Hôm nay,  

Viết cho Hòa Bình

20/02/202600:00:00(Xem: 1878)

Walk-For-Peace
 Mười chín nhà sư “đi bộ vì hòa bình” ghé Richmond ngày 3 tháng 2,
vạn dân đổ ra chào đón.
 
Từ hồi tiền sử con người sống có lúc cũng yên lành, sau đó dần dần cũng tranh giành quyền lợi vật chất và ảnh hưởng quyền lợi hơn thua với nhau nên dần dần càng về sau, họ không ở yên bên nhau nữa… mà sanh ra chống chọi nhau, chống đối hơn thua để sống… mạnh được yếu thua. Ngoài việc chống đối với nhau, còn phải chống đối với thú dữ… với thiên nhiên, từ đó cuộc sống là một cuộc chiến không ngừng, mệt mỏi… mệt mỏi quá thì mơ tưởng và mong ước hòa bình.
 
Nước Việt Nam chúng ta gần như là trải qua cả một thế kỷ lặn lội trong chiến tranh. Bây giờ thì tàn cuộc chiến, mà có hòa bình đâu? Vẫn rối loạn trong mọi tình huống.
 
César đã nói rằng muốn hòa bình phải sửa soạn chiến tranh. Không hiểu César nói câu này có thiệt đúng không? Hay là muốn hòa bình phải sửa soạn cho quốc gia một quân đội hùng mạnh để tự vệ?
 
Cho đến nay, gần như phần lớn các quốc gia trên thế giới đều đang sửa soạn chiến tranh trước thái độ hung hăng gờm gờm tấn công của ông tổng thống D. Trump. Đã bao nhiêu lần nhân loại sửa soạn chiến tranh để chờ đón hòa bình. Nhưng như là hòa bình đang trở thành giấc mơ xa vời của nhân loại… y hệt phần nào giấc mơ của một ngài tổng thống cứ dài cổ vẩn vơ trông đợi giải Nobel hòa bình!
 
Từ bao lâu nay, qua hai cuộc thế chiến tương tàn, từ các trại tập trung, lò sát sinh người của Đức Quốc Xã, những Goulas của Nga, sự tàn sát hàng loạt ở Cam Bốt, mồ chôn tập thể ở Huế với Giải Khăn Sô ở Nhã Ca chưa hề phai mờ, tất cả tạm đã qua đi nhưng cộng sản vẫn tồn tại ở Nga, Tàu, Việt Nam v.v… vậy là sao?  Là hòa bình không phải là chấm dứt của chiến tranh.
 
Hòa bình thưa không phải ở đầu môi chót lưỡi, hòa bình phải đến từ trong tâm, trong tim óc của mỗi con người của cả hai bên.
Thưa nói theo ý niệm của tôn giáo, hòa bình đến từ thiện tâm của con người. Nếu chấp nhận anh em như thể tay chân, hay tứ hải giai huynh đệ thì mới có hòa bình.
 
Tư tưởng tam vô của cộng sản chỉ là luận điệu tuyên truyền nhằm chối bỏ cái tôi rất hữu hạn của Marx. Nếu chấp nhận ngã chấp dù ít nhiều cũng không thế nào có sự tương giao giữa người với người.
 
Ngã chấp của cộng sản chì là ảo tưởng, vì một ngã lại trở về một ngã và chủ trương ý chí quyền lực làm nên ta.
 
Do đó Nietzsche đã viết rằng tất cả nhân bản, vật bản tự nhiên và nhân đạo mà con người nhân danh điều đó mà hành động đều làm trò điên loạn để nghĩ rằng ý chí và quyền lực ta làm nên ta.
 
Nietzsche phá bỏ sự lũng đoạn đó và tóm tắt lại: mọi sự đều là hư vô.
 
Quan điểm này đến rất gần với tôn giáo.
 
Hòa bình chỉ đến khi con người thế gian biết hòa thuận.
 
Khi nào con người biết thuận với trời, hòa với người như Mạnh Tử nói thì lúc đó nhân loại mới có hòa bình.
 
Hòa bình rất khó có trong thế giới loài người khi mà con người không nhân chi sơ tính bản thiện. Vì sao ư? Vì chúng ta còn đầy rẫy tham sân si. Vì cái tham sân si đó mà Đức Phật và chúa Giêsu luôn phải kêu gọi phật tử và con chiên phải dứt bỏ các thói xấu đó đi để tiến tới giải thoát hòa bình.
 
“Thương người như thể thương thân“ các đấng thượng đế khuyên bảo chúng ta hãy quên cái ngã phù phiếm cá nhân tham sân si, để siêu thoát hòa đồng trong cái đại ngã của nhân loại, vậy tóm lược hòa bình không phải là sửa soạn chiến tranh, mà là chuẩn bị tâm tư tính bản thiện, để thoát ra cái ngã tôi một mình, mà đi vào cái ngã chung cuộc với thân tình với tất cả anh em, bạn bè, quyến thuộc xung quanh ta!
Thưa bạn,
Có lẽ là C.T đang đại ngôn rồi đó, chẳng qua là đọc sách rồi tóm lược lại lơ mơ như thế đó, có chỗ đúng, có chỗ sai, xin quý bạn lượng tình miễn chấp cho. Đa tạ.
 
Mà C.T cũng nhiều lời lắm lẽ, tiện đây C.T xin mạo muội kể hầu bạn nghe một câu chuyện,  đúng có đúng, mà ngô nghê có ngô nghê, đến ngố, ngố một vẻ chân phương.
 
Số là C.T có một ông anh họ, con bác cả, anh tên là Thép. Anh Thép có duy nhất một người anh trai, còn rớt lại ngoài Bắc, sau cuộc di cư vĩ đại lánh nạn cộng sản 1954.
 
Anh ruột của anh Thép tên là Thiếc. Sau vài năm đi học trường lớp, thấy tên Thiếc kỳ quá và vô vị, anh xin bố sửa lại giấy khai sanh, mang tên là Thiết. Anh biểu là thiết tha hay thiết quân lực… cũng ok.
 
Anh Thép vô Nam với gia đình một người dì, em mẹ, lớn lên được nuôi ăn học đàng hoàng, tới tuổi động viên, bà dì đề nghị anh đi lính gần nhà và anh thuộc ngành cảnh sát.
 
Ở trong ngành cảnh sát, anh cũng được theo học các khóa chuyên môn, tâm lý chiến, quân sự căn bản và nghiệp vụ đặc biệt.
 
Sau 5, 7 năm sau đó, anh mang quân hàm đại úy của lực lượng cảnh sát bảo vệ vùng ven đô thị Saïgon… có lúc bảo vệ cả an ninh trong thành phố, vì có nhiều ngày, việt cộng đã nã đạn pháo kích lung tung ở nhiều nơi trong nội đô Saïgon. Ngay cả trung tâm. Mọi người hoang mang lo sợ vì chiến tranh đã tiến sát bên mình.
 
Tết năm ấy, năm 1968, việt cộng lại vi phạm lệnh ngừng bắn, gọi là hưu chiến, nhưng bầu không khí sát thương vẫn rờn rợn bao quanh.
 
Rồi nửa đêm, tiếng nổ đì đoành xen lẫn tiếng pháo mừng xuân Mậu Thân, thế rồi cả bầu trời rực lửa, súng và pháo, sau chỉ còn pháo và đạn nổ, trên không trung nổ, dưới đất nổ, ngang lưng trời nổ… những tiếng nổ long trời lở đất Saïgon Chợ Lớn!
Sáng ra người dân mới hay tin việt cộng phá lệnh hưu chiến tết, bằng cách lợi dụng bên ta sơ hở, chúng tấn công hỏa lực vào bộ tổng tham mưu, tòa đại sứ Mỹ, bộ chỉ huy cảnh sát, biêt khu thủ đô, trại nhẩy dù Hoàng Hoa Thám và nhiều cơ quan quân sự trọng yếu khác. Kể cả các biệt khu trọng yếu trong Chợ Lớn. Dường như mấy ngày sau thì quân lính Việt Nam Cộng Hòa kịp ứng chiến đẩy lùi cộng quân. Chúng tháo chạy một số, một số thương vong, rải rác gục ngã nằm trong đường phố Saïgon.
 
Trong miệt Chợ Lớn đường phố giăng giăng mắc cửi như hai bên còn quần thảo thêm mấy ngày sau đó.
 
Anh Thép bấy giờ là thiếu tá cảnh sát bảo an đô thành, anh cùng một số đồng đội đi truy lùng các phố xá nội đô kiếm tàn quân.
 
Khi toán của anh bất ngờ tới cửa Bắc chợ Bến Thành thì gặp hai xác người việt cộng nằm cong quẹo ngay cạnh một vòi nước công cộng…
 
Lật qua lật lại người, anh thấy họ bị thương nặng, máu ra nhiều, dường như bất tỉnh, vì còn thoi thóp thở. Họ chưa chết, có lẽ, anh Thép cúi nhìn gần hơn gương mặt một người nằm phía ngoài, anh buông tay, giựt mình lùi lại, một thoáng giây sửng sốt, lạ sao người này giống anh Thiết quá… nhứt là trên khuôn mặt xám xịt, có hai hàng lông mày rậm, mỗi đầu lông mày trụ một nốt ruồi nổi, đậm và đen!
 
Anh nhớ lơ mơ ngày thơ ấu, khi còn mẹ, mẹ anh hay nói: «Thằng Thiết nhà này không sợ đi lạc, vì nó không lẫn vô đâu được với hai hàng lông mày có hai con ruồi bu.»
 
Anh bất động một giây, người cộng sự đụng vào tay anh và chợt lên tiếng:
 
Giờ làm sao, thiếu tá?
Mang họ vô, cả hai, vô phòng cấp cứu, nhà thương đô thành, quận nhứt, họ còn sống.
 
Buổi hôm đó, anh im lặng hơn thường lệ, đăm chiêu, cố giữ bí mật, lòng tự hứa, hôm sau sẽ một mình vô bệnh viện, tìm cô y tá Hồng, người quen thân, cố tìm ra sự thiệt…
 
Nhưng hôm sau anh Thép vừa vô bệnh viện thì vị y tá trưởng đã vội cho anh hay là sau hồi cấp cứu, cả hai cán binh việt cộng đó đã lanh chân lẻn trốn ra khỏi bệnh viện lúc đêm khuya. Không ai hay.
 
Anh Thép đang ngần ngừ… thì một người đồng sự đã thở dài:
 
Thôi cũng ổn, mình khỏi làm báo cáo tới báo cáo lui phiền toái.
 
Thời gian qua mau, ngày quốc nạn 30-4-75 xẩy tới, điêu linh cho cả một dân tộc, vấn nạn sầu cho cả một quốc gia.
 
Như bao người sĩ quan VNCH, anh Thép rời xa vợ, đi vô tù cải tạo.
 
Điều bất ngờ là có một năm sau anh được tha về. Bạn bè chẳng hiểu tại sao? Anh cũng lơ mơ không hiểu! Ngay vợ anh, chị Thép cũng chả hiểu tại sao. Chị có lần gạn hỏi chồng anh có khai anh là thiếu úy, chuẩn úy gì đó không? Khai man, nay mai chúng dò xét ra, bắt đi tù lại thì chết, cứ gọi là mút mùa Lệ Thủy!
 
… Anh ậm ừ, mà anh cũng chẳng hiểu mô tê tại sao, chẳng biết mình có nhìn lầm không, dù có sao thì lúc đó hai mắt ổng nhắm nghiền, bất động có biết mình là thằng Thép hay thằng sắt gì đâu.
 
… Anh dấu kín biệt chuyện hai cái nốt ruồi y hai con ruồi bu. Ngay cả với vợ anh cũng không hở chuyện, anh chỉ tự an ủi là trên cái cõi đời này, ta bà rộng lớn, người giống người là chuyện bình thường…
 
Vả lại anh cho là người cộng sản, họ không còn tình cảm, nói chi là anh em, gia đình, tổ quốc!
 
Mấy năm sau đó, anh phụ với chị, căng giây thung, bật bông goòng rải đều bông goòng làm mền bông… làm công nhân cho xí nghiệp làm chăn.
Ít lâu sau, trong những ngày xí nghiệp không còn bông làm chăn. Chị Thép tự tạo một cái tủ bán thuốc lá trong một góc phố, phía ngoài đường sát cổng Bom cũ, chợ Ông Tạ, chị ngồi bán suốt ngày, lúc chiều chiều bận về dọn dẹp lo cơm nước, thì có anh Thép ra ngồi bán thế chỗ. Anh vừa ngồi trông hàng vừa đọc truyện kiếm hiệp.
 
Thỉnh thoảng có một đồng chí công an tới viếng, hỏi sao anh không đi kinh tế mới? Anh giả lả trả lời… tôi đang đợi hồ sơ H.O cứu xét.
 
Lúc đó, thời thế đã đổi thay nhờ kinh tế thị trường khởi sắc, công an có vô khối chỗ kiếm ăn, dòm dỏ chi việc anh chị Thép ngồi bên tủ bán thuốc lá lẻ.
 
Nhưng rồi anh Thép và chị Thép vẫn trụ ở đó hoài hoài. Họ không đủ điều kiện đi H.O vì anh đi cải tạo có một năm. Chỉ một năm.
 
Chị chỉ ôn tồn an ủi anh:
 
Thôi, mình về sống với em là vui rồi… an tâm rồi, mình không có con cái chi cần gì bon chen. Thêm nữa cộng sản bây giờ có cách kiếm ra nhiều tiền.
 
Tư bản đã thắng và vô sản thua to. Thua to!
 
Rồi bẵng đi, 20 năm sau, đến năm 1995-1996 gì đó. Bỗng nhiên anh Thép nhận được một thùng quà từ Úc gửi về địa chỉ anh chị ở ngõ cổng Bom, Ông Tạ. Người gởi là anh của anh đúng tên Nguyễn Chí Thiết. Anh mừng vì biết anh ruột mình còn sống, nhưng anh không quan tâm mấy đến thùng quà. Anh xin được giữ mối liên lạc gia đình thân tộc máu thịt, nhưng, anh giảng giải là anh đủ sống, anh Thiết hãy đê tiền tài đó lo cho các cháu học hành.
 
Thư qua tin lại, luôn là những lời thăm hỏi quan tâm và thân tình, không hề lộ vẻ cay đắng, oán trách ai. Anh lý luận với vợ là mình về sớm, không bệnh tật là may, để cho người kẹt hơn mình đi H.O… ông trời không quên ai và cũng không bỏ mặc kệ ai bao giờ. Ai có phước phần của người nấy…
 
Anh tự do chọn cho anh một cuộc sống tự tại an nhiên như ý anh. Anh đã thấy rõ cái tương đối của mọi sự vui sự buồn trong cuộc sống còn lại thường hằng của riêng anh và chị.
 
Anh đang có hòa bình trong một khoảng đời còn lại sau cuộc chinh chiến dài lâu!
 
Paris mùa xuân Bính Ngọ 2026
tưởng nhớ Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Chúc Thanh

Biết bao nhiêu bài viết về Mẹ, công ơn sinh thành, hy sinh của người Mẹ vào ngày lễ Mẹ, nhưng hôm nay là ngày Father’s Day, ngày của CHA, tôi tìm mãi chỉ được một vài bài đếm trên đầu ngón tay thôi. Tại sao vậy?
Hôm nay giống như một ngày tựu trường. Đơn giản, vắng một thời gian không ngồi ở lớp học, nay trở lại, thế là tựu trường. Ngày còn bé, mỗi lần nghỉ hè xong, lên lớp mới, trong lòng vừa hồi hộp vừa vui sướng. Có bao nhiêu chuyện để dành chờ gặp bạn là kể tíu tít. Nhưng bên cạnh đó là nỗi lo khi sắp gặp các thầy cô mới… Mỗi năm đều có ngày tựu trường như vậy, nói chung là khá giống nhau, trong đời học sinh. Nhưng cái ngày tựu trường này thật quá khác. Người ta nhìn nhau không dám cười, không dám chào hỏi. Sự e dè này, dường như mỗi người đã được tập luyện qua một năm. Một năm “học chính trị” trong cái gọi là hội trường mà tiền thân là cái rạp hát.
Cái tên Michelin không xa lạ gì với chúng ta. Vỏ lốp chiếc xe tôi đang dùng cũng mang tên Michelin. Sao hai thứ chẳng có liên quan chi lại trùng tên. Nếu tôi nói chúng tuy hai mà một chắc mọi người sẽ ngây người tưởng tôi… phiếm.
Phi là một người bạn đạt được những điều trong đời mà biết bao người không có. Là một tấm gương sống sao cho ra sống để chết đi không có gì hối tiếc. Là một niềm hy vọng cho sự tử tế vốn ngày càng trở nên xa xỉ ở nước Mỹ mà tôi đang tiếp tục sống.
Có một lần đó thầy kể lại chuyện rằng, thầy có một phật tử chăm chỉ tu học, đã hơn 10 năm, theo thầy đi khắp nơi, qua nhiều đạo tràng, chuyên tu chuyên nghe rất thành kính. Nhưng có một lần đó phật tử đứng gần thầy, nghe thầy giảng về phát bồ đề tâm, sau thầy có đặt một vài câu hỏi kiểm tra coi thính chúng hiểu bài tới đâu? Cô vội xua xua tay, “bạch thầy, những điều thầy giảng, con hiểu hết, con hiểu hết mà. Con nhớ nhập tâm. Nhưng đừng, thầy đừng có hỏi, bị là con không biết trả lời làm sao đâu.” Có lẽ là cô hiểu ý mà cô chưa sẵn sàng hệ thống sắp xếp thứ tự lại các ý tưởng.
Ở xứ ấy, người ta ngủ đến trưa mới dậy. Chàng nhớ thế khi nghĩ về mùa xuân, mùa hạ, mùa thu khi còn bé, mỗi lần nghĩ thế, đều lấy làm ngạc nhiên, và lấy làm ngạc nhiên về sự ngạc nhiên ấy. Thế mà giữa một thành phố châu Âu, chàng lại gặp chúng. Trên nền tường trắng và mặt biển xanh, giữa những màu xanh và trắng, chỉ hai màu ấy, đôi khi xanh và đỏ, chàng gặp lại chúng, hồ hởi, tưng bừng, nó và chàng như hai thằng bạn thời mặc quần xà lỏn nay gặp nhau
Lơ đảng nhìn mây trời và đèn đường, tôi từ tốn chuyển xe sang tuyến trái để cua. Cha tôi thường nói, “Con phải tập bỏ tính lơ đểnh, nếu không, sẽ có ngày gặp phiền phức.” Nhưng lơ đểnh là nơi nghệ sĩ lang thang, ngẫu hứng tìm thấy những sáng tạo không ngờ. Chợt thoáng trong hộp kính nhìn lui, thấy chiếc xe đen nhỏ bắn lên với tốc độ nguy hiểm, tôi chuyển xe về lại bên phải, sau gáy dựng lên theo tiếng rít bánh xe thắng gấp chà xát mặt đường, trong kính chiếu hậu, một chiếc xe hạng trung màu xám đang chao đảo, trơn trợt, trờ tới, chết rồi, một áp lực kinh khiếp đập vào tâm trí trống rỗng, chỉ còn phản xạ tự động hiện diện. Chợt tiếng cha tôi vang lên: “đạp ga đi luôn.” Chân nhấn xuống, chiếc xe lồng lên, chồm tới như con cọp phóng chụp mồi. Giữa mơ hồ mất kiểm soát, tử sinh tích tắc, tôi thoáng nhận ra trước mặt là thành cây cầu bắt qua sông.
Danh đi làm lúc 5 giờ sáng, ra về lúc 2 giờ trưa, từ sở làm đến đây khoảng 10 phút đường phi thuyền bay. Giờ này vắng khách. Những lúc khác, buôn bán khá bận rộn. Áo quần lót ở đây khắn khít thời trang, từ đồ ngủ may bằng vải lụa trong suốt, nhìn xuyên qua, cho đến hàng bằng kim loại nhẹ, mặc lên giống chiến sĩ thời xưa mang áo giáp nhưng chỉ lên giường. Hầu hết khách hàng đến đây vì Emily và Christopher. Người bàn hàng độc đáo. Họ đẹp, lịch sự, làm việc nhanh nhẹn, không lầm lỗi. Cả hai có trí nhớ phi thường. Không bao giờ quên tên khách. Nhớ tất cả món hàng của mỗi người đã mua. Nhớ luôn ngày sinh nhật và sở thích riêng. Ngoài ra, họ có thể trò chuyện với khách về mọi lãnh vực từ triết lý đến khoa học, từ chính trị đến luật pháp, từ du lịch đến nấu ăn… Khách hàng vô cùng hài lòng
Sau hơn ba mươi năm gắn bó với cuộc sống ở Mỹ, ông Hải và bà Lan quyết định về hưu và bắt đầu một chương mới của cuộc đời. Quyết định này, mặc dù bất ngờ với những người xung quanh, lại xuất phát từ một ước mơ giản dị-sống những ngày cuối đời an nhàn tại quê hương. Hai ông bà đã dành dụm được một khoản lương hưu kha khá, cộng thêm số tiền đầu tư từ kế hoạch lương hưu 401k, đủ để họ cảm thấy có thể an tâm sống thoải mái ở Việt Nam.
Mẹ chị vừa bước qua tuổi 90, cụ đã bắt đầu lẫn, không tự săn sóc mình và không dùng máy móc được nữa. Bố chị mới mất cách đây hai năm và Mẹ chị xuống tinh thần rất nhanh sau khi Bố mất. Bắt đầu là buồn bã, bỏ ăn, thiếu ngủ, sau đi tới trầm cảm. Chị đi làm bán thời gian, giờ còn lại cả ngày chạy xe ngoài đường đưa đón mấy đứa nhỏ, hết trường lớp thì sinh hoạt sau giờ học. Chị không thể luôn ở bên Mẹ. Chị tìm được nhà già cho Mẹ rất gần trường học của con, lại gần nhà nữa, nên ngày nào cũng ghé Mẹ được, Mẹ chị chỉ cần trông thấy chị là cụ yên lòng.
Má ơi! Thế giới vô thường, thay đổi và biến hoại trong từng phút giây nhưng lòng con thương má thì không biến hoại, không thay đổi, không suy hao. Nguyện cầu ngày đêm cho má, hướng phước lành đến cho má. Cầu chư Phật, chư Bồ Tát, chư hiền thánh tăng ba đời mười phương gia hộ má vượt qua đau bệnh để sống an lạc trong những ngày tháng tuổi già bóng xế.
Truyện đầu tiên kể nơi đây là kể về một tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca. Khi đó, ngài được gọi là một vị Bồ Tát. Ngày xưa rất là xưa, có hai người thợ săn, là hai vị thủ lĩnh của hai ngôi làng gần nhau. Hai vị trưởng làng đã lập một giao ước rằng nếu con của họ tình cờ khác giới tính, họ sẽ sắp xếp cho hai đứa con này kết hôn với nhau. Đó là một thời phần lớn hôn nhân là do sắp xếp của ba mẹ. Một vị trưởng làng có một cậu con trai được đặt tên là Dukūlakumāra, vì cậu bé được sinh ra trong một tấm vải bọc đẹp; vị trưởng làng kia có một cô con gái tên là Pārikā, vì cô bé được sinh ra ở bên kia con sông. Khi chàng trai và cô gái lớn lên, cha mẹ hai bên đã kết hôn cho hai người con này. Tuy nhiên, chàng trai Dukūlakumāra và cô gái Pārikā đã có nhiều kiếp tu, cùng giữ hạnh trong sạch, cho nên cô dâu và chú rể cùng cam kết bí mật với nhau rằng hai người sẽ ở chung nhà như vợ chồng, sẽ yêu thương nhau như vợ chồng nhưng sẽ không làm mất hạnh trong sạch của nhau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.