Hôm nay,  

Lòng nhân ái

31/10/202500:00:00(Xem: 2876)
 
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…
 
Họ ngồi co ro, dúm dó vào nhau trên mái nhà, lạnh và đói và sợ! Cảnh tượng thê lương khó tả.
 
Nước ở các miền cao đang đổ về vùng thấp, nước trên sông Cầu, Bắc Ninh cuồn cuộn chẩy về và dâng cao. Nước trên sông Thương vẫn chẩy về và cao ở độ báo động 3. Các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn và ngoại thành Hà Nội được báo động như nước vẫn cao trong ba tới năm ngày tới… là thứ tư 6-10 cho tới qua ngày 11 tháng 10 mới có hy vọng lui xuống… là hy vọng thôi.
 
Hoa đào trồng đón tết gió đã lôi cuốn đi cả gốc… các khung cửa sắt thép cũng bị gió lốc giựt ngược cuốn bay vèo vèo.
 
Thiên nhiên ngày càng hung dữ khi nổi cơn thịnh nộ. Hàng ngàn ngàn căn nhà của người dân ngập chìm trong nước lũ. Việc tổ chức cứu trợ của chính quyền cộng sản chậm chạp và khó đáp ứng nổi nhu cầu cứu trợ.
 
Các đoàn thể thiện nguyện cứu trợ đa phần do nhân dân đồng bào tự phát, giúp đỡ nhau bằng bánh chưng, mì gói, nước uống, đồ ăn khô. Lá lành đùm lá rách!
 
Tiền thì có thầy Thích Minh Thiền, lại cùng các phật tử bổn đạo từ chùa Đức Hòa trong miền Nam, mau mắn ra Bắc cứu trợ.
 
Thầy Thích Minh Thiền lại sắn cao ống quần qua đầu gối, vạt hò, vạt dài áo tràng cuốn cao lên vai lên cổ, lội lõm bõm vào thôn Minh Côi xã Trường Văn, huyện Nông Cống, «dạ, dạ… mô phật… con chia xẻ mất mát đau buồn của quý đồng bào…» nước vẫn băng băng thầy cũng lội băng bằng… «mô phật, con đem tới tấm lòng đóng góp của phật tử miền Nam»… để ít nhiều quý vị khắc phục hậu quả, cứ mỗi gia đình thầy đặt vào tay họ một triệu, mô phật mô phật của ít lòng nhiều.
 
Thầy dám bước lên bè cây nổi, đẩy mái chèo qua khu nước lớn, bờ bên kia, có lũ trẻ nhỏ reo mừng: oh oh thầy Minh Thiền, thầy tới.
 
Thầy tới, thầy lại tới, thầy lội nước lõm bõm vào chỗ hẻo lánh nhưng thầy không quên một nhà nào… cho tới Hà Giang, nhiều nhà mất mạng, khuyết tật… thầy chia tặng từ 3 triệu tới 10 triệu, mỗi nhà, thầy chia xẻ nỗi buồn, an ủi với lời ân cần thấm thía nghĩa tình Việt Nam. «Mô phật, mô phật… tội quá, con mang tấm lòng và tình thương của đồng bào miền Nam ra bù đắp ít nhiều đau thương cho quý vị đồng bào… mô phật»… cầu chúc sức khỏe…
 
Ngày 8 tháng 10 thầy cùng đoàn đến Tuyên Quang, chia xẻ ít nhiều tinh tài và cầu siêu cho sáu gia đình có thân nhân mất vì bị nước lũ cuốn trôi, có những nhà sáu người mà tới bốn ngưới bị trôi đi, thầy luôn an ủi người sống và không quên cầu xin siêu thoát cho người đã vong mạng…
 
Hình ảnh thầy Minh Thiền săn quần cao, cột áo tràng vạt hò, vạt ngắn, vạt dài lên vai lên cổ lội lõm bõm trong giòng nước lũ đục ngầu, kiên nhẫn và hăng hái cùng đoàn đi cứu trợ mỗi lúc nước lũ tràn về, (tác giả) tưởng không thể ngậm ngùi cảm phục thầy và đoàn và sót sa nhớ lại một câu chuyện chống lũ lụt năm xưa… xưa lắm rồi, xưa trước cả năm thìn bão lụt còn ghi dấu ấn trong lịch sử. Quả thật chống lũ gần như chống giặc ngoại xâm, có lúc còn bi thương hơn cả chiến trận.
 
Thưa đó là chuyện chống lũ, chống vỡ đê từ thời Pháp thuộc, chuyện xưa như cổ tích, mà vẫn in hằn dấu vết, từ khoảng năm 1945-1946. Miền lũ nước dâng cao là tỉnh Thái Bình, sát Nam định, Bắc phần.
 
Theo lời cha tôi kể lại, hồi đó, mỗi làng hay mỗi huyện phải có 50 người phụ dịch chia phiên thay nhau ra canh đê và lo đắp đất, đá, cát lên những chỗ lủng ngoài biển tràn vào ruộng lúa, làng mạc bên trong đất liền… nơi sinh sống của nông thôn đó là con đê Diêm Hộ, bao bọc cả vùng đồng bằng lúa tỉnh Thái Bình trù phú… nuôi sống người dân cả một vùng bao la bát ngát. Nhưng tháng 7, tháng 8, mùa nước lũ dâng, lại là nỗi lo sợ của đồng bào.
 
Họ thay phiên nhau đi canh sợ đê vỡ và sợ lụt… tiếng mõ cầm canh luôn báo động mực nước lên, xuống, mau, chậm để người dân đồng bằng cuốn áo quần chạy… họ chạy đỡ lên tá túc trên những gò đất cao, lên sân đình, sân chùa, tháp… chạy nước, họ cũng sợ… như là còn sợ hơn chạy giặc và chạy lửa… vì đại hồng thủy đến chỉ trong một sát na, một chớp mắt… trời ơi!
 
Nhà nhà thì chỉ đa phần còn lại là đàn bà, con nít và ông bà già. Đàn ông trai tráng đa phần đã chia phiên lên đê, canh giữ mực nước!
 
Nhưng nào họ có giữ được gì đâu, sức nước biển mạnh làm vỡ đê dễ như chơi, sóng ầm ầm ầm… tiếng ầm vĩ đại là chết, là một khúc đê bị vỡ bị cuốn phăng xuống phía dân làng phía đồng lúa, ruộng màu… có cả một số người bị cuốn theo. Trên là trời, dưới là nước, mênh mông bể sở… làng nào ở ven đê vỡ, bị xóa sổ. Làng nào ở xa hơn, thì mảng trôi đi, mảng còn trụ lại.
 
Làng nào ở xa hơn một khoảng nữa, thì cũng khá nguy nan, vì nước vẫn băng băng dâng lên, người lớn, người nhỏ, bồng bế lôi kéo nhau lên mái nhà ngồi tránh nước. Nếu có cơ may leo lên được góc đình, góc chùa, máng nhà thờ làng Ngoại Trình… thì tạm tạm yên, ngồi đó, co ro, chịu đói, chịu rét lạnh… hy vọng mỏng manh chờ nước rút…và chưa chết!
 
Leo lên chùa, đình hay nhà thờ còn đọng ở lại. Chớ ngồi lêu bên trên nóc nhà tranh, nguy hiểm lắm, rất nhiều mái nhà rời đòn dong, lêu bêu trôi theo giòng lênh đênh… y lục bình lang thang theo cam lộ! Người, phận người, mong manh chìm xuống không kịp còn sức đâu mà hoảng loạn.
 
Chuyện muốn kể thì đã xa lắm rồi, mà thưa bạn, nó vẫn trở về với ký ức khi mỗi mùa nước nổi, nước lũ, với hình ảnh thầy Minh Thiền săn quần săn áo bì bõm lội trong giòng nước lụt đục ngầu đó.
 
Thưa là, trên bản đồ, làng quê tôi, tựa vào vùng châu thổ sông Hồng, chỗ có con sông Diêm Hộ, cạnh sông Trà Lý, có cống Trà Ninh.
 
Gần cửa biển Diêm Hộ, Diêm Điền, khoảng cách 9, 10 cây số nên vỡ đê là chuyện hay xẩy ra mùa nước lớn.
 
Đê đắp cao và có cống thoát nước, nhưng khi sức nước mạnh, tức nước vỡ bờ là chuyện bình thường. Bờ đê có chỗ nứt nẻ, người bảo vệ đắp lại yếu ớt bằng bao cát và luôn luôn sống trong tình trạng báo động. Khi đê vỡ, người phu dịch chạy thoát là may mắn hiếm thấy, vì chẳng có ai có trời nào cứu họ lúc đó!
 
Ngày ấy, cha tôi còn mãi mê  đi kháng chiến còn lại chú Vô tôi ở nhà, lo việc đồng áng phụ ông bà nội tôi. Buổi tối, chú đi gác đê, canh sợ đê vỡ.
 
Bố mẹ chú mất cả rồi, từ cái năm đói Ất Dậu, ông tôi thương, mang về nuôi và cưới vợ cho chú, chú hiếu thảo tận tình với cha nuôi.
 
Chú Vô tôi rất hiền, có sức khỏe, và chú có ruộng vườn riêng, chú có tiền của riêng. Nhà chú ở sau đình làng, xung quanh nhà chú, chú trồng nhiều cây thầu dầu có hoa, lá màu tím tía rất vui đến lộng lẫy.
 
Chú có tiền và chú có thể thuê người trai tráng khác đi thay phần gác đê báo động, nếu muốn, nhưng lúc nào chú cũng tự đi gác để xem sự nguy hiểm khốn khó xẩy ra như thế nào… có lần chú nói giỡn là  chú là con bà Nữ Oa… bị ông nội la rầy.
 
Rồi không may là một lần ấy, chú tình nguyện sách đèn bão lên đê, thì nhà chú lại có sự cố bất ngờ xẩy ra, sự cố không thể đoán thấy trước được.
 
Đó là chiều hôm trươc, lúc ghi tên đi gác, chú đã tính bỏ cuộc, vì vợ chú là thím Vân, mang bầu hơn bẩy tháng, lại tự nhiên có dáng mệt mỏi, ì ạch của một người muốn khai hoa nở nhụy, cô đã tìm ra một bà mẹ đỡ. Và cô quả quyết bảo chú: «đi đi, đi gác đê với anh em đi!»
 
Chú ra đi mà lòng thấp thỏm. Suốt một buổi hôm, trên đê, gió lạnh thổi vù vù, những hàng cây chi chi, quả trái đỏ rơi rụng  rào rào… với trách nhiệm, chú luôn luôn phụ mọi người bê bao cát trấn chỗ đê bị nứt.
 
Rồi, ầm, đê vỡ toang, chú tung mình như mọi anh em khác, chạy về làng, vội vả như bị ma đuổi… ối trời ôi!
 
… Chẳng trời nào tới cứu kịp, họ phải chạy, mới có vài giây, nước ùn ùn tung tóe dồn tới theo sau, chú còn kịp nghe tiếng mõ khua vang vang đổ hồi từ một góc nào đó! Có nghĩa là mọi người phải chạy lên những ghồ, những ụ đất cao.
 
Chú xoay mình bẻ lái, rẽ nước, tiến, cố tiến tới phía đình là nơi đất cao hơn và có vợ chú ở đó. Chú hy vọng ra tới đó là gặp vợ, có thể có cả con chú, vừa sanh. Chú cứ quây trong nước như đi giựt lùi chú vùng vẫy, mãi sau chú cũng đến được sát đình làng. Hú hồn. Nước chạy lẹ hơn người rất nhiều…
 
Bao quanh đình, có nhiều cây nhãn, cây xoài cổ thụ, hàng bao năm, bao bọc sân gạch rộng, đã loang loáng ngập nước. Mấy hàng cây đó, giờ ngập lụt, chúng là phao cứu sinh. Người người đeo bám, ngồi, đứng, đu trên các cành rậm rịt…
 
Có người đang loi ngoi, trồi lên hụp xuống, có người này lôi kéo người kia. Khi nguy khốn, may thay có lòng trắc ẩn hiện ra.
 
Nửa ngày qua, gió đã êm, nước đã đứng, chú loay hoay kiếm vợ chú. Không thấy. Mà chú lại thấy ông Quản. Củng, bà Lý Căng và nhiều người quen, lối xóm, đang bấu víu trên góc nóc cổng Tam Quan.
 
Chú leo vào thềm cao, trên một bệ, đứng dòm, thì bất chợt, có một người, khoác áo mưa lá gồi, tiến tới, đưa vào tay chú một cái bọc vải, còn ươn ướt nước:
 
«… Này, vợ anh, cô Vân yếu đứng mãi, bám vào trạc cây, đã mỏi tay, rơi rồi, người ta vớt được đứa con anh đây, thôi, anh mang cháu về nuôi!» Còn người còn của!
 
… Chú Vô nuôi con một mình… trời thương, hoạn nạn qua đi, chú lại còn lại được đứa con gái, thật ngoan, thật xinh xắn.
 
Bấy giờ cháu đã lớn, đã 16 tuổi, chú đã nuôi dậy và yêu thương bù đắp cho con rất chu đáo, hẳn vợ chú rất vui lòng.
 
Rồi có một năm, thủy triều dâng cao đe dọa, nhưng sau này, việc bảo vệ đê điều kiên cố vững vàng hơn, nên nước có lên rồi có xuống, chú Vô và toán bảo vệ cũng già yếu theo tuổi, theo năm tháng.
 
Có một ngày, nước rút, còn khá trong, có rơi rớt vài giọt nắng vàng hiu hắt bên sườn đê. Chú Vô và con gái là bé Vi đi dạo ngắm cảnh xưa. Hôm ấy mà một ngày quan trọng, ngày giỗ vợ chú, một ngày tháng 7 mùa thu.
 
Cũng trong cái buổi hôm ấy, có một người đàn bà từ trên mặt đê cao, từ từ đi xuống, đi thoai thoải xuống, thấp hơn rồi tiến nhanh về phía chú Vô, bà ta chào và trao cho chú một tờ giấy cuộn tròn, bà bảo là đây là giấy khai sanh, làm lâu rồi, của con chú và con thím Vân, mà bẵng đi bao năm loạn lạc, mãi nay, may mà bà con tìm thấy. Trên khai sanh, con chú là con trai, tên cháu là Trần Văn Hùng.
 
Bà nói thêm bà là bà mụ, đêm ấy đỡ đẻ cho vợ chú, và theo lời nhờ cậy của mẹ đứa bé trai sơ sanh, ghi tên cháu là Trần Văn Hùng bà mụ nói mau, chào và vội vả đi thoăn thoắt lên cao, chú không kịp nói lời cảm tạ…
 
Tất cả là do sự linh ứng đưa đẩy, chú đã thầm hiểu, và rồi, chú đoán ra là mẹ chú nghiệm rất đúng: «con trai tay trái, con gái tay phải» hồi cô Vân mang thai, cô luôn nằm nghiêng ngủ nghiêng về bên trái!
 
Chú bàng hoàng, một chút sửng sốt, thì ra khi vợ chú ra đi, cô ấy đã bế theo thằng con trai mà hai vợ chồng đã nhiều lần bàn tính đặt tên cho con.
 
… Đúng là cả hai đã đồng ý đặt tên cho con là Trần Văn Hùng.
 
Chú yên lặng ngó sâu xuống đáy sông, lung linh đâu đó, chú lặng lẽ chào từ biệt bóng dáng thân yêu của hai người thân. Hôm nay là ngày giỗ của Vân và Hùng mới đó đã mười mấy năm qua đi qua đi…
 
Vân đã đi và Hùng cũng đã đi.
 
Ngay sau đó, giữa tan hoang đổ nát, thì bé Vi tới… cám ơn trời, lòng nhân ái khi nào cũng có mặt và không hề thiếu vắng trong mọi hoàn cảnh thương tâm…
 
Rồi bất chợt, con gái từ bờ bên kia đê, quay trở sang, gặp lại bố. Chú nhìn con, giọng đầy xúc động:
 
… Này, như là con càng lớn càng giống mẹ con… ngỡ gì, chớ điều đó, bố nói với con nhiều lần rồi… mà mình về nhà thôi, con đói bụng lắm!
 
Mùa Thu đầy lũ lụt 2025
Paris 12/10
Chúc Thanh
 

Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
Tình yêu không phải là thứ ngôn ngữ nói ra, mà là ngôn ngữ để giữ kín! Tôi đã chôn kín hình ảnh đẹp nhất một đời người. Bây giờ người con gái năm xưa đang ở đâu, sống ra sao trong vạn nẽo đường trần hệ lụy. Có còn nhớ cơn mưa bong bóng chiều nào nơi hiên ngôi chùa nhỏ? Có còn tìm thấy những cơn mưa bong bóng bên đời? Hay tất cả đã phôi pha, đã trôi theo những giọt mưa bong bóng một thời đã mất?
Sau khi đội chiếc mũ beret đen lên đầu ông Hậu bước ra ngoài, thấy lòng thoải mái hẳn ra, ở trong nhà này toàn là “luật lệ” ăn cơm đúng giờ, đi ngủ đúng giấc, con dâu “kiểm tra” ông từng tí một “Ủa hôm nay sao ba tắm trễ, tắm vào buổi tối dễ bị cảm lạnh đó ba.” Con trai cũng “để ý” ông từng tình huống: -“Tối qua ba thức khuya quá, 12 giờ đêm con dậy đi tiểu thấy phòng ba còn sáng đèn. Ba nên ngủ sớm dậy sớm tốt cho sức khỏe”. Ông có niềm vui với computer lúc đọc báo xem tin tức, xem you tube mọi đề tài, lúc nghe nhạc, lúc vào group trò chuyện với bạn bè gần xa, ngồi với computer cả ngày cũng chưa chán. Thế mà con cũng… phê phán.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.