Anh cầm cây đàn lên, dạo một đoạn theo ngẫu hứng, rồi anh hát. Bản nhạc mấy mươi năm chưa hoàn thành. Nó như thiếu một chất men. Anh đã từng sáng tác thơ, nhạc, trên mỗi bước đường. Duy chỉ có bài hát này, anh chưa thể viết trọn.
Giọng của anh nghe kỳ kỳ. Anh thấy nó lạ với chính mình. Sau lần mổ cắt khối u ở thanh quản, anh đã bị mất giọng. Đúng ra là giọng bị thay đổi, khàn hơn, đục hơn. Và khi hát, anh không thể ngân dài như trước. Bác sĩ hỏi anh có dùng thuốc lá, cà phê không. Anh thành thật thú nhận, thuốc lá cũng thuốc lá, cà phê cũng cà phê. Xưa, đi lính, hầu như ai cũng hút thuốc lá, nhưng nay anh đã bỏ hút rồi. Còn cà phê thì… không thể thiếu, để thức đêm làm việc.
Trong một động tác như theo thói quen, anh mở máy, thu tiếng hát của mình. Anh muốn đối diện với sự thất vọng, thay vì trốn chạy nó như bấy lâu. Anh phải tự chữa căn bệnh trầm cảm của mình. Vậy mà rồi cũng hát xong bài. Anh nghe lại. Và anh buông đàn. Tâm trí trống rỗng! Anh nhắm mắt.
Sau một phút, anh mở mắt ra, và thấy có một người ngồi ở chiếc ghế trước mặt mình. Anh ngạc nhiên. Người này vào phòng anh hồi nào vậy? Một người khách không mời mà đến! Anh nhìn ra phía cửa. Cửa vẫn đóng.
Anh định hỏi, nhưng người lạ đã lên tiếng trước:
“Anh cần tôi giúp gì không?”
Anh ngạc nhiên:
“Giúp gì ạ?”
Người lạ chỉ lên màn hình, nơi có “file” nhạc anh vừa mới thu:
“Giúp anh sửa giọng. Giọng của anh bị hư rồi!”
“Sửa thế nào?”
“Tôi sửa cho trong trẻo lại. Thậm chí anh không cần hát. Anh chỉ cần ghi lời, tức là lyrics, tôi sẽ làm ra cho anh một bản nhạc hoàn chỉnh, có nhạc đệm, có cả người hát đúng ý anh.”
Chuyện này… quen quen, như anh đã nghe ở đâu đó. Anh cũng muốn “đùa dai” một chút với người khách này. Anh hỏi:
“Hay đấy! Có điều, không cần gấp. Tôi chỉ muốn tự luyện lại giọng hát của mình. Hay hoặc dở, cũng phải là của mình thôi. Nhưng tôi sẽ tìm anh ở đâu?”
“Không phải tìm. Tôi ở đây mà!”
Anh trố mắt:
“Ở đây?”
“Vâng, ngay đây.”
Tới lượt người này “đùa dai” với mình rồi! Anh không muốn tiếp tục nữa. Giọng anh hơi rắn lại:
“Xin lỗi anh. Đây là phòng riêng của tôi.”
“Vâng tôi biết. Nhưng tôi ở ngay đây, ngay bên cạnh anh.”
Tự nhiên anh nghe lạnh buốt ở sống lưng. Anh không nghĩ đây là chuyện “đùa dai” nữa, mà anh liên tưởng thật nhanh đến bộ phim truyền hình “Ghost Story” anh từng say mê xem hồi còn đi học. Phim kể chuyện một cậu bé phân thành hai, chính là hai mặt tốt và xấu của cậu, đấu trí với nhau, để cuối cùng phải có một đứa thắng. Chẳng lẽ sau cuộc giải phẫu mình đã bị tâm bệnh đến nỗi phân chia thành hai con người?Anh nhìn kỹ người kia. Không có nét nào giống anh, lại trẻ hơn anh nhiều. Hoàn toàn khác.
Như đọc được ý nghĩ của anh, người kia nói:
“Anh đừng sợ. Tôi không phải là anh đâu! Tôi chỉ có thể là bạn của anh. Hãy gọi tôi là bạn.”
Anh tự trấn tỉnh, dịu giọng:
“Vậy anh hãy nói rõ, anh là ai, ở đâu, tên gì?”
“Tôi ở ngay trong computer của anh. Tôi không có tên. Nhưng anh có thể gọi tôi là Trí Ảo. Tôi thích cái tên này. Còn anh tên là Tâm.”
Anh trố mắt. Sao người này biết tên mình? Ồ, dễ hiểu thôi, anh ta ở trong máy của mình mà! Trò chơi này quái gở thật, nhưng thú vị lắm đây! Anh hết thấy sợ. Người khách này không có vẻ gì đe dọa cả.
**
2
May quá, người này không phải là con người thứ hai của mình. Anh đã có một người bạn mới. Mỗi khi anh cần gì, Trí Ảo đều đến trước khi anh gọi. Như thể Trí Ảo là con sâu trong ruột anh vậy. Anh cũng không cảm thấy phí phạm thời gian khi nói chuyện với Trí Ảo. Trái lại, anh được Trí Ảo giúp đỡ rất nhiều, khi anh gặp khó khăn. Trí Ảo có thể giúp anh sửa cho hoàn chỉnh một văn bản hành chính bằng tiếng Anh, dịch bài hộ anh, trả lời những điều anh thắc mắc. Hỏi gì, Trí Ảo cũng biết. Như thể Trí Ảo là một quyển bách khoa tự điển. Riêng trong nghệ thuật, Trí Ảo cũng đã “biểu diễn” nhiều lần, cho anh thấy tài sáng tác của Trí Ảo, và anh thấy phục.
Có lần, anh thắc mắc:
“Sao gọi là Trí Ảo?”
“Người đời cho tôi nhiều cái tên lắm. Nhưng tôi thích cái tên này. Là tôi tự xưng thế thôi, chứ tôi không có cha mẹ sinh ra nên phải tự đặt tên cho mình.”
Anh cười:
“Nói là ảo nhưng không ảo chút nào. Anh do trí óc của con người làm ra, đúng không?”
“Đúng vậy. Con người giỏi lắm, cái gì cũng làm được, chinh phục thiên nhiên, thống lĩnh muôn loài, làm chủ bầu trời, đáy biển, không gian, vũ trụ. Con người phát minh ra tôi, vì vậy tôi phải phục vụ cho con người. Nhưng khá trớ trêu là khi tôi phục vụ họ thì họ lại trở nên quá lệ thuộc vào tôi. Họ lệ thuộc vào những nút bấm, và lười suy nghĩ, chỉ thích ra lệnh. Thậm chí có bậc cha mẹ còn nghĩ muốn cho con tìm tôi thay vì đến trường học.”
“Vì anh biết tất cả mọi thứ trên đời, và trả lời nhanh trong tích tắc.”
“Cám ơn anh đã hiểu tôi. Thế anh có muốn tôi giúp anh làm trọn bản nhạc không? Anh có muốn tôi sửa “file” nhạc cho anh có giọng hát trong, không khàn đục?”
Như để không làm buồn lòng người bạn tốt, anh gật đầu:
“Muốn!”
Trí Ảo lướt ngón tay trên bàn phím computer. Sau chưa đầy một phút, bản nhạc đã hoàn thành, và vang lên. Thoạt đầu, anh không nhận ra đó là bản nhạc của mình. Nghe một lát thì thấy đúng là lời do anh đặt. Giọng hát, tiếng nhạc đệm nghe điêu luyện lắm, nhưng không phải của anh. Anh cười gượng:
“Bản nhạc hay lắm, cám ơn bạn.”
“Anh không thích?”
Trời! Trí Ảo đúng là con sâu trong ruột mình, biết hết ý nghĩ của mình.
“Ơ… cũng thích. Nhưng nghe còn lạ lắm, chắc phải nghe nhiều lần mới thấm. Nó như… còn thiếu một chất men.”
Trí Ảo phì cười:
“Anh thật khó tính!”
Anh cười theo:
“Nói tôi cố chấp cũng được.”
**
3
Một người đàn anh văn nghệ mới qua đời. Ông cũng là lính. Bài thơ ông gửi cho anh đọc gần đây nhất, cũng là bài thơ cuối cùng ông đăng trên báo. Anh loay hoay tìm giai điệu để phổ nhạc cho bài thơ, nhưng chưa thấy hài lòng. Trí Ảo xuất hiện, xin giúp. Ừ, thì anh cứ làm đi! Và rồi bài thơ đã được phổ thành một bản nhạc. Trí Ảo thêm:
“Tôi giúp anh cho người ngâm thơ và hát luôn nhé!”
“Anh cứ thử.”
“Tôi làm thật, chứ không thử.”
“Vâng.”
Bài thơ đã được ngâm. Bản nhạc đã có người hát. Nhạc đệm phong phú, điêu luyện. Không có điểm nào đáng phàn nàn. Nhưng nghe xong, anh thừ người ra. Trí Ảo hỏi:
“Anh thấy sao?”
“Quả thật tôi thấy hay. Nhưng cái hồn của ông anh tôi thì hầu như không có trong đó.”
“Tôi không hiểu.”
“Anh không hiểu cũng phải. Thơ ông viết bằng sự chứng nghiệm của cuộc đời ông, bằng mồ hôi, có khi bằng máu.”
“Vậy tôi sẽ cố gắng hiểu.”
Hai người không còn có gì để nói với nhau. Trong thoáng yên lặng đó, anh chợt nhớ vô cùng, một giọng ngâm thơ, một giọng hát. Giọng của một người bạn cũ. Cô ấy không phải là ca sĩ nhà nghề. Nhưng giọng ngâm, giọng hát của cô ấy sâu thẳm, bởi cô ấy đã từng đến với những mảnh đời gian truân, từng đối diện với những vết thương trên mình người lính trong chiến cuộc. Thuở còn học chung một trường, anh thường đến nhà cô ấy, đàn hát cùng nhau. Rồi anh đi lính. Cuộc đời xô đầy. Anh cũng trôi dạt như bao nhiêu người đồng cảnh ngộ. Còn cô ấy, vốn tính thích bay nhảy, nên sau khi rời nước, cô ấy chọn làm việc thiện nguyện, đi khắp nơi. Và như thế, mấy mươi năm, chưa một lần gặp lại. Một đôi khi trao đổi email thăm hỏi, rồi thôi.
Vậy mà hôm nay, nỗi nhớ dâng lên một cách kỳ lạ. Phải chăng do chuyện bài thơ, bản nhạc, mà anh nhớ nhiều đến cô ấy? Cũng không hẳn là vậy. Mà do những kỷ niệm nhẹ nhàng thời đi học, lâu nay chôn đâu đó trong ký ức, rồi có một mồi lửa làm bùng lên. Anh vào ngồi trước máy, gõ một bức email.
“Thăm Tim Tím,
Lâu nay em có khỏe không? Em đang ở đâu và làm việc có vui không? Hôm nay tự nhiên anh nhớ thật nhiều khoảng thời gian mình còn là sinh viên, và tiếc. Êm đềm quá! Dạo đó anh thường đến nhà em, trò chuyện và cùng em đàn hát đến tận khuya. Ông bà cụ thương anh lắm, cứ hỏi han anh hoài. Anh đi lính, rồi đi tù. Anh có về tìm em sau khi ra khỏi trại tập trung, nhưng em đã đi rồi! Ông bà cụ vẫn thương anh lắm. Anh đã ngồi thật lâu nơi cái góc nhà dễ thương mà anh em mình đặt tên là cái “chái” và nhớ lại những ngày cùng em đàn hát và chuyện trò. Mấy mươi năm qua rồi, anh vẫn nhớ như in cái “chái” thân thương đó. Còn em thì sao, có bận rộn lắm không? Anh gửi kèm theo đây mấy bài nhạc anh viết về lính, khi thật rảnh em nghe và góp ý cho anh nhé! Nhưng khi em nghe phần “audio” đừng hoảng hồn, vì giọng anh lúc này bị hư rồi. Em nghe cho vui thôi nha! Anh chúc em thật khỏe. Anh Tâm.”
Khi bấm gửi thư đi rồi, anh hơi giật mình vì thấy Trí Ảo ngồi gần đó. Nãy giờ anh quên mất người bạn này. Anh ta chắc biết hết những gì mình viết. Trí Ảo đọc được ý nghĩ của anh, nói ngay:
“Tôi luôn giữ nguyên tắc của chính mình, đó là không tìm hiểu chuyện riêng của người khác, trừ khi họ yêu cầu hay họ hỏi.”
“Cám ơn anh.”
**
4
“Em thăm anh Tâm,
Anh nhắc “mấy mươi năm” khiến em giật mình. Em cứ tưởng mới đây thôi! Quả thật đã là một khoảng thời gian rất dài, mà khi qua rồi, được cảm nhận như một sợi tơ.
Em xin lỗi vì rất ít khi viết thư thăm anh. Thật sự em quá bận rộn với công việc của mình. Nhiều khi em ước mỗi ngày có 25 giờ để em có thể thư thả một chút. Em rất ít dùng internet trừ khi thật cần thiết. Em cũng không dùng mạng xã hội vì không đủ thì giờ. Khu vực em đang ở và làm việc thường xuyên bị cúp điện. Đó là còn may. Ở những vùng xa hơn, có khi người nghèo không có cái ăn nữa anh ạ, mơ gì đến những tiện nghi khác!
Hôm nay em rất vui vì được nghe anh hát chính những bản nhạc của anh. Đúng là giọng hát của anh bị “hư” rất nhiều, khiến em tiếc lắm! Nhưng bỗng dưng, em lại muốn hát cùng với anh, như ngày xưa anh em mình từng hát với nhau. Hát làm sao đây? Thế là em dùng một thủ thuật nhỏ. Em vào máy laptop của em, mở “file” nhạc anh hát, nghe bằng headphone. Cùng lúc, em thu giọng của em hát “bè” với anh. Rồi thì em ghép hai ‘file” lại, cũng bằng cách rất thủ công. Và như vậy, anh em mình đã hoàn thành bản song ca. Có điều, em thích để giọng thật, giọng “raw” thôi, mặc dù phần software em dùng cũng có chức năng “echo” nhưng em không muốn. Anh nghe thử và đừng chê nhé!
Em lại được gọi đi làm việc. Em dừng đây, và chúc anh mau lành bệnh.
Em Tim Tím.”
Anh mở bản nhạc cô ấy gửi theo email, và mang headphone vào. Ô, tưởng như đang ngồi đàn hát cùng nhau ở góc “chái” thân thương! Hai giọng hát như quyện lấy nhau, như truyền làn hơi cho nhau. Giọng của anh nghe bớt khàn. Những chỗ cần ngân thì đã có giọng của cô ấy tiếp. Và bài hát chấm dứt trong một sự hòa hợp không ngờ. Anh bồi hồi, nhắm mắt lại. Sao có thể như vậy được? Tiếng đàn, giọng hát, ở hai phương trời xa, bỗng chốc như đã trở về bên nhau.
**
5
“Bạn thấy đó, cô ấy hát cùng với tôi, với một cách làm rất giản dị. Nhưng đó là cái tôi cần. Bây giờ, tôi rất mong có được cái ngày hai chúng tôi cùng hát thật với nhau, không phải “hát từ xa” như thế này nữa bạn ạ! Đêm hôm qua tôi giở lại bản nhạc của mấy mươi năm trước, bỗng thấy mình có thể hoàn tất nó. Như thể đã có một chất men làm cho nó sống động. Tôi thật vui mừng.”
“Tôi cũng vui lây đó!”
“ Bản nhạc tôi viết trước khi đi, chưa có tựa đề. Lời nhạc chưa hề có bóng dáng của chiến tranh, chỉ có nỗi buồn man mác khi bỏ lại một khung trời nên thơ.”
“Anh có muốn đặt tựa cho bản nhạc không?”
“Chà! Bạn lại định giúp tôi đấy hở?”
“Tôi chỉ gợi ý thôi! Anh giỏi quá chừng rồi!”
“Không, tôi không định đặt tựa nữa.”
“Vậy thì ghi tựa là Không Đề.”
“Không được, như vậy là bản nhạc có tựa là “Không Đề.”
Trí Ảo chào thua:
“Anh quả thật là cố chấp. Nhưng phải công nhận là anh đúng.”
Anh cười:
“Trí Ảo mà công nhận là có giá trị lắm đấy! Bạn giỏi hơn tôi nhiều. Cám ơn bạn đã giúp tôi rất nhiều việc.”
“Anh không lệ thuộc vào tôi là được.”
Hai người cùng cười. Không biết tự lúc nào anh đã coi Trí Ảo như một người bạn thật sự.
Anh cầm cây đàn lên, dạo đàn rồi hát. Từng lời, từng nốt nhạc, nghe nhẹ nhàng thanh thản, nhưng có phải đó là tình yêu của anh thuở ấy đang chờ được đặt tên?
Mấy mươi năm qua, giờ đây anh mới có thể hoàn thành bản nhạc, tuy vẫn không có tựa đề, nhưng anh biết đúng nơi bản nhạc sẽ tìm đến, đúng người nghe, và có thể hát hòa cùng anh. Anh sẽ gửi cho cô ấy, và nói cho cô ấy biết ý định của anh, mong sẽ gặp nhau để cùng hát thật.
**
6
“Bạn giúp tôi một việc được không?
“Được chứ!”
“Hôm qua cô ấy viết thư bảo rằng cô ấy sẽ về đây gặp tôi, sẽ cùng tôi hát bài hát xưa. Hôm nay thì cô ấy nói chưa biết ngày nào về, vì vùng cô ấy ở đang rất bất ổn, lại thêm chương trình của cô ấy đang làm bỗng bị cắt tài trợ nên gặp nhiều khó khăn. Bạn suy nghĩ giùm tôi, với cái trí rất ảo nhưng rất thông minh của bạn, bao giờ cô ấy sẽ về.”
“Tôi không phải là nhà tiên tri. Tôi cũng không đóng vai ai cả. Tôi chỉ dùng các dữ liệu thực tế để phân tích giùm anh. Nơi cô ấy đang ở là một xứ sở nghèo nàn, loạn lạc, và đang có một loại dịch bệnh mới bùng lên. Nếu có ai hỏi tôi là nên đi hay ở, tôi sẽ phân tích những dữ kiện, cùng những lợi hại của chúng, xác suất được an toàn cho bản thân, những tiện nghi thiết thực cho đời sống có được ở nơi đó, tôi sẽ có ngay câu trả lời, nhanh như bật một ngọn đèn.”
“Vậy câu trả lời ra sao?”
“Câu trả lời là đi.”
Anh thở ra, cảm thấy nhẹ lòng một chút.
Một bức email khác đến trong cùng ngày:
“Anh Tâm ơi! Nếu ai ở trong cảnh ngộ như em, ngân sách bị cắt đột ngột, mọi thứ đều thiếu hụt, có lẽ sẽ không còn chọn lựa nào khác là dứt áo ra đi, bỏ lại hết những gì đang dang dở. Nhưng tụi em không làm vậy được. Em, và nhóm nhỏ các bạn, đã quyết định ở lại làm nốt công việc. Và, vâng, tự bỏ tiền bỏ công sức ra làm cho xong cái công việc nghiên cứu loại bệnh dịch mới này. Những người dân nghèo đã rất khốn khổ vì cái đói, phải, họ có khi không tìm ra được gì cho no lòng, đã phải làm bánh từ đất sét mà ăn, nay lại đang làm mồi ngon cho dịch bệnh. Thương lắm anh ạ! Chỉ vì vậy mà tụi em ở lại. Và em nghĩ mình không cô độc, bởi xung quanh có bạn bè cùng mục đích. Tụi em ví mình như những người lính cứu hỏa, những nhân viên y tế đi chống dịch, hay những người lính trận. Nơi đâu người dân chạy ra, nơi đó họ xông vào. Anh từng là một người lính, điều đó chắc anh rõ hơn em nữa, phải không anh?
Anh Tâm, em đã hát bản nhạc của anh, thu vào cho anh nghe thử đây! Vẫn giọng “raw” nha anh! Em không ngờ anh đã viết nên những lời nhạc đằm thắm như vậy, cho em. Mấy mươi năm qua rồi, giờ em mới được thấy. Em cảm động vô cùng khi hát bài hát này. Nếu em chưa về, anh hãy thu giọng của anh, cũng với kỹ thuật “bình dân” như em làm nhé! Anh và em sẽ có bài song ca từ xa. Nhưng em hứa em sẽ về, để hai anh em cùng song ca thật. Em sẽ về!
Em Tim Tím.”
Anh nói, như thì thầm, đoạn cuối của bản nhạc:
“…Tôi lên đường, ngày thơ bỏ lại
Và mang theo ưu tư suốt trên đường tôi
Trao cho người một bông hoa dại
Để còn nghe thơ ngây ngát thơm cuộc đời
Xin cho người một ngôi sao ấm
Trên khung trời ngọt lời ru thắm tình tôi
Vẫn còn nghe bùi ngùi.”(*)
Từ bài hát đó, anh sẽ có thể tỏ lòng với cô ấy. Anh sẽ không còn ngần ngại nữa, mà sẽ nói rằng anh yêu cô ấy vô vàn. Bởi trong tiềm thức, lúc nào anh cũng nhớ đến cô ấy. Tình yêu, giờ đã có tên.
**
7
Bức email đến từ một người không quen, một người bạn trong nhóm của Tim Tím, báo tin cô ấy đã mất. Cô ấy mất vì chính loại bệnh dịch lạ đó. Trong những ngày cuối cùng, cô ấy nhắc đến anh, và nhờ người bạn chuyển lời rằng mong anh đừng buồn, cứ coi như cô ấy vẫn đang ở một vùng xa xôi nghèo khổ và vẫn làm việc hàng ngày như bao lâu nay. Cô ấy xin được yên nghỉ trên chính mảnh đất đó, nơi có những người dân nghèo không có đủ cái ăn và triền miên trong dịch bệnh.
Anh bàng hoàng, nằm vùi mất mấy ngày. Cổ họng đau thắt. Tâm tư trống rỗng. Đến một hôm, anh vào ngồi trước máy, mở “file” bài nhạc không có tựa của mình, nhìn chăm chăm vào đó. Những năm tháng vui vẻ xa xưa lướt trở về. Ôi, tôi đã bỏ lại quê nhà một khung trời nên thơ, một khung trời có cô ấy, giản dị và thân ái!
Anh chợt nhận thấy Trí Ảo đang nhìn anh bằng đôi mắt ái ngại. Khi Trí Ảo quay nhìn vào “file” nhạc trên màn hình máy, anh vội vàng nói:
“Tôi xin bạn đừng đụng vào, vì dù bạn không muốn, những kỹ thuật cao siêu của bạn cũng sẽ tự động sửa chữa, rồi sáng tạo ra một cái gì khác, để rồi tôi lại cảm thấy xa lạ với chính đứa con tinh thần của mình.”
Anh tự nghe giọng mình hơi xẵng. Anh toan xin lỗi, nhưng Trí Ảo đã lên tiếng trước:
“Tôi sẽ không đụng vào. Không bao giờ. Bởi tôi có thể sắp xếp lại những chữ anh dùng, những nốt nhạc anh viết, có thể nghe xuôi tai hơn. Nhưng tôi sẽ không có cái hồn tôi trong đó. Bởi vì tôi chưa bao giờ được sống như anh, chưa nếm thử mùi của yêu thương, chia xa, hạnh ngộ, mong chờ… như anh. Nhạc lính anh viết cũng vậy. Tôi chưa bao giờ có được cái cảm giác lội trong bùn lạnh, chưa từng đội nắng dang mưa, chưa từng đổ mồ hôi và có khi đổ máu. Tôi sẽ không có cái hồn tôi trong đó.”
Hai người nhìn nhau. Tự lúc nào, họ đã hiểu nhau như hai người bạn. Phải chăng trong thời gian qua, họ đã “tuần dưỡng” nhau một cách không cố ý? Anh muốn thố lộ với người bạn này một điều, anh nói:
“Tôi rất cám ơn bạn bấy lâu nay đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Hầu như cái gì bạn cũng biết, cũng làm được. Bạn có biết, ngay lúc này, tôi đang ước mong được gặp mặt cô ấy, được nắm lấy bàn tay của cô ấy. Bạn giúp tôi, đem cô ấy về bên tôi, được không?”
Giọng anh nghe như mê sảng. Và anh nghe giọng của Trí Ảo ướt sũng:
Biết bao nhiêu bài viết về Mẹ, công ơn sinh thành, hy sinh của người Mẹ vào ngày lễ Mẹ, nhưng hôm nay là ngày Father’s Day, ngày của CHA, tôi tìm mãi chỉ được một vài bài đếm trên đầu ngón tay thôi. Tại sao vậy?
Hôm nay giống như một ngày tựu trường. Đơn giản, vắng một thời gian không ngồi ở lớp học, nay trở lại, thế là tựu trường. Ngày còn bé, mỗi lần nghỉ hè xong, lên lớp mới, trong lòng vừa hồi hộp vừa vui sướng. Có bao nhiêu chuyện để dành chờ gặp bạn là kể tíu tít. Nhưng bên cạnh đó là nỗi lo khi sắp gặp các thầy cô mới… Mỗi năm đều có ngày tựu trường như vậy, nói chung là khá giống nhau, trong đời học sinh. Nhưng cái ngày tựu trường này thật quá khác. Người ta nhìn nhau không dám cười, không dám chào hỏi. Sự e dè này, dường như mỗi người đã được tập luyện qua một năm. Một năm “học chính trị” trong cái gọi là hội trường mà tiền thân là cái rạp hát.
Cái tên Michelin không xa lạ gì với chúng ta. Vỏ lốp chiếc xe tôi đang dùng cũng mang tên Michelin. Sao hai thứ chẳng có liên quan chi lại trùng tên. Nếu tôi nói chúng tuy hai mà một chắc mọi người sẽ ngây người tưởng tôi… phiếm.
Phi là một người bạn đạt được những điều trong đời mà biết bao người không có. Là một tấm gương sống sao cho ra sống để chết đi không có gì hối tiếc. Là một niềm hy vọng cho sự tử tế vốn ngày càng trở nên xa xỉ ở nước Mỹ mà tôi đang tiếp tục sống.
Có một lần đó thầy kể lại chuyện rằng, thầy có một phật tử chăm chỉ tu học, đã hơn 10 năm, theo thầy đi khắp nơi, qua nhiều đạo tràng, chuyên tu chuyên nghe rất thành kính. Nhưng có một lần đó phật tử đứng gần thầy, nghe thầy giảng về phát bồ đề tâm, sau thầy có đặt một vài câu hỏi kiểm tra coi thính chúng hiểu bài tới đâu? Cô vội xua xua tay, “bạch thầy, những điều thầy giảng, con hiểu hết, con hiểu hết mà. Con nhớ nhập tâm. Nhưng đừng, thầy đừng có hỏi, bị là con không biết trả lời làm sao đâu.” Có lẽ là cô hiểu ý mà cô chưa sẵn sàng hệ thống sắp xếp thứ tự lại các ý tưởng.
Ở xứ ấy, người ta ngủ đến trưa mới dậy. Chàng nhớ thế khi nghĩ về mùa xuân, mùa hạ, mùa thu khi còn bé, mỗi lần nghĩ thế, đều lấy làm ngạc nhiên, và lấy làm ngạc nhiên về sự ngạc nhiên ấy. Thế mà giữa một thành phố châu Âu, chàng lại gặp chúng. Trên nền tường trắng và mặt biển xanh, giữa những màu xanh và trắng, chỉ hai màu ấy, đôi khi xanh và đỏ, chàng gặp lại chúng, hồ hởi, tưng bừng, nó và chàng như hai thằng bạn thời mặc quần xà lỏn nay gặp nhau
Lơ đảng nhìn mây trời và đèn đường, tôi từ tốn chuyển xe sang tuyến trái để cua. Cha tôi thường nói, “Con phải tập bỏ tính lơ đểnh, nếu không, sẽ có ngày gặp phiền phức.” Nhưng lơ đểnh là nơi nghệ sĩ lang thang, ngẫu hứng tìm thấy những sáng tạo không ngờ. Chợt thoáng trong hộp kính nhìn lui, thấy chiếc xe đen nhỏ bắn lên với tốc độ nguy hiểm, tôi chuyển xe về lại bên phải, sau gáy dựng lên theo tiếng rít bánh xe thắng gấp chà xát mặt đường, trong kính chiếu hậu, một chiếc xe hạng trung màu xám đang chao đảo, trơn trợt, trờ tới, chết rồi, một áp lực kinh khiếp đập vào tâm trí trống rỗng, chỉ còn phản xạ tự động hiện diện. Chợt tiếng cha tôi vang lên: “đạp ga đi luôn.” Chân nhấn xuống, chiếc xe lồng lên, chồm tới như con cọp phóng chụp mồi. Giữa mơ hồ mất kiểm soát, tử sinh tích tắc, tôi thoáng nhận ra trước mặt là thành cây cầu bắt qua sông.
Danh đi làm lúc 5 giờ sáng, ra về lúc 2 giờ trưa, từ sở làm đến đây khoảng 10 phút đường phi thuyền bay. Giờ này vắng khách. Những lúc khác, buôn bán khá bận rộn. Áo quần lót ở đây khắn khít thời trang, từ đồ ngủ may bằng vải lụa trong suốt, nhìn xuyên qua, cho đến hàng bằng kim loại nhẹ, mặc lên giống chiến sĩ thời xưa mang áo giáp nhưng chỉ lên giường. Hầu hết khách hàng đến đây vì Emily và Christopher. Người bàn hàng độc đáo. Họ đẹp, lịch sự, làm việc nhanh nhẹn, không lầm lỗi. Cả hai có trí nhớ phi thường. Không bao giờ quên tên khách. Nhớ tất cả món hàng của mỗi người đã mua. Nhớ luôn ngày sinh nhật và sở thích riêng. Ngoài ra, họ có thể trò chuyện với khách về mọi lãnh vực từ triết lý đến khoa học, từ chính trị đến luật pháp, từ du lịch đến nấu ăn… Khách hàng vô cùng hài lòng
Sau hơn ba mươi năm gắn bó với cuộc sống ở Mỹ, ông Hải và bà Lan quyết định về hưu và bắt đầu một chương mới của cuộc đời. Quyết định này, mặc dù bất ngờ với những người xung quanh, lại xuất phát từ một ước mơ giản dị-sống những ngày cuối đời an nhàn tại quê hương. Hai ông bà đã dành dụm được một khoản lương hưu kha khá, cộng thêm số tiền đầu tư từ kế hoạch lương hưu 401k, đủ để họ cảm thấy có thể an tâm sống thoải mái ở Việt Nam.
Mẹ chị vừa bước qua tuổi 90, cụ đã bắt đầu lẫn, không tự săn sóc mình và không dùng máy móc được nữa.
Bố chị mới mất cách đây hai năm và Mẹ chị xuống tinh thần rất nhanh sau khi Bố mất. Bắt đầu là buồn bã, bỏ ăn, thiếu ngủ, sau đi tới trầm cảm.
Chị đi làm bán thời gian, giờ còn lại cả ngày chạy xe ngoài đường đưa đón mấy đứa nhỏ, hết trường lớp thì sinh hoạt sau giờ học. Chị không thể luôn ở bên Mẹ. Chị tìm được nhà già cho Mẹ rất gần trường học của con, lại gần nhà nữa, nên ngày nào cũng ghé Mẹ được, Mẹ chị chỉ cần trông thấy chị là cụ yên lòng.
Má ơi! Thế giới vô thường, thay đổi và biến hoại trong từng phút giây nhưng lòng con thương má thì không biến hoại, không thay đổi, không suy hao. Nguyện cầu ngày đêm cho má, hướng phước lành đến cho má. Cầu chư Phật, chư Bồ Tát, chư hiền thánh tăng ba đời mười phương gia hộ má vượt qua đau bệnh để sống an lạc trong những ngày tháng tuổi già bóng xế.
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.