ hoa nazuna khiêm tốn như giọt sương đầu cỏ bên đường, lộ thảo đầu phô(*), chỉ khoe sắc khi con ếch đánh bõm vào ao lặng khiến Basho dừng bước, gập mình xuống mạch thẳm tồn sinh để thấy nghìn năm sau trước nazuna vẫn phơi phới bên đường mặc cho thiên hạ bàng quan qua lại.
 
Hay có lẽ, hoa bung lên khi đến thời hoa nở. Chỉ vậy. Như là. Và có lẽ, biết đâu hoa chỉ nở rộ cùng hoa tâm của người khi người biết ngoái đầu hân thưởng giây phút trực diện khôn hàn cùng diệu kỳ trầm tịch vô ngần mở phơi.
 
Kiếp hoa – 
ta nhỏ máu ròng
cho người cười nụ giữa lòng nhân gian

 

– Vũ Hoàng Thư

Tháng 7, 2025

 

---------------------------------------

(*) Thị đệ tử, thiền sư Vạn Hạnh

 

Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.