Hôm nay,  

Trông người lại nghĩ đến ta!

01/05/202600:00:00(Xem: 819)

trong nguoi lai nghi

Trực thăng đưa người tị nạn từ Sài Gòn đến tàu sân bay USS Hancock (CV-19) của Hải quân Hoa Kỳ. Ảnh : Wikipedia.

 
«… Có vết thương cả đời còn rướm máu
Có nỗi buồn, mãi mãi vẫn không phai!
-      Dư Thị Diễm Buồn…»
 
Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng.
 
«… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
 
Họ chiếm hữu đất đai ruộng vườn nhà cửa của người dân bên thua cuộc bằng cách lấy đầy đủ lý do vô cớ đuổi người người đi vùng kinh tế mới với ý ác đầy ải không kể tình đồng bào, tình nhân loại, tình Việt Nam…
 
Tội ác còn tầy đình vô kể là sự trả thù tàn bạo thâm độc khi chúng đưa lừa rồi lưu đầy lao tù lao động khổ sai cả hàng triệu quân, cán, chính miền Nam cho họ dần mòn chết rục trong rừng sâu nước độc… để chúng rảnh rang có cơ hội phá hỏng tan hoang kỷ cương của xã hội miền Nam.
 
Đúng thế, Dương Thu Hương đã khóc và bỏ đi xa vì bà đã chợt nhận ra sự hỗn loạn luân lý đạo đức ở xã hội, ở thế hệ Bắc Kỳ của bà. Có một sự trái ngược về nếp sống về văn hóa văn minh, nhất là về tự do dân chủ giữa hai miền Nam Bắc.
 
Vâng sau 30-04-1975, đoàn quân Bắc Việt cộng sản thực thi toàn thủ đoạn vơ vét và ăn cướp giữa thanh thiên bạch nhật… tổ chức vượt biên chánh thức để lấy vàng, vơ vét tài sản nhân dân. Sau nửa thế kỷ, chúng còn nẩy sinh ra một bầy đảng viên tham nhũng.
 
Cứ gọi là vừa đánh trống vừa ăn cướp… hay là vừa ăn cướp vừa la làng cũng y thế… chúng đang vừa tận dụng tham nhũng, chúng vừa hô hào chống tham nhũng!
 
Cứ bảo là một con sâu làm rầu nồi canh, nhưng bây giờ một nồi canh có đầy sâu, thì làm sao mà chữa, chỉ còn nước mang đổ bỏ… và có lẽ phải đổ thuốc sát trùng vô chỗ canh đổ bỏ đó… mới an toàn cho xã hội loài người.
 
Nói vào ngay, là người cộng sản Hà Nội, họ đã sai, sai tự ngàn xưa và sai cho đến lúc vào lấn chiếm miền Nam thân yêu của chúng ta. Sai mãi. Ngay khi cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa, thượng tá Bùi Tùng, chính ủy trung đoàn 66, sư đoàn 304 gặp gỡ tổng thống Dương Văn Minh ở dinh Đôc Lập. Ông Bùi Tùng đã có lời nói trịch thượng hách dịch: «các anh không có gì, còn gì nữa đâu mà bàn giao…!» Họ ủi sập cổng dinh Độc Lập hung hăng và côn đồ! Rồi chẳng biết là do các nhà báo ngoại quốc, họ lầm lộn tên họ người Việt Nam, cứ Bùi này rồi Bùi kia… mà kể rằng ông Bùi Tín vào gặp ông Dương Văn Minh và cũng tỏ thái độ Bùi Tùng: «các anh còn gì nữa đâu mà bàn giao?» Rất hung hăng và trịch thượng.
 
Ông Bùi Tín, sau này ra ngoại quốc, theo một bài viết của ông, thì ông xác nhận là ông có vào dinh Độc Lập và có nói với ông Dương Văn Minh là đại ý cũng như vậy… thì ra, người thắng cuộc, họ kiêu ngạo và ưa nói lời khinh bạc. Họ không nghĩ là họ đã cưỡng chiếm được một miền Nam trù phú, giầu có, đầy tình nghĩa… mà mãi mãi, họ, mỏi tay khuân về Hà Nội không hết của và nhứt là chưa học hết nhân nghĩa, luân lý, nền nếp sống nhân bản của người miền Nam.
 
Rồi sau nửa thế kỷ, họ còn làm bại hoại gia phong, cơ đồ của tổ tiên chúng ta biết mấy?
 
Gần đây, Tô Lâm chia lại tỉnh thành làng xã, mà ông ấy cứ biểu là «thu dọn giang sơn».
 
Trời ơi, giang sơn Việt Nam, tổ tiên chúng ta mấy mươi ngàn năm gầy dựng nên, ông và đảng cộng sản của ông đang làm rối loạn xã hội mà lại bảo là thu dọn thì thiệt là lộng ngôn và u tối!
 
Mà cả cái đảng cộng sản và mấy mươi con người công sản Việt Nam đó, từ đầu tới cuối, họ u tối và độc ác làm sao!
 
Họ u tối và nhìn cạn, hay là họ ngu dốt kiểu «ếch ngồi đáy giếng»… có lẽ, vì họ không kịp mở mắt kịp đọc, nhìn hay tìm hiểu xem, cách nay hơn 100 năm, là hơn một thế kỷ, mà cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ đã kết thúc như thế nào và cách hành xử của các tướng tư lệnh Nam quân và Bắc quân của người Mỹ đầy nhân đạo êm đềm và thấm đẫm tình người!
 
Khi cuộc chiến tương tàn giữa hai miền Nam và Bắc Mỹ kết thúc cách nay hơn một thế kỷ rưởi, là 158 năm, thì đã để lại hơn nửa triệu người thiệt mạng và hao tốn hàng tỷ mỹ kim cho cả hai bên. Sự hận thù còn lại kéo dài cũng hàng trăm năm.
 
Rồi một ngày trận chiến kết thúc chính thức tại tòa án làng Appomatox thuộc tiểu bang Virginia. Tại đây tướng tư lệnh Robert Lee đã ký giấy đầu hàng Bắc quân do tướng Ulysses Grant chỉ huy, hòa ước ký kết vào ngày 9-4-1865 phòng họp ký kết hòa ước hiện nay là một kỷ niệm thiêng liêng, tầm vóc quốc gia và vẫn được giữ nguyên không thay đổi.
 
Ngày ký hòa ước, chúa nhựt 9-4-1965 tướng Lee đến điểm hẹn trước, tướng Grant tới sau và hai người bắt tay nhau, tướng Grant hơi lúng túng vì tướng Lee là bạn học xưa và cũng là đối thủ của ông trong trận chiến. Tướng Lee vừa viết thư đầu hàng và tướng Grant tỏ ra lúng túng vì ông không muốn làm mất thể diện của người bạn mà ông vẫn kính mến lúc nào.
 
Tướng Grant tỏ ra rất ngập ngừng do dự ông đắn đo lời nói, sợ làm tổn thương sự đầu hàng của Nam quân. Sau này ông kể rằng lúc đó tôi không hiểu tướng Lee có cảm nghĩ gì, riêng phần tôi tôi buồn và chán nản, tôi thương vô cùng những người lính chiến đã chiến đấu gian khổ và dũng cảm cho lý tưởng của họ… dù là trước đó không lâu, tôi vui mừng nhận được văn bản đầu hàng của Nam quân ông cũng lý luận là trong cuộc nội chiến tương tàn thì cả hai phe đều thua thiệt và có gì mà vui mừng đâu!
 
Dĩ nhiên là cuộc chiến tranh nào, khốc liệt tới đâu rồi cũng phải kết thúc.
 
Tướng Lee, trước thái độ ôn hòa của Bắc quân, ông đã hỏi xem điều kiện ra sao để phe ông đầu hàng?
 
Tướng Grant tỏ ra cao thượng khi ông nói rất vắn tắt: «Nam quân trao lại võ khí đạn dược lớn, trọng yếu cho Bắc quân. Riêng các sĩ quan và tất cả quân nhân được phép giữ lại bên mình súng cá nhân phòng thân, cùng tất cả các phương tiện di chuyển như xe kéo, lừa, ngựa để có thể trở về nguyên quán làm ăn và xây dựng đời sống mới cùng là giúp gia đình ổn định.
 
Tướng Lee tỏ ra ngưỡng mộ và hết sức biết ơn khi không một sĩ quan hay binh lính nào của ông bị bắt giữ hay cầm tù… thêm nữa khi Nam quân tỏ ra khó khăn vì gần hết  hay đã hết lương thực thì tướng Grant ra lệnh mở kho thặng dư ra chia phát cho người anh em đang cần.
 
Ba ngày sau, 12-4, là ngày giao nộp vũ khí, thì cả hai tướng đều vắng mặt, họ bảo rằng họ bận trở về quê xa thăm gia đình. Họ nại cớ.
 
Tướng Yoshua Chamberlain thay thế tướng Grant nhận lãnh sự đầu hàng với đầy đủ quân trang quân dụng. Tướng Chamberlain cũng kể lại trong hồi ký của ông. The passy of armies rằng: về phần chúng tôi, không một ai vui mừng hay bàn tán, tất cả là một sự yên lặng vì cảm nhận được rằng qua cuộc nội chiến tương tàn, không ai thắng cả, hai bên đều thua thiệt, nếu không muốn nói là cả hai bên đều thua… đều thất bại!
 
Bàn ghế vật dụng trong tòa nhà ký kết hòa bình ở tòa án làng Appomatox được giữ nguyên như một kỷ vật của tình thương, của sự hòa ái; sau này tất cả và bàn giấy mà tướng Nam quân đã ký giấy đầu hàng đều được chuyển về viện bảo tàng Smith Sonian trưng bầy. Tướng lãnh đạo Bắc quân rời khỏi bàn đàm phán, ông tuyên bố ngay tức thì rằng trước đây Nam quân là ngụy quân ngụy quyền và giờ chiến tranh đã chấm dứt, tất cả họ đã trở thành đồng bào thân yêu của chúng ta!
 
Những người dân Mỹ đã biết đặt sự hàn gắn vết thương chiến tranh sau một cuộc nội chiến tương tàn ròng rã nồi da xáo thịt, cũng là nhờ phần lớn tấm lòng khoan hòa, độ lượng và cử chỉ thánh thiện, nhân ái của các vị tướng lãnh đạo… họ gạt bỏ vũ khí và chấp nhận tình người, tình đồng bào, một cách chân thành đúng nghĩa, không lừa lọc mưu mô.
 
Từ đó, họ kết thúc thù hận, xây dựng lại ưu tú xã hội, kinh tế, chính trị v.v…
 
Ở Việt Nam, sau 30-4-1975 thì trái ngược, đầy lừa lọc và thù hằn, đầy mưu mô xảo trá để báo thù và dồn dân chúng vào cùng đường hết chỗ sống đến phải liều mạng trốn chạy…
 
Chính sách hà khắc của nhà nước cộng sản đã xua đuổi chúng ta trốn chạy bằng đủ cách đường bộ, đường biển, ra đi tìm sự sống mong manh trong tuyệt vọng:
 
Người buông xuôi về nơi đáy nước
Người có mộng một nấm mộ xanh?
              Lời kinh đêm của Việt Dzũng
 
Có bao giờ cộng sản Việt Nam họ tự hỏi: tại sao, tại sao dân phải trốn chạy như thế không? Không, không… họ uốn lưỡi gọi chúng ta là «khúc ruột ngoài ngàn dặm…» có lúc họ không ngớt ngon giọng kêu gọi «hòa hợp hòa giải» dân tộc!
 
Nhưng làm sao mà hòa giải hòa hợp với những con người đã mang trong tâm trí họ tính chất ròng cộng sản.
 
50 năm sau, hay hai lần 50 năm, sự ngăn cách giữa bên thắng cuộc và những người di tản, phải sống ly hương, càng ngày càng xa nhau thêm.
 
Thật đáng buồn, buồn thấm thía vì có lẽ chẳng bao giờ, hai bờ đến gần nhau được!
 
Ký ức tháng tư 2026
Paris tháng tư vào mùa xuân
Chúc Thanh xin tri ơn những ý kiến
của bác Tích Cốc Ngô Văn Phát qua bài «lằn ranh đỏ».

Chúc Thanh 
 

Tôi cúp phone, thay vội bộ quần áo, chạy ra ngoài xe mà muốn kêu trời! Trong cái tiệm thuốc Shoppers Drug Mart này, ngoài nhóm nhân viên ở quầy bên ngoài bán Grocery và nhóm bán mỹ phẩm, thì trong quầy pharmacy, ngoài các dược sĩ là nhóm “assistant” (Dược tá) do tôi …cầm đầu vì tôi lớn tuổi nhất và kinh nghiệm làm việc lâu nhất, nên được đám Dược tá gọi là … “chị Đại” chớ thực ra tôi đâu có chức quyền gì, vì mỗi “ca” làm có một “boss” đó là người Dược Sĩ của ca làm đó . Vậy mà hễ có chuyện gì lớn, nhỏ, từ chuyện giải quyết khiếu nại của khách hàng, những khúc mắc giữa các groups trong tiệm, cho đến chuyện cá nhân lặt vặt, cứ không giải quyết được là chúng lại réo tên tôi.
Chỗ anh ngồi là gần cuối máy bay. Chung quanh anh là những người có vẻ mặt lạnh lùng, khép kín. Mắt họ nhắm nghiền, không ai muốn nhìn ai. Chỉ có anh là đang cố giương mắt nhìn khoảng không gian nhỏ xíu bên ngoài cửa sổ mà hai người ngồi bên cạnh đã án ngữ gần hết. Anh muốn nhìn một mảnh của quê hương lần cuối, như thể đó là hình ảnh của em, hình ảnh vừa tan biến cách đây mười mấy phút, khi anh quay lưng đi, lẫn vào dòng hành khách nối đuôi nhau bước vào khoang máy bay.
Cơn bão tuyết đã qua hơn tuần rồi mà hai bên đường và trong các vườn cây tuyết vẫn chưa tan vì còn lạnh quá, ngày nào cũng dưới zero độ. Nhưng nhờ vậy mà những bao rác tiếp tục chồng lên nhau trên các đống tuyết cao ngất ngưởng tới thắt lưng bên đường, chờ xe đến mang đi, không có mùi hôi. Đường sá đã khó đi quanh những công trình xây dựng không ngưng nghỉ nay lại có thêm những rào cản mới, cấm người bộ hành đến gần những toà cao ốc để tránh những mảng tuyết đã bắt đầu đóng thành băng đang rơi xuống
Em nhỏ hơn tôi đúng hai tuổi. Chúng tôi cùng chào đời vào tháng Ba, cách nhau hai ngày. Hồi nhỏ, chúng tôi trông sàn sàn nhau. Mạ chúng tôi thường may sắm cho hai đứa cùng lúc, từa tựa nhau. Tôi được bộ đồ có hình trái lê, em được hình trái táo. Nhưng em cũng có những ý thích riêng của mình. Mạ dẫn hai đứa ra hàng giày dép. Tôi chọn đôi dép màu ngà, không nổi, không chìm. Em chọn đôi dép quai màu hồng tươi chói chang, nổi bật trên bàn chân ham chạy nhảy, da dang nắng, đen thùi lui.
Tôi không biết bên kia với nó là gì. Không biết nó biết không. Có thể không có khái niệm bên kia trong người nó. Chỉ có mùi nước, mùi cỏ ướt, mùi của nơi da nó sẽ được thở đầy hơn. Cơ thể nó biết phải đi về hướng đó mà không cần hỏi tại sao, không cần biết có gì chờ, không cần tính xem đáng hay không đáng.
Có những tình cảm không cần nói thành lời mà vẫn hiện hữu rất rõ trong tim. Có những tình yêu lặng lẽ, rất âm thầm nhưng vô cùng mãnh liệt. Tôi yêu em như thế, yêu theo cách lặng lẽ nhất mà một người có thể yêu; có lẽ và sẽ chẳng bao giờ em biết được những gì tôi giữ trong lòng. Huy đến trong đời tôi như một làn gió mát giữa trưa hè, không ồn ào, không phô trương, nhưng khiến tôi xao động đến tận tâm đáy tâm hồn. Em có nụ cười dịu dàng, ánh mắt trong trẻo như mặt nước hồ thu, và giọng nói nhỏ nhẹ như tiếng chuông khẽ vang trong buổi chiều tĩnh lặng. Mỗi lần nhìn em lặng lẽ ngắm mưa ngoài cửa sổ, mái tóc nhẹ bay, lòng tôi lại dâng lên một cảm giác yêu thương ngập tràn.
Tôi có đôi lần nói một cách tự hào là chẳng bao giờ giữ các cảm xúc ‘mạnh’ trong lòng. Người sống với sự quá khích thường là người bị mất sự vui sống trước tiên. Không ưa, không thích, không hợp, không ‘chịu nổi’ thì không làm bạn, thế thôi. Nhưng những năm gần đây, các cảm xúc ‘mạnh’ lại tràn lan như quả cầu bồ công anh trong gió. Những sợi tơ trắng bám nơi nào, lúc nào không biết, nhưng chúng làm người ta ngứa ngáy vô cùng. Ngứa mắt, ngứa miệng. Không thể nào không dụi mắt, không thể nào không hé môi. Sự ngứa ngáy lại này rất ác ôn: nó thích xuất hiện bất ngờ. Khi ta đang ăn trưa với một người bạn, đang chuyện trò với người thân, chẳng hạn. Không lẽ bỏ bữa ăn? Không lẽ cúp điện thoại? Thế là phải dụi mắt, phải hé môi. Đã lỡ hé rồi, thì cho nó há ra luôn. Thế là người bạn, người thân cũng khoe cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo!
Tết năm nay, năm 2026 là Tết Bính Ngọ, năm con Ngựa. Trong tâm thức người Việt, mùa Xuân luôn là khởi đầu của những hy vọng. Ngày xưa dân gian tin rằng năm Bính Ngọ là năm của ngựa lửa — chạy nhanh, tính nóng, khó ghìm cương. Vì thế ai sinh năm này thì lanh lợi, thẳng như ruột ngựa, làm gì cũng nhanh như gió, nói trước nghĩ sau.
Ông bà mình có câu “Thấy 30 chưa phải là Tết” với nghĩa bóng, rằng sự gì chưa nắm trong tay là chưa vội mừng, chưa chắc ăn. Nhưng với nghĩa đen, theo tôi, thì không hẳn thế, vì Ba Mươi mới chính là Tết, thậm chí còn…vui hơn Tết, nên mới có lời thơ “Còn đêm nào vui bằng đêm Ba Mươi” đấy thôi! Ngày Ba Mươi, sau một tuần bận rộn dọn dẹp kể từ ngày 23 Ông Táo, là ngày cuối cùng gấp rút cho mọi công việc để đón năm mới. Cứ khoảng 6-7 giờ tối, sau khi nhà cửa yên ổn sạch sẽ, chỉ còn dưới bếp bà chị Hai vẫn âm ỉ vài món ăn cho đêm Giao Thừa và sáng Mồng Một, các thành viên khác trong gia đình cũng bận bịu với những chuyện riêng của mình, thì tôi và nhỏ bạn thân có thói quen rủ nhau chạy xe lên chợ Xóm Mới mua bánh gai nóng hổi mới ra lò, mang về bày biện thêm cho mâm thức ăn ngày Tết.
Từ hồi tiền sử con người sống có lúc cũng yên lành, sau đó dần dần cũng tranh giành quyền lợi vật chất và ảnh hưởng quyền lợi hơn thua với nhau nên dần dần càng về sau, họ không ở yên bên nhau nữa… mà sanh ra chống chọi nhau, chống đối hơn thua để sống… mạnh được yếu thua. Ngoài việc chống đối với nhau, còn phải chống đối với thú dữ… với thiên nhiên, từ đó cuộc sống là một cuộc chiến không ngừng, mệt mỏi… mệt mỏi quá thì mơ tưởng và mong ước hòa bình.
Qua mùa Noël ít ngày là mùa xuân lại về. Mùa xuân về mang một sự thay đổi của đất trời và của cả lòng người… cây cối hoa lá đâm chồi nẩy lộc… và lòng người, với một chút bâng khuâng… chờ đón một cái gì đổi mới, chờ ở xa nơi quê hương và chờ cả ở nơi đây, chắc sẽ có một chút gì mới hơn, thay đổi bộ mặt của năm cũ, đầy xô đẩy, đầy dằng co của chiến tranh, của bão lũ thiên tai nhân tai dồn dập…
Những chiếc đèn lồng đỏ lơ lửng trên đường Nguyễn Huệ như những giọt máu đông cứng trong hổ phách. Don Washington đứng ở rìa Chợ Tết, bàn tay nhẹ nhàng đặt trên eo Helen, cảm nhận hơi ấm từ lớp da tổng hợp của vợ mình—98.6 độ F, luôn hoàn hảo, luôn như người thật. Đám đông chen chúc xung quanh họ: những gia đình mặc cả mua cây quất, cành mai, chậu cúc. Trẻ con đuổi nhau giữa các gian hàng hạt sen, mức sấy, bánh kẹo. Xe máy bóp còi luồn qua những khe hở bất khả thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.