Hôm nay,  

Trông người lại nghĩ đến ta!

5/1/202600:00:00(View: 820)

trong nguoi lai nghi

Trực thăng đưa người tị nạn từ Sài Gòn đến tàu sân bay USS Hancock (CV-19) của Hải quân Hoa Kỳ. Ảnh : Wikipedia.

 
«… Có vết thương cả đời còn rướm máu
Có nỗi buồn, mãi mãi vẫn không phai!
-      Dư Thị Diễm Buồn…»
 
Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng.
 
«… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
 
Họ chiếm hữu đất đai ruộng vườn nhà cửa của người dân bên thua cuộc bằng cách lấy đầy đủ lý do vô cớ đuổi người người đi vùng kinh tế mới với ý ác đầy ải không kể tình đồng bào, tình nhân loại, tình Việt Nam…
 
Tội ác còn tầy đình vô kể là sự trả thù tàn bạo thâm độc khi chúng đưa lừa rồi lưu đầy lao tù lao động khổ sai cả hàng triệu quân, cán, chính miền Nam cho họ dần mòn chết rục trong rừng sâu nước độc… để chúng rảnh rang có cơ hội phá hỏng tan hoang kỷ cương của xã hội miền Nam.
 
Đúng thế, Dương Thu Hương đã khóc và bỏ đi xa vì bà đã chợt nhận ra sự hỗn loạn luân lý đạo đức ở xã hội, ở thế hệ Bắc Kỳ của bà. Có một sự trái ngược về nếp sống về văn hóa văn minh, nhất là về tự do dân chủ giữa hai miền Nam Bắc.
 
Vâng sau 30-04-1975, đoàn quân Bắc Việt cộng sản thực thi toàn thủ đoạn vơ vét và ăn cướp giữa thanh thiên bạch nhật… tổ chức vượt biên chánh thức để lấy vàng, vơ vét tài sản nhân dân. Sau nửa thế kỷ, chúng còn nẩy sinh ra một bầy đảng viên tham nhũng.
 
Cứ gọi là vừa đánh trống vừa ăn cướp… hay là vừa ăn cướp vừa la làng cũng y thế… chúng đang vừa tận dụng tham nhũng, chúng vừa hô hào chống tham nhũng!
 
Cứ bảo là một con sâu làm rầu nồi canh, nhưng bây giờ một nồi canh có đầy sâu, thì làm sao mà chữa, chỉ còn nước mang đổ bỏ… và có lẽ phải đổ thuốc sát trùng vô chỗ canh đổ bỏ đó… mới an toàn cho xã hội loài người.
 
Nói vào ngay, là người cộng sản Hà Nội, họ đã sai, sai tự ngàn xưa và sai cho đến lúc vào lấn chiếm miền Nam thân yêu của chúng ta. Sai mãi. Ngay khi cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa, thượng tá Bùi Tùng, chính ủy trung đoàn 66, sư đoàn 304 gặp gỡ tổng thống Dương Văn Minh ở dinh Đôc Lập. Ông Bùi Tùng đã có lời nói trịch thượng hách dịch: «các anh không có gì, còn gì nữa đâu mà bàn giao…!» Họ ủi sập cổng dinh Độc Lập hung hăng và côn đồ! Rồi chẳng biết là do các nhà báo ngoại quốc, họ lầm lộn tên họ người Việt Nam, cứ Bùi này rồi Bùi kia… mà kể rằng ông Bùi Tín vào gặp ông Dương Văn Minh và cũng tỏ thái độ Bùi Tùng: «các anh còn gì nữa đâu mà bàn giao?» Rất hung hăng và trịch thượng.
 
Ông Bùi Tín, sau này ra ngoại quốc, theo một bài viết của ông, thì ông xác nhận là ông có vào dinh Độc Lập và có nói với ông Dương Văn Minh là đại ý cũng như vậy… thì ra, người thắng cuộc, họ kiêu ngạo và ưa nói lời khinh bạc. Họ không nghĩ là họ đã cưỡng chiếm được một miền Nam trù phú, giầu có, đầy tình nghĩa… mà mãi mãi, họ, mỏi tay khuân về Hà Nội không hết của và nhứt là chưa học hết nhân nghĩa, luân lý, nền nếp sống nhân bản của người miền Nam.
 
Rồi sau nửa thế kỷ, họ còn làm bại hoại gia phong, cơ đồ của tổ tiên chúng ta biết mấy?
 
Gần đây, Tô Lâm chia lại tỉnh thành làng xã, mà ông ấy cứ biểu là «thu dọn giang sơn».
 
Trời ơi, giang sơn Việt Nam, tổ tiên chúng ta mấy mươi ngàn năm gầy dựng nên, ông và đảng cộng sản của ông đang làm rối loạn xã hội mà lại bảo là thu dọn thì thiệt là lộng ngôn và u tối!
 
Mà cả cái đảng cộng sản và mấy mươi con người công sản Việt Nam đó, từ đầu tới cuối, họ u tối và độc ác làm sao!
 
Họ u tối và nhìn cạn, hay là họ ngu dốt kiểu «ếch ngồi đáy giếng»… có lẽ, vì họ không kịp mở mắt kịp đọc, nhìn hay tìm hiểu xem, cách nay hơn 100 năm, là hơn một thế kỷ, mà cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ đã kết thúc như thế nào và cách hành xử của các tướng tư lệnh Nam quân và Bắc quân của người Mỹ đầy nhân đạo êm đềm và thấm đẫm tình người!
 
Khi cuộc chiến tương tàn giữa hai miền Nam và Bắc Mỹ kết thúc cách nay hơn một thế kỷ rưởi, là 158 năm, thì đã để lại hơn nửa triệu người thiệt mạng và hao tốn hàng tỷ mỹ kim cho cả hai bên. Sự hận thù còn lại kéo dài cũng hàng trăm năm.
 
Rồi một ngày trận chiến kết thúc chính thức tại tòa án làng Appomatox thuộc tiểu bang Virginia. Tại đây tướng tư lệnh Robert Lee đã ký giấy đầu hàng Bắc quân do tướng Ulysses Grant chỉ huy, hòa ước ký kết vào ngày 9-4-1865 phòng họp ký kết hòa ước hiện nay là một kỷ niệm thiêng liêng, tầm vóc quốc gia và vẫn được giữ nguyên không thay đổi.
 
Ngày ký hòa ước, chúa nhựt 9-4-1965 tướng Lee đến điểm hẹn trước, tướng Grant tới sau và hai người bắt tay nhau, tướng Grant hơi lúng túng vì tướng Lee là bạn học xưa và cũng là đối thủ của ông trong trận chiến. Tướng Lee vừa viết thư đầu hàng và tướng Grant tỏ ra lúng túng vì ông không muốn làm mất thể diện của người bạn mà ông vẫn kính mến lúc nào.
 
Tướng Grant tỏ ra rất ngập ngừng do dự ông đắn đo lời nói, sợ làm tổn thương sự đầu hàng của Nam quân. Sau này ông kể rằng lúc đó tôi không hiểu tướng Lee có cảm nghĩ gì, riêng phần tôi tôi buồn và chán nản, tôi thương vô cùng những người lính chiến đã chiến đấu gian khổ và dũng cảm cho lý tưởng của họ… dù là trước đó không lâu, tôi vui mừng nhận được văn bản đầu hàng của Nam quân ông cũng lý luận là trong cuộc nội chiến tương tàn thì cả hai phe đều thua thiệt và có gì mà vui mừng đâu!
 
Dĩ nhiên là cuộc chiến tranh nào, khốc liệt tới đâu rồi cũng phải kết thúc.
 
Tướng Lee, trước thái độ ôn hòa của Bắc quân, ông đã hỏi xem điều kiện ra sao để phe ông đầu hàng?
 
Tướng Grant tỏ ra cao thượng khi ông nói rất vắn tắt: «Nam quân trao lại võ khí đạn dược lớn, trọng yếu cho Bắc quân. Riêng các sĩ quan và tất cả quân nhân được phép giữ lại bên mình súng cá nhân phòng thân, cùng tất cả các phương tiện di chuyển như xe kéo, lừa, ngựa để có thể trở về nguyên quán làm ăn và xây dựng đời sống mới cùng là giúp gia đình ổn định.
 
Tướng Lee tỏ ra ngưỡng mộ và hết sức biết ơn khi không một sĩ quan hay binh lính nào của ông bị bắt giữ hay cầm tù… thêm nữa khi Nam quân tỏ ra khó khăn vì gần hết  hay đã hết lương thực thì tướng Grant ra lệnh mở kho thặng dư ra chia phát cho người anh em đang cần.
 
Ba ngày sau, 12-4, là ngày giao nộp vũ khí, thì cả hai tướng đều vắng mặt, họ bảo rằng họ bận trở về quê xa thăm gia đình. Họ nại cớ.
 
Tướng Yoshua Chamberlain thay thế tướng Grant nhận lãnh sự đầu hàng với đầy đủ quân trang quân dụng. Tướng Chamberlain cũng kể lại trong hồi ký của ông. The passy of armies rằng: về phần chúng tôi, không một ai vui mừng hay bàn tán, tất cả là một sự yên lặng vì cảm nhận được rằng qua cuộc nội chiến tương tàn, không ai thắng cả, hai bên đều thua thiệt, nếu không muốn nói là cả hai bên đều thua… đều thất bại!
 
Bàn ghế vật dụng trong tòa nhà ký kết hòa bình ở tòa án làng Appomatox được giữ nguyên như một kỷ vật của tình thương, của sự hòa ái; sau này tất cả và bàn giấy mà tướng Nam quân đã ký giấy đầu hàng đều được chuyển về viện bảo tàng Smith Sonian trưng bầy. Tướng lãnh đạo Bắc quân rời khỏi bàn đàm phán, ông tuyên bố ngay tức thì rằng trước đây Nam quân là ngụy quân ngụy quyền và giờ chiến tranh đã chấm dứt, tất cả họ đã trở thành đồng bào thân yêu của chúng ta!
 
Những người dân Mỹ đã biết đặt sự hàn gắn vết thương chiến tranh sau một cuộc nội chiến tương tàn ròng rã nồi da xáo thịt, cũng là nhờ phần lớn tấm lòng khoan hòa, độ lượng và cử chỉ thánh thiện, nhân ái của các vị tướng lãnh đạo… họ gạt bỏ vũ khí và chấp nhận tình người, tình đồng bào, một cách chân thành đúng nghĩa, không lừa lọc mưu mô.
 
Từ đó, họ kết thúc thù hận, xây dựng lại ưu tú xã hội, kinh tế, chính trị v.v…
 
Ở Việt Nam, sau 30-4-1975 thì trái ngược, đầy lừa lọc và thù hằn, đầy mưu mô xảo trá để báo thù và dồn dân chúng vào cùng đường hết chỗ sống đến phải liều mạng trốn chạy…
 
Chính sách hà khắc của nhà nước cộng sản đã xua đuổi chúng ta trốn chạy bằng đủ cách đường bộ, đường biển, ra đi tìm sự sống mong manh trong tuyệt vọng:
 
Người buông xuôi về nơi đáy nước
Người có mộng một nấm mộ xanh?
              Lời kinh đêm của Việt Dzũng
 
Có bao giờ cộng sản Việt Nam họ tự hỏi: tại sao, tại sao dân phải trốn chạy như thế không? Không, không… họ uốn lưỡi gọi chúng ta là «khúc ruột ngoài ngàn dặm…» có lúc họ không ngớt ngon giọng kêu gọi «hòa hợp hòa giải» dân tộc!
 
Nhưng làm sao mà hòa giải hòa hợp với những con người đã mang trong tâm trí họ tính chất ròng cộng sản.
 
50 năm sau, hay hai lần 50 năm, sự ngăn cách giữa bên thắng cuộc và những người di tản, phải sống ly hương, càng ngày càng xa nhau thêm.
 
Thật đáng buồn, buồn thấm thía vì có lẽ chẳng bao giờ, hai bờ đến gần nhau được!
 
Ký ức tháng tư 2026
Paris tháng tư vào mùa xuân
Chúc Thanh xin tri ơn những ý kiến
của bác Tích Cốc Ngô Văn Phát qua bài «lằn ranh đỏ».

Chúc Thanh 
 

Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng.
Tháng 7 trời xanh cao, mùa lên hâm nóng. Mặt đất nung nhiệt ngấm ngầm địa chấn, như muốn cùng người rung vang lời ngân quá khứ. Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm, “mù không lối vào...” (TCS). Vang vang trong gió, lời trẻ thơ láng giềng vọng lại đùa vui tiếng nước...
Nếu Thanksgiving ở bên Mỹ mang màu sắc rộn rã chuẩn bị cho mùa Giáng Sinh, thì Thanksgiving bên Canada lại rơi vào Tháng Mười dịu êm, có đủ màu sắc nâu vàng đỏ của lá cây chuyển màu cuối Thu, với màu cam của những trái pumpkins cho lễ hội Halloween . Những ngày này, gia đình tôi chộn rộn với những đợt “thu hoạch” cuối cùng, chuẩn bị dọn dẹp vườn tược sạch sẽ trước khi mùa lạnh đang đến. Theo ý nghĩa nguyên thủy của Thanksgiving là Tạ Ơn đất trời cho mùa màng bội thu, thì năm nay gia đình tôi cũng xin được Tạ Ơn. Mấy cây táo và plum trúng mùa trĩu quả, hái mấy lượt vẫn không hết. Những quả plum tím căng mọng ngọt ngào, vừa đem tặng bạn bè, hàng xóm, vừa để đông lạnh ăn dần, mà vẫn còn mấy rổ tươi đầy ắp. Mùa táo, nhiều gia đình Việt Nam thích đem ngâm chua ngọt, trong khi những người bản xứ làm mứt táo, hoặc sên táo làm apple pie, một trong những món bánh khoái khẩu của nhiều người trong bàn ăn Thanksgiving bên cạnh pumpkin pie .
Nhạc sĩ Hùng Lân mất vào ngày 17/9/1986 tại Sài Gòn. Hôm nay, ngày 17/9/2025 tôi nhớ tới ông. Tính ra đã 39 năm. Ba năm trước, tại nhà thờ Phanxicô Dakao đã có một lễ giỗ 36 năm ngày mất của ông. Linh mục Đỗ Xuân Quế, chủ tế lễ giỗ, đã nói trong thánh lễ: “‘Hôm nay là lễ giỗ thứ 36 của ông Phêrô Hoàng Văn Hương tức là nhạc sĩ Hùng Lân. Ông là người đáng cho chúng ta trân trọng và quý nhớ. Vậy chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho ông được vào nước Thiên Chúa. Nếu ông đã được vào rồi thì xin nhớ đến chúng ta là những người đang tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế đang hướng về Nước Trời.” Sau thánh lễ là chương trình tưởng niệm trong đó có tiết mục trình diễn nhạc của Hùng Lân, cả nhạc đạo lẫn nhạc đời. Người dẫn chương trình cho tiết mục này là nhạc sĩ Cao Huy Hoàng, đến từ Phan Thiết. Ông chia sẻ: “Nếu ngày ấy, thầy Hùng Lân qua đời, Chúa hỏi ‘nén bạc của ta đâu?’, thầy có lẽ không trả lời hoặc chưa trả lời kịp thì hôm nay, chúng ta có thể nhìn lại và thấy được rằng nén bạc của thầ
« Chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng, có người con gái đẹp như trăng… khi gặp em rõ thấy một bà chằng! » … Chằng tinh, hay chằn tinh là một loài người hay cũng coi là một loài quỷ hung ác. Tùy vào hoàn cảnh, tùy vào người ta gặp, ta đối diện. Nay thế giới có nhiều loại chằn tinh, chằn ở trong mọi lãnh vực, chính trị, văn hoá, kinh tế, giáo dục và cả trong xã hội v.v…Do đấy, ta muốn tìm hiểu nguyên do chằn ở đâu ra. Hẳn là trong văn hóa Nam Bộ Việt Nam - Ấn Độ - Khmer…? Theo tác giả Huỳnh Thanh Bình, chằn là một loại sinh vật truyền kỳ, làm hộ pháp, canh giữ chùa, tháp, chánh điện phật giáo nam truyền và chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa và tâm linh của người Khmer nam bộ, phổ biến trong kho tàng truyện kể dân gian và tuồng tích sân khấu của đa phần người Đông Nam Á.
Cả ông ta và tôi cùng cười xòa. Ui, mình đúng là đãng trí thứ thiệt. Phần Lan đã gia nhập Eurozone từ 1999 và dùng Euro ngay từ buổi đầu như những quốc gia thành viên khác. Ngày trước, nhắc đến những thủ đô bắc Âu, người ta thường nghĩ đến Oslo giàu có của Na Uy, Copenhagen trẻ trung của Đan Mạch. Giờ đây, Helsinki dần dà từng bước góp mặt vào danh sách những thủ đô được du khách ưa chuộng. Sức thu hút của thành phố ngày càng tăng. Từ 15 năm nay, Helsinki là một trong những thành phố tân tiến nhất Âu châu.
Bà xỏ chân vào đôi dép, lê lẹp xẹp vào buồng. Bà lấy ra một bịch nhựa trong đó đựng trăm thứ lặt vặt không ra hình thù gì. Bà nhìn trước, ngó sau như người ăn trộm. Chị mua ve chai đứng ở ngoài cửa bếp. Như một việc đã quá quen thuộc, chị đón lấy cái túi, móc vào cái cân xách. Trước kia chị phân loại giấy ra giấy, nhựa ra nhựa, nay thì hai bên đã thỏa thuận với nhau là có một cái giá trung bình cho toàn thể. Bà thì nhìn đăm đăm vào mớ hàng lặt vặt ấy như nhìn một thứ gì quý giá lắm. Mà không quý sao được, vì đó là kết quả của nhiều tuần bà lượm lặt và cất giữ.
Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng trong giấc ngủ tôi vẫn nằm mơ tới chuyện thi Tú tài và giật mình tỉnh dậy, mừng húm mà mồ hôi vẫn đổ ra. Trong lần thi Tú Tài I, tôi đã thức đêm thức hôm học đến bị yếu phổi. Chữ “Tú Tài” nặng nhọc với tôi như vậy tuy nghĩa của nó là “đẹp đẽ, có khả năng, tài giỏi”.Ông Tú Xương có lẽ cay đắng với chữ “Tú Tài” không kém gì tôi. Ông vác lều chõng đi thi tất cả 8 lần, từ khoa Bính Tuất (1886) tới khoa Bính Ngọ (1906). Ba lần đầu ông đạp vỏ chuối, tới lần thứ tư, năm Giáp Ngọ (1894), ông mới vớ được cái Tú Tài nhưng là Tú Tài đậu vớt, chữ ngày đó gọi là “Tú Tài Thiên Thủ”. Ông chết với cái danh Tú Tài, chẳng bao giờ kiếm được cái “Cử Nhân” mặc dù vẫn cặm cụi đi thi.
*SONG THAO Tôi chừ chỉ chơi thể thao trên ghế sa-lông, ngồi coi người ta chơi. Thứ tôi coi người ta chơi là hockey, tennis và đôi khi bóng tròn. Mình không còn khả năng thì coi người ta chạy nhảy cũng là một cách chơi. Cách chơi biết mình biết ta. Các ông bạn tôi cũng chơi như tôi. Có điều mỗi người chơi theo ý thích riêng của mình. Ông Hoàng Xuân Sơn, ông Luân Hoán cũng na ná như tôi. Nhưng ông Luân Hoán hơi ngả về bóng tròn. Ông Hồ Đình Nghiêm máu mê hơn. Ông sa đà vào bóng tròn. Thời gian vừa qua, ông coi giò coi cẳng các nữ nhân tranh giải bóng tròn thế giới FIFA một cách mê mệt. Ngày ngày ông bá cáo bà con trên Facebook tường tận về từng cặp chân vàng mà trắng, cô nào đá hay, cô nào chụp banh giỏi, ông rành như có họ hàng thân thiết.
Bạn có thể xem bài này như truyện ngắn. Có thể gọi là nhiều truyện ngắn trong một truyện ngắn, hay là ghép từ nhiều mẩu truyện. Bạn cũng có thể đọc như tùy bút, hay bản tin, hay là vân vân... nghĩa là bất cứ những gì có chữ, có thể đọc lên, có thể nghe được như âm thanh. Đó là những gì tự nhiên hiện lên trong trí nhớ của tôi, những gì tôi bất chợt nghe bên tai khi ngồi bên sông, ven biển, góc rừng, hay khi nửa đêm nhìn ra hàng hiên.
Chẳng hiểu vì sao, vào lúc bắt đầu cảm thấy già, tôi lại lẩm cẩm đi tìm lại định nghĩa về chữ “bạn”. Bạn tôi là ai? Tại sao tôi lại kết bạn với họ? Lúc trẻ đã từng có một thời suýt bị vợ bỏ vì “lo cho bạn nhiều hơn cho gia đình”; nhưng khi đến độ tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận” tôi lại đâm ra làm biếng gặp hầu hết những nhóm bạn từng một thời thân thiết.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.