Hôm nay,  

Ngàn Dặm Ra Đi

20/03/202600:00:00(Xem: 2638)

duong quen dau chan
Đường Quên Dấu Chân
Tranh CẨM TÂM


Chặng thứ nhất

Chỗ anh ngồi là gần cuối máy bay. Chung quanh anh là những người có vẻ mặt lạnh lùng, khép kín. Mắt họ nhắm nghiền, không ai muốn nhìn ai. Chỉ có anh là đang cố giương mắt nhìn khoảng không gian nhỏ xíu bên ngoài cửa sổ mà hai người ngồi bên cạnh đã án ngữ gần hết. Anh muốn nhìn một mảnh của quê hương lần cuối, như thể đó là hình ảnh của em, hình ảnh vừa tan biến cách đây mười mấy phút, khi anh quay lưng đi, lẫn vào dòng hành khách nối đuôi nhau bước vào khoang máy bay.

         “Anh đã check lại phòng khách sạn chưa? Và trả lời cho anh Minh biết là mình sẽ kịp đến để dự birthday của ảnh nữa?” Giọng một người đàn bà ngồi ở dãy ghế trước mặt anh õng ẹo hỏi.

         “Rồi và rồi,” giọng một người đàn ông trả lời, nghe vừa dấm dẳng, vừa trìu mến.

         Em ạ, hẳn là hai người đó là khách du lịch thứ thiệt. Họ biết chắc những nơi mình sẽ đến. Còn anh thì cũng đang “du” mà lòng hoang mang khôn tả, không biết sẽ đi về đâu, và sẽ “lịch” những gì sắp tới, hoạ phước khôn lường. Anh chợt nghĩ, hay đây là một giấc chiêm bao thôi, cũng như bao lần anh đã chiêm bao thấy những chân trời xa lạ. Trong đó, lúc thì có em, lúc thì vắng em. Và lần nào cũng như lần nào, anh thấy thương em quá đỗi, thương đến quặn lòng, đến ứa nước mắt, đến nghẹn ngào, đến không còn ngôn ngữ. Cuộc sống của em và anh tự bao giờ đã không còn biên giới. Ngày lẫn vào đêm. Mộng hoà với thực. Thức mà như đang ngủ. Ngủ mà vẫn thao thức trong hồn. Cười mà như đang khóc. Khóc mà như đang ngạo nghễ cười trên số phận.

         Máy bay từ từ chuyển động. Quê hương bắt đầu xa dần. Em bắt đầu xa dần. Máy bay lướt trên đường băng một đỗi, rồi ngừng hẳn lại. Đột nhiên, nó rú lên thật lớn rồi nhấc bổng lên không. Giã từ quê hương. Giã từ em. Không, mình sẽ gặp lại mà. Chúng ta đã hứa với nhau như thế, phải không em?

         Tân Gia Ba. Quê hương của Lý Quang Diệu. Nơi mà ngày xưa người ta còn nhìn Sài Gòn bằng cặp mắt thèm thuồng lẫn thán phục. Chỉ cách quê nhà hai tiếng đồng hồ đường chim bay, nhưng đây là một thế giới khác. Anh không được tận mắt nhìn thấy thế giới đó. Trong khi những kẻ du lịch thứ thiệt hân hoan ra khỏi phi trường, hoà vào nhịp sống rộn rịp bên ngoài, anh lủi thủi bước theo người “hướng dẫn tour” đi sang một cổng khác để đổi máy bay. Bây giờ anh mới nhận ra là trong nhóm của mình còn bốn người khác nữa, bốn du khách bất đắc dĩ, hai người đàn ông và hai người đàn bà.

         Lại ngồi ở phía đuôi máy bay. Người dẫn tour cho biết là sẽ đi Tây Ban Nha. “Độ 16 tiếng đồng hồ mới đến,” anh ta bảo vậy. Anh cất cuốn sổ tay vào túi xách nhé em. Anh muốn ngủ một giấc dài, mặc cho con tàu bay qua hết phần còn lại của châu Á, đi vào lòng châu Âu.

Chặng thứ nhì

Hôm nay là một ngày kỳ lạ. Anh không biết chắc rằng đang nằm mơ thấy mình đang từ một chiếc máy bay bước ra phi cảng của một xứ miền xa lạ, hay đang thật sự ở đó và sắp sửa đi ngủ để chìm vào một giấc chiêm bao. Bây giờ anh đâm ra sợ cả hai: Sợ phải thức để đối diện với nhiều cảnh ngộ đau lòng, và sợ phải ngủ để phải sống thêm một lần nữa mỗi ngày. Anh tự hỏi có còn một cảnh giới thứ ba nào cho anh trốn vào trong đó không. Em nghĩ sao?

         Thủ đô Madrid. Người ta bảo thế thì anh nghe thế, chứ cũng có thấy được mặt mũi của thành phố nổi tiếng này ra làm sao đâu. Trong lúc đi qua chỗ đổi máy bay, anh lan man nghĩ đến chuyện chàng hiệp sĩ Don Quixote mà hồi nhỏ anh có dịp đọc qua một bản dịch tiếng Việt. Ngày đó, anh biết đến ông ta với cái tên Đồng Ký-khốt, cùng anh chàng hầu cận San-chồ. Hồi nhỏ, anh đọc là đọc vậy thôi, chẳng hiểu là bao, ngoài cảm giác sờ sợ về người hiệp sĩ không được bình thường đó. Giờ đây ngẫm lại, anh mới dần dần hiểu ý nghĩa thâm sâu của cuốn tiểu thuyết của Cervantes. Anh chợt mỉm cười thích thú với ý nghĩ mình vừa là Đồng Ký-khốt, vừa là San-chồ. Một nửa của anh đã Đồng Ký-khốt hoá San-chồ, biến thế giới thực tế của anh chàng nông dân chân chất này thành một thế giới mộng mị, đồng thời nửa kia của anh đã San-chồ hoá Đồng Ký-khốt, biến thế giới đầy ảo tưởng của chàng hiệp-sĩ-tự-phong đó thành thực tế phũ phàng.

         “¡Buen viaje!” Cô gái đứng soát vé ở lối vào máy bay tươi cười nói với những hành khách đang tuần tự bước qua. Anh khẽ gật đầu chào cô ta, nghĩ bụng, “Cô mà biết chúng tôi đi đâu thì sẽ chúc ‘¡Buena aventura!’ mới đúng!”

Chặng thứ ba

Em yêu dấu, chắc nằm mơ anh cũng không thấy được cảnh này—hay là có tỉnh dậy anh cũng không ngờ mình đang ở đây. Anh đang ở trong lòng một thành phố mà cũng chỉ được nghe đến tên chứ không ra ngoài để thấy được nó. Santiago—thủ đô của nước Chí Lợi xa xôi. Làm sao, dù trong trí tưởng tượng hoang dại nhất của mình, anh dám nghĩ đến một ngày như hôm nay. Chiếc máy bay lặng lờ băng qua Đại Tây Dương trong đêm đen bất tuyệt, xuống đến tận vùng Cono Sur, nơi có một quốc gia cũng có hình dạng dài ngoằn ngoèo như nước Việt mình. Lúc ngồi đợi chuyến bay kế tiếp, anh bùi ngùi nghĩ đến nhà văn nữ lưu vong người Chí Lợi—Isabella Allende—người đang sống ở Mỹ, nơi anh đang mong muốn đến. Anh cũng sẽ sống đời lưu vong như bà ta, có khác chăng là bà nổi tiếng khắp thế giới, đặc biệt là qua tác phẩm La Casa de los espíritus, kể về những vật đổi sao dời trong một gia đình qua bốn thế hệ, buồn vui theo vận nước nổi trôi; còn anh sẽ chỉ là một kẻ lưu vong vô danh tiểu tốt, cũng có bao nhiêu điều để kể về nước, về nhà, mà tài hèn sức mọn không viết nổi nên lời.

Chặng thứ tư

São Paulo—thành phố của thánh Phao-lồ chào đón anh và nhóm người đi vượt biên kiểu tân thời. Dĩ nhiên là bọn anh cũng chỉ được quanh quẩn trong phi trường như mấy chặng trước, nhưng hình như—chẳng biết anh có tưởng tượng hay không—anh đã hít thở được không khí nồng nàn của Ba Tây, mang tên một loài cây rừng cho gỗ quý, xứ sở của vũ điệu samba cuồng nhiệt bắt nguồn từ lục địa Phi châu. Ở đây cái gì cũng có vẻ rộn ràng cả, dù anh không được ra bên ngoài để chứng kiến. Anh hình dung ra một đất nước lúc nào cũng tưng bừng với những carnaval đầy màu sắc và âm thanh, những trận túc cầu vang danh thế giới, chẳng vậy mà xứ sở này còn có biệt danh là Terra do Futebol.

         Nhưng Ba Tây còn đặc biệt với anh về một điều nữa, đó là anh Vũ đã từng sống nơi đây trong một thời gian. Mới đó mà anh Vũ đã ra đi gần hai mươi năm trời rồi, em biết không. Ngày anh ấy ra đi, hai đứa anh còn là hai thằng nhóc mới lên chín, lên mười. Anh còn nhớ ngày nhận được tin chiếc ghe của anh Vũ được con tàu chở dầu mang tên São Sebastiao cứu vớt và mang về Ba Tây, mẹ anh đã oà ra khóc vì sung sướng. Nhưng anh Vũ chỉ liên lạc về nhà trong vòng một năm đầu, rồi sau đó bặt vô âm tín. Mẹ anh đã chờ tin con mòn mỏi, chờ mãi, chờ mãi, đến khi bà mất đi trong tiếc nhớ. Em có nghĩ là một người khi chết đi vẫn còn chờ đợi một ai hay một điều gì đó không? Anh thì tin như vậy. Duy có điều bây giờ anh như bị mê mê hoặc hoặc, không biết là anh Vũ có thật hay không. Cũng như anh không chắc rằng những ngày xưa có thật không. Cái gì không thấy—hay không còn thấy—là đều không có thật. Ngay cả những ai, những gì ngay trước mắt rồi cũng tan biến đi chóng vánh. Nghĩa là có thật đó rồi cũng hết thật.

         Anh tiến gần đến vuông cửa kính khổng lồ, nhìn ra những chiếc phi cơ bên ngoài kia. Có vài chiếc đang đậu im lìm, có vài chiếc đang từ từ rời chỗ, hay vài chiếc khác vừa đáp xuống. Anh tưởng tượng ra anh Vũ là một trong những người phu bốc vác ngoài kia, sống đời nhọc nhằn ở xứ người. Hay tại vì thế mà anh ấy buồn, không muốn liên lạc với gia đình? Mà tại sao anh lại phải bận lòng về một điều không còn có thật nữa?

Chặng thứ năm

Sau hơn 10 tiếng bay, anh đã đến Mexico City—thành phố ngày xưa của người Aztec còn mang tên Tenochtitlan vào thế kỷ thứ 16. Lần này, anh thấy được một góc của thủ đô xứ Mễ Tây Cơ, được ra khỏi phi trường trên một chuyến xe buýt, len lỏi qua những con đường đông đúc, xe cộ như mắc cửi. Xe chạy ròng rã hai ngày một đêm về hướng bắc, qua những xa lộ tối tân hay những con đường thôn quê hẻo lánh. Anh chợt thèm muốn cuộc sống lặng lờ của người dân bản xứ. Vậy mà ở đây mỗi ngày vẫn có biết bao nhiêu người, bằng cách này hay cách khác, tìm cách đi đến El Norte, để tìm tới giấc mộng Huê Kỳ, hay tìm chút tự do mà ở quê nhà không có. Cũng như anh. Như em. Chỉ có khác là em đã hy sinh để anh ra đi trước. Những gì em đã làm cho anh, cho chúng ta, còn vượt xa cả ngàn dặm đối với hai chữ hy sinh. Số tiền em chắt chiu bằng mồ hôi nước mắt, cùng với những món tiền vay mượn khác bằng cả chục năm trời mới may ra có được, nếu đừng ăn, đừng uống, đừng mặc, đừng tiêu xài gì cả. Vậy mà em đã gom góp được, cho anh ra đi. Vì, như bao lần em đã nói, “Cái đầu này không nên sống ở đây!” “Cái đầu” của anh, thật ra có đáng gì đâu em. Nó chỉ chất đầy văn chương viển vông, chữ nghĩa hão huyền, từ những chân trời huyễn tưởng, những lời say sưa tuôn ra trên giảng đường, nhưng lúc nào anh cũng nơm nớp sợ bị nghe ngóng, dòm ngó. Đổi lại là những đồng tiền khiêm nhượng không đủ cho em sắm một cái áo đẹp cho bằng chúng bạn. Nhưng, em biết đó, anh ra đi không vì tấm áo, manh quần. Anh ra đi để mong nói được những lời từ trái tim, từ khối óc mà không sợ bị ai bắt bẻ. Anh ra đi vì “người ta không chỉ sống bằng bánh mì”.

         Tijuana—thành phố địa đầu nước Mễ Tây Cơ, nơi bọn anh đặt chân xuống sau gần 40 tiếng đồng hồ đường bộ. Ngày xưa, lãnh thổ Mễ còn tràn lên phân nửa miền tây Hoa Kỳ. Di dân Mễ ngày nay thường nói—vừa khôi hài, vừa cay đắng—“Chúng tôi không vượt qua biên giới, mà biên giới vượt qua chúng tôi.”

         Người dẫn đường từ Việt Nam giao bọn anh cho hai người bản xứ mặt mày hung tợn, rồi anh ta nhanh chóng rút lui. Anh lại tự hỏi từ đầu đến giờ, anh ta có thật hay không. Còn lại hai nhóm người bất đồng ngôn ngữ, khác cả màu da, chẳng ai hiểu ai cả. Bọn anh bắt đầu cuộc hành trình đi bộ, xa dần thành phố và đi vào những con đường thôn quê hay những khóm rừng rậm rạp. Hai người dẫn đường chỉ toàn ra dấu cho nhóm người đi theo. Không còn những lúc ung dung trên máy bay, chuyển từ chuyến này qua chuyến nọ, hay đi qua những hành lanh trong phi cảng sang trọng, hào nhoáng, ăn trắng mặc trơn. Ai nấy đều bắt đầu thấy đói và khát, phải lục tìm trong túi xách tất cả những gì có thể vừa đi vừa ăn uống được. May sao, đến một đoạn đường có một người Việt gia nhập đoàn của bọn anh, mang thêm một ít đồ khô và nước. Anh ta chắc ở đây lâu năm nên nói tiếng Tây Ban Nha lưu loát không kém gì những tay địa phương. Hoá ra anh ta làm thông dịch cho nhóm. Anh ta nói tiếng Việt hơi lơ lớ, nhưng cũng đủ cho mọi người hiểu phải làm gì.


         Em biết không, những gì anh phải làm hôm đó nhắc anh nhớ lại những năm đầu mất nước ở quê nhà. Lúc đó, tuy còn nhỏ, anh cũng đã phải đi lao động, vào rừng, lội suối, đào mương… Và bây giờ, hai mươi mấy năm sau, anh lại phải cuốc bộ đường trường, lội qua những con suối nước đục ngầu, dưới ánh nắng chang chang ban ngày và những cơn mưa bất chợt ban đêm. Bọn anh dựng tạm những cái lều dã chiến để tạm nghỉ ngơi giữa những chặng đường, khi trên bộ, lúc dưới suối, hay xuyên qua những khu rừng nhỏ.

         Vậy mà cả bọn đã đi bộ đến ba ngày trời. Cuối cùng, trước mặt anh là gì, em biết không? Là một bức tường dài như vô tận bằng song sắt, cao sừng sững, dễ đến 10 mét. Bỗng dưng anh muốn khóc và nhớ tới lời ông mục sư da đen Martin Luther King đã nói, “Let’s build bridges, not walls.” Biên giới là đây sao? Biên giới bắt đầu từ đâu? Từ những bàn tay xây dựng, hay từ những quyết định của những con người có uy quyền trong tay? Hay từ khi con người cảm thấy “lòng ta sao vẫn còn biên giới” như người nhạc sĩ họ Phạm đã nói—như một lời tiên tri cách đây gần cả 80 năm trời.

         Tiến—anh thông dịch viên người Việt—bảo bọn anh, “Từ chỗ này, chúng ta sẽ đi dọc theo bức tường thêm vài cây số nữa, tới chỗ có một khoảng trống còn đang xây dở dang, rồi đợi đêm tối xuống sẽ tìm cách qua bên kia.”

         “Bên kia” là nơi bừng sáng lên cả trăm ngàn ánh điện lấp lánh ban đêm mà từ chỗ tường biên giới bọn anh đang dừng chân. Vùng ánh sáng chói loà trong đêm tối đó như những lời hứa hẹn hấp dẫn nhất. Nguồn sáng đó—anh lại tự hỏi—có thật hay không, hay chỉ từ trí tưởng tượng?

         Cả bọn lại lầm lũi đi tiếp, khi trời sụp tối thì cũng cũng vừa đến nơi đã hẹn với một nhóm người khác để bàn giao. Tiến nói chuyện với ba người mới đến, trong khi hai người Mễ đầu tiên đã đi mất. Một trong bọn họ thì thầm nói:

         “No es posible cruzar esta noche. La seguridad es muy estricta.”
         Tiến quay lại cho bọn anh biết:
         “Họ bảo tối nay không qua được. An ninh gắt lắm.”
         Cả bọn lại xì xầm với nhau hồi lâu. Tiến lại nói:
         “Không xong rồi. Tình hình này có thể kéo dài chưa biết tới lúc nào. Các anh chị có thể chọn một trong hai giải pháp: Một là quay về Ba Tây, chờ tình hình sáng sủa hơn sẽ qua Mễ lại. Hai là từ đây đi thẳng qua Bồ Đào Nha, để có cơ hội định cư luôn ở đó. Chúng tôi có đường dây đi qua bên ấy.”
         Anh và bốn người trong nhóm hội ý với nhau. Cuối cùng, một cặp vợ chồng quyết định quay lại Ba Tây, còn anh và cặp vợ chồng kia muốn đi tiếp. Tiến mang lại cho ba người ba tờ giấy, bảo:
         “Họ đòi thêm năm ngàn đôla nữa. Anh chị ký vào giấy nợ này. Xin nhắc nguyên văn lời họ nói: ‘Nhớ trả nợ. Dù có ở cùng trời cuối đất, họ cũng biết anh chị ở đâu để đến đòi.’”

Chặng cuối cùng

Nhờ món nợ mới, bọn anh được một chiếc xe Jeep đến đón ra phi trường. Từ đó, máy bay đi Mexico City để quá cảnh rồi bay tiếp đi Ma-rốc. Trên chuyến bay cất cánh từ phi trường Mễ Tây Cơ, anh mới biết được sẽ đi Casablanca. Casablanca! Anh làm sao quên được siêu phẩm điện ảnh trắng đen về cuộc tình sóng gió của hai nhân vật do Humphrey Bogard và Ingrid Bergman thủ diễn, cũng như bài hát trữ tình cùng tên với giọng ca bất hủ của Bertie Higgins. Nhưng ngay lúc này anh không còn lòng dạ đâu mà thưởng thức cảm giác được đến thành phố nổi tiếng này nữa. Vì từ đó, bọn anh phải đáp xe lửa mất hai tiếng ra cảng El Jadida. Đến cảng, có người dẫn xuống thuyền để đi—thật ra là để trốn—sang Bồ Đào Nha. Vậy là cuối cùng anh đã trở thành thuyền nhân, em ạ.   

         Chuyến hải hành, một chuyến vượt biển thật sự mà anh không hề ngờ tới lúc ban đầu, phải mất đến hai ngày trời mới đến được bến bờ. Anh nằm bẹp trên thuyền, dưới là nước, trên là trời, còn trong lòng rỗng không, chẳng một hạt cơm lẫn một tia hy vọng nào. Anh chỉ uống nước cầm chừng. Cảm xúc và cảm giác đều tê dại. Trí óc nhưng đông cứng lại. Và anh nghĩ đến em. Chỉ có em là điều duy nhất còn sót lại trong trí anh trong những giờ phút ấy. Và anh thấy mình không được quyền buông xuôi, không được quyền bỏ cuộc.

         Chiếc thuyền lặng lẽ, đúng hơn là lén lút, tấp vào một bãi biển hoang vắng của miền Algarve. Cả một vùng biển nằm ngái ngủ trong đêm khuya lạnh lẽo vào tháng Mười. Xa xa là ánh điện sáng choang của một thành phố nào đó. Khi ba người trong bọn anh cùng người lái thuyền vừa đặt chân xuống mặt cát mềm, ướt đẫm sương đêm thì đột nhiên có tiếng súng lên cò lách tách và một giọng lạnh lùng, sang sảng cất lên:

         “Não se mexam! Vocês estão presos!”

         Không cần hiểu câu nói đó, bọn anh đã biết phải làm gì, vì người lái thuyền đã vội đưa hai tay lên trời. Thế rồi chuyện gì phải đến đã đến. Bốn người xâm nhập trái phép được đưa về một nhà giam gần đó. Cả bọn được phát quần áo, mền gối để qua đêm, sau khi mỗi người được ăn một đĩa cơm mà họ gọi là arroz de tomate và uống một ly nước lạnh. Đó là ly nước lạnh ngon ngọt nhất trong đời anh, em ạ.

         Và đêm hôm đó cũng là đêm anh ngủ ngon nhất, sau bao nhiêu ngày lênh đênh từ nước này sang nước khác, khi thì bay trên không, khi thì đi trên đất và khi thì nổi trôi trên sóng nước. Đang bị giam cầm mà anh bỗng thấy tự do hơn bao giờ hết. Anh ngủ một giấc không mộng mị. Khi hai mắt anh nhắm lại, thế giới chỉ còn lại một không gian, một thời gian, không còn trên dưới, tả hữu, trong ngoài gì nữa. Vũ trụ trở thành nhất nguyên.

         Buổi sáng, anh và cặp vợ chồng cùng đi giật mình thức giấc vì tiếng ồn ào bên ngoài. Lúc bấy giờ, anh mới chợt thấy là còn nhiều người khác bị giam gần bọn anh. Mấy người cảnh sát nhìn nhau lắc đầu, vẻ ngao ngán. Anh đoán chắc họ đã quá quen với cảnh này.
         Bên ngoài, có tiếng la đồng thanh:
         “Liberdade para os inmigrantes!”
         Trong xà-lim bên cạnh, một người ngó qua bọn anh, giảng nghĩa rành rọt bằng tiếng Việt:
         “Họ đòi trả tự do cho chúng ta đó!”
         Người vợ trong nhóm ba người bọn anh tò mò hỏi:
         “Anh người Việt hả? Anh đi từ đâu tới vậy?”
         “Ba Tây!” Anh ta đáp, giọng có chút tự phụ.
         “Ở bên đó không sướng sao, qua đây chi cho bị bắt?” Đến lượt anh chồng hiếu kỳ.
         “Sướng gì mà sướng!” Anh ta bĩu môi. “Tham nhũng thấy mẹ, từ trên xuống dưới!”
         Tiếng gõ cửa nghe dồn dập. Một viên cảnh sát mở hé cánh cửa, nói với những người bên ngoài:
         “Chúng tôi chỉ mời ông cảnh sát trưởng Coelho và một người đại diện của AIMA vào thôi.”
         Từ chỗ mình đang ngồi, anh thấy một người đàn ông có vẻ là Á châu và một người đàn bà tóc vàng bước vào. Anh chàng người Việt nhanh miệng nói:
         “Ha! PSP đụng độ AIMA!”
         Nhìn qua nét mặt ngơ ngẩn của bọn anh, anh ta tiếp luôn:
         “Polícia de Segurança Pública đụng độ Agência para a Integração Migrações e Asilo!”
         Ai nấy đều nhún vai, vì anh ta có nói đầy đủ mấy chữ viết tắt thì bọn anh vẫn như vịt nghe sấm. Người chồng lộ vẻ khâm phục:
         “Anh chắc ở bên này lâu rồi nên nói tiếng nghe thành thạo quá hen!”
         “Năm năm ở Ba Tây, ba năm ở Bồ Đào Nha này,” anh ta phổng mũi đáp.
         Người đàn ông Á châu và người đàn bà tóc vàng nói chuyện với mấy viên cảnh sát một lúc rồi quay lại, tiến đến gần bọn anh. Anh chợt lạnh toát người, nói không thành tiếng:
         “Anh Vũ! Anh Vũ! Em đây… Chương đây… Em của anh đây!”
         Anh Vũ nhìn anh như nhìn xuyên suốt một vật vô hình, tựa hồ như không thấy anh, đừng nói chi nghe những gì anh vừa thốt lên. Người đàn bà hỏi anh Vũ:
         “Anh ta nói gì với ông vậy?”
         “À,” anh Vũ đáp, “anh ta nói ‘Cứu tôi với’. Cô biết đó, di dân nào cũng nói câu đó cả, bằng nhiều thứ tiếng khác nhau.”
         Anh tuyệt vọng ngó về hướng anh chàng người Việt, khẩn khoản:
         “Anh nói giùm với bà kia cho tôi đi.”
         “Ele disse que é irmão desse homem,” anh người Việt nói.
         “Có thật vậy không?” Người đàn bà hỏi anh Vũ.
         “Chắc hắn lầm tôi với ai đó,” anh Vũ thản nhiên đáp rồi nói tiếp, “Cô có muốn giúp những người này làm giấy tờ để được trợ cấp tạm thời thì cứ việc, nhưng cuối cùng nếu họ không chứng minh được tình trạng di trú thì… cô biết chuyện gì sẽ xảy ra rồi đó.”
         Nói xong, anh Vũ—đúng hơn là comandante Coelho—quay ngoắt đi, bước hẳn ra ngoài đường. Anh người Việt, cặp vợ chồng cùng đi, và nhiều người khác nữa nhất loạt nhìn anh đang đứng như vừa hoá đá.
         Em biết không, ngay lúc đó, anh mới chắc rằng mình đã đúng. Rằng anh Vũ là không bao giờ có thật.
 
Trần C. trí
Tặng Lê Sông Văn
  

Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.