Hôm nay,  

Viết cho Hòa Bình

20/02/202600:00:00(Xem: 1863)

Walk-For-Peace
 Mười chín nhà sư “đi bộ vì hòa bình” ghé Richmond ngày 3 tháng 2,
vạn dân đổ ra chào đón.
 
Từ hồi tiền sử con người sống có lúc cũng yên lành, sau đó dần dần cũng tranh giành quyền lợi vật chất và ảnh hưởng quyền lợi hơn thua với nhau nên dần dần càng về sau, họ không ở yên bên nhau nữa… mà sanh ra chống chọi nhau, chống đối hơn thua để sống… mạnh được yếu thua. Ngoài việc chống đối với nhau, còn phải chống đối với thú dữ… với thiên nhiên, từ đó cuộc sống là một cuộc chiến không ngừng, mệt mỏi… mệt mỏi quá thì mơ tưởng và mong ước hòa bình.
 
Nước Việt Nam chúng ta gần như là trải qua cả một thế kỷ lặn lội trong chiến tranh. Bây giờ thì tàn cuộc chiến, mà có hòa bình đâu? Vẫn rối loạn trong mọi tình huống.
 
César đã nói rằng muốn hòa bình phải sửa soạn chiến tranh. Không hiểu César nói câu này có thiệt đúng không? Hay là muốn hòa bình phải sửa soạn cho quốc gia một quân đội hùng mạnh để tự vệ?
 
Cho đến nay, gần như phần lớn các quốc gia trên thế giới đều đang sửa soạn chiến tranh trước thái độ hung hăng gờm gờm tấn công của ông tổng thống D. Trump. Đã bao nhiêu lần nhân loại sửa soạn chiến tranh để chờ đón hòa bình. Nhưng như là hòa bình đang trở thành giấc mơ xa vời của nhân loại… y hệt phần nào giấc mơ của một ngài tổng thống cứ dài cổ vẩn vơ trông đợi giải Nobel hòa bình!
 
Từ bao lâu nay, qua hai cuộc thế chiến tương tàn, từ các trại tập trung, lò sát sinh người của Đức Quốc Xã, những Goulas của Nga, sự tàn sát hàng loạt ở Cam Bốt, mồ chôn tập thể ở Huế với Giải Khăn Sô ở Nhã Ca chưa hề phai mờ, tất cả tạm đã qua đi nhưng cộng sản vẫn tồn tại ở Nga, Tàu, Việt Nam v.v… vậy là sao?  Là hòa bình không phải là chấm dứt của chiến tranh.
 
Hòa bình thưa không phải ở đầu môi chót lưỡi, hòa bình phải đến từ trong tâm, trong tim óc của mỗi con người của cả hai bên.
Thưa nói theo ý niệm của tôn giáo, hòa bình đến từ thiện tâm của con người. Nếu chấp nhận anh em như thể tay chân, hay tứ hải giai huynh đệ thì mới có hòa bình.
 
Tư tưởng tam vô của cộng sản chỉ là luận điệu tuyên truyền nhằm chối bỏ cái tôi rất hữu hạn của Marx. Nếu chấp nhận ngã chấp dù ít nhiều cũng không thế nào có sự tương giao giữa người với người.
 
Ngã chấp của cộng sản chì là ảo tưởng, vì một ngã lại trở về một ngã và chủ trương ý chí quyền lực làm nên ta.
 
Do đó Nietzsche đã viết rằng tất cả nhân bản, vật bản tự nhiên và nhân đạo mà con người nhân danh điều đó mà hành động đều làm trò điên loạn để nghĩ rằng ý chí và quyền lực ta làm nên ta.
 
Nietzsche phá bỏ sự lũng đoạn đó và tóm tắt lại: mọi sự đều là hư vô.
 
Quan điểm này đến rất gần với tôn giáo.
 
Hòa bình chỉ đến khi con người thế gian biết hòa thuận.
 
Khi nào con người biết thuận với trời, hòa với người như Mạnh Tử nói thì lúc đó nhân loại mới có hòa bình.
 
Hòa bình rất khó có trong thế giới loài người khi mà con người không nhân chi sơ tính bản thiện. Vì sao ư? Vì chúng ta còn đầy rẫy tham sân si. Vì cái tham sân si đó mà Đức Phật và chúa Giêsu luôn phải kêu gọi phật tử và con chiên phải dứt bỏ các thói xấu đó đi để tiến tới giải thoát hòa bình.
 
“Thương người như thể thương thân“ các đấng thượng đế khuyên bảo chúng ta hãy quên cái ngã phù phiếm cá nhân tham sân si, để siêu thoát hòa đồng trong cái đại ngã của nhân loại, vậy tóm lược hòa bình không phải là sửa soạn chiến tranh, mà là chuẩn bị tâm tư tính bản thiện, để thoát ra cái ngã tôi một mình, mà đi vào cái ngã chung cuộc với thân tình với tất cả anh em, bạn bè, quyến thuộc xung quanh ta!
Thưa bạn,
Có lẽ là C.T đang đại ngôn rồi đó, chẳng qua là đọc sách rồi tóm lược lại lơ mơ như thế đó, có chỗ đúng, có chỗ sai, xin quý bạn lượng tình miễn chấp cho. Đa tạ.
 
Mà C.T cũng nhiều lời lắm lẽ, tiện đây C.T xin mạo muội kể hầu bạn nghe một câu chuyện,  đúng có đúng, mà ngô nghê có ngô nghê, đến ngố, ngố một vẻ chân phương.
 
Số là C.T có một ông anh họ, con bác cả, anh tên là Thép. Anh Thép có duy nhất một người anh trai, còn rớt lại ngoài Bắc, sau cuộc di cư vĩ đại lánh nạn cộng sản 1954.
 
Anh ruột của anh Thép tên là Thiếc. Sau vài năm đi học trường lớp, thấy tên Thiếc kỳ quá và vô vị, anh xin bố sửa lại giấy khai sanh, mang tên là Thiết. Anh biểu là thiết tha hay thiết quân lực… cũng ok.
 
Anh Thép vô Nam với gia đình một người dì, em mẹ, lớn lên được nuôi ăn học đàng hoàng, tới tuổi động viên, bà dì đề nghị anh đi lính gần nhà và anh thuộc ngành cảnh sát.
 
Ở trong ngành cảnh sát, anh cũng được theo học các khóa chuyên môn, tâm lý chiến, quân sự căn bản và nghiệp vụ đặc biệt.
 
Sau 5, 7 năm sau đó, anh mang quân hàm đại úy của lực lượng cảnh sát bảo vệ vùng ven đô thị Saïgon… có lúc bảo vệ cả an ninh trong thành phố, vì có nhiều ngày, việt cộng đã nã đạn pháo kích lung tung ở nhiều nơi trong nội đô Saïgon. Ngay cả trung tâm. Mọi người hoang mang lo sợ vì chiến tranh đã tiến sát bên mình.
 
Tết năm ấy, năm 1968, việt cộng lại vi phạm lệnh ngừng bắn, gọi là hưu chiến, nhưng bầu không khí sát thương vẫn rờn rợn bao quanh.
 
Rồi nửa đêm, tiếng nổ đì đoành xen lẫn tiếng pháo mừng xuân Mậu Thân, thế rồi cả bầu trời rực lửa, súng và pháo, sau chỉ còn pháo và đạn nổ, trên không trung nổ, dưới đất nổ, ngang lưng trời nổ… những tiếng nổ long trời lở đất Saïgon Chợ Lớn!
Sáng ra người dân mới hay tin việt cộng phá lệnh hưu chiến tết, bằng cách lợi dụng bên ta sơ hở, chúng tấn công hỏa lực vào bộ tổng tham mưu, tòa đại sứ Mỹ, bộ chỉ huy cảnh sát, biêt khu thủ đô, trại nhẩy dù Hoàng Hoa Thám và nhiều cơ quan quân sự trọng yếu khác. Kể cả các biệt khu trọng yếu trong Chợ Lớn. Dường như mấy ngày sau thì quân lính Việt Nam Cộng Hòa kịp ứng chiến đẩy lùi cộng quân. Chúng tháo chạy một số, một số thương vong, rải rác gục ngã nằm trong đường phố Saïgon.
 
Trong miệt Chợ Lớn đường phố giăng giăng mắc cửi như hai bên còn quần thảo thêm mấy ngày sau đó.
 
Anh Thép bấy giờ là thiếu tá cảnh sát bảo an đô thành, anh cùng một số đồng đội đi truy lùng các phố xá nội đô kiếm tàn quân.
 
Khi toán của anh bất ngờ tới cửa Bắc chợ Bến Thành thì gặp hai xác người việt cộng nằm cong quẹo ngay cạnh một vòi nước công cộng…
 
Lật qua lật lại người, anh thấy họ bị thương nặng, máu ra nhiều, dường như bất tỉnh, vì còn thoi thóp thở. Họ chưa chết, có lẽ, anh Thép cúi nhìn gần hơn gương mặt một người nằm phía ngoài, anh buông tay, giựt mình lùi lại, một thoáng giây sửng sốt, lạ sao người này giống anh Thiết quá… nhứt là trên khuôn mặt xám xịt, có hai hàng lông mày rậm, mỗi đầu lông mày trụ một nốt ruồi nổi, đậm và đen!
 
Anh nhớ lơ mơ ngày thơ ấu, khi còn mẹ, mẹ anh hay nói: «Thằng Thiết nhà này không sợ đi lạc, vì nó không lẫn vô đâu được với hai hàng lông mày có hai con ruồi bu.»
 
Anh bất động một giây, người cộng sự đụng vào tay anh và chợt lên tiếng:
 
Giờ làm sao, thiếu tá?
Mang họ vô, cả hai, vô phòng cấp cứu, nhà thương đô thành, quận nhứt, họ còn sống.
 
Buổi hôm đó, anh im lặng hơn thường lệ, đăm chiêu, cố giữ bí mật, lòng tự hứa, hôm sau sẽ một mình vô bệnh viện, tìm cô y tá Hồng, người quen thân, cố tìm ra sự thiệt…
 
Nhưng hôm sau anh Thép vừa vô bệnh viện thì vị y tá trưởng đã vội cho anh hay là sau hồi cấp cứu, cả hai cán binh việt cộng đó đã lanh chân lẻn trốn ra khỏi bệnh viện lúc đêm khuya. Không ai hay.
 
Anh Thép đang ngần ngừ… thì một người đồng sự đã thở dài:
 
Thôi cũng ổn, mình khỏi làm báo cáo tới báo cáo lui phiền toái.
 
Thời gian qua mau, ngày quốc nạn 30-4-75 xẩy tới, điêu linh cho cả một dân tộc, vấn nạn sầu cho cả một quốc gia.
 
Như bao người sĩ quan VNCH, anh Thép rời xa vợ, đi vô tù cải tạo.
 
Điều bất ngờ là có một năm sau anh được tha về. Bạn bè chẳng hiểu tại sao? Anh cũng lơ mơ không hiểu! Ngay vợ anh, chị Thép cũng chả hiểu tại sao. Chị có lần gạn hỏi chồng anh có khai anh là thiếu úy, chuẩn úy gì đó không? Khai man, nay mai chúng dò xét ra, bắt đi tù lại thì chết, cứ gọi là mút mùa Lệ Thủy!
 
… Anh ậm ừ, mà anh cũng chẳng hiểu mô tê tại sao, chẳng biết mình có nhìn lầm không, dù có sao thì lúc đó hai mắt ổng nhắm nghiền, bất động có biết mình là thằng Thép hay thằng sắt gì đâu.
 
… Anh dấu kín biệt chuyện hai cái nốt ruồi y hai con ruồi bu. Ngay cả với vợ anh cũng không hở chuyện, anh chỉ tự an ủi là trên cái cõi đời này, ta bà rộng lớn, người giống người là chuyện bình thường…
 
Vả lại anh cho là người cộng sản, họ không còn tình cảm, nói chi là anh em, gia đình, tổ quốc!
 
Mấy năm sau đó, anh phụ với chị, căng giây thung, bật bông goòng rải đều bông goòng làm mền bông… làm công nhân cho xí nghiệp làm chăn.
Ít lâu sau, trong những ngày xí nghiệp không còn bông làm chăn. Chị Thép tự tạo một cái tủ bán thuốc lá trong một góc phố, phía ngoài đường sát cổng Bom cũ, chợ Ông Tạ, chị ngồi bán suốt ngày, lúc chiều chiều bận về dọn dẹp lo cơm nước, thì có anh Thép ra ngồi bán thế chỗ. Anh vừa ngồi trông hàng vừa đọc truyện kiếm hiệp.
 
Thỉnh thoảng có một đồng chí công an tới viếng, hỏi sao anh không đi kinh tế mới? Anh giả lả trả lời… tôi đang đợi hồ sơ H.O cứu xét.
 
Lúc đó, thời thế đã đổi thay nhờ kinh tế thị trường khởi sắc, công an có vô khối chỗ kiếm ăn, dòm dỏ chi việc anh chị Thép ngồi bên tủ bán thuốc lá lẻ.
 
Nhưng rồi anh Thép và chị Thép vẫn trụ ở đó hoài hoài. Họ không đủ điều kiện đi H.O vì anh đi cải tạo có một năm. Chỉ một năm.
 
Chị chỉ ôn tồn an ủi anh:
 
Thôi, mình về sống với em là vui rồi… an tâm rồi, mình không có con cái chi cần gì bon chen. Thêm nữa cộng sản bây giờ có cách kiếm ra nhiều tiền.
 
Tư bản đã thắng và vô sản thua to. Thua to!
 
Rồi bẵng đi, 20 năm sau, đến năm 1995-1996 gì đó. Bỗng nhiên anh Thép nhận được một thùng quà từ Úc gửi về địa chỉ anh chị ở ngõ cổng Bom, Ông Tạ. Người gởi là anh của anh đúng tên Nguyễn Chí Thiết. Anh mừng vì biết anh ruột mình còn sống, nhưng anh không quan tâm mấy đến thùng quà. Anh xin được giữ mối liên lạc gia đình thân tộc máu thịt, nhưng, anh giảng giải là anh đủ sống, anh Thiết hãy đê tiền tài đó lo cho các cháu học hành.
 
Thư qua tin lại, luôn là những lời thăm hỏi quan tâm và thân tình, không hề lộ vẻ cay đắng, oán trách ai. Anh lý luận với vợ là mình về sớm, không bệnh tật là may, để cho người kẹt hơn mình đi H.O… ông trời không quên ai và cũng không bỏ mặc kệ ai bao giờ. Ai có phước phần của người nấy…
 
Anh tự do chọn cho anh một cuộc sống tự tại an nhiên như ý anh. Anh đã thấy rõ cái tương đối của mọi sự vui sự buồn trong cuộc sống còn lại thường hằng của riêng anh và chị.
 
Anh đang có hòa bình trong một khoảng đời còn lại sau cuộc chinh chiến dài lâu!
 
Paris mùa xuân Bính Ngọ 2026
tưởng nhớ Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Chúc Thanh

Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.