Hôm nay,  

Hoa Sứ Trắng

08/05/202600:00:00(Xem: 1081)

thanh-mai-1

Vũ Thị Thanh Mai, ảnh Trần Vũ chụp 2015 

 
LTS: “Hoa Sứ Trắng” của Vũ Thị Thanh Mai mở ra từ một khu vườn nhỏ, dẫn người đọc đi qua những tầng ký ức, những vỡ lẽ âm thầm của một đời người. Ở đó có bóng gia đình, có khói hương, có những lần tin rồi nghi, mất rồi hiểu. Tản văn không tìm cách giải thích, chỉ đặt xuống những câu hỏi cũ: về vô thường, về niềm tin, về chỗ nương tựa sau cùng. Văn nhẹ, trong, buồn vừa đủ—như hương sứ thoảng qua, mong manh mà ở lại lâu.

***
  
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sàigòn. Mùa hạ là những chuyện tình không viết ra của hai vợ chồng trên những bãi biển cát nóng sóng gầm. Mùa thu, các anh chị em tôi gọi là mùa gặt hái vì chừng tháng mười một các cây nhãn hạt tiêu, hồng giòn và ổi xá lị chín nặng trĩu cành; và giữa phòng khách trưng một quả bí rợ khổng lồ từ Halloween chễm trệ đến hết Thanksgiving. Mùa đông Cali khi mưa khi lạnh, cây không cần tưới nhiều, biển âm u. Bù lại là liên tục lễ tiệc, từ Tạ Ơn sang Giáng Sinh, đến Tết Tây, rồi Tết Ta. Cứ như vậy bốn mùa xoay vần, với tốc độ tăng dần, mỗi năm mỗi nhanh hơn. Chúng tôi miệt mài chạy theo thời gian, khi cảm thấy đuối sức mới nhận thức tuổi trẻ đã qua tự bao giờ. Viễn tượng của hưu trí là một cuối đường sẽ hẹp dần, không gian sẽ thu nhỏ lại cho đến khi mọi vật vốn mang bản chất phù du trở thành cát bụi. Làm sao đối diện với sự hữu hạn của đời người để được bình yên trong tuổi già?  

Khi sợ hãi, người ta bắt đầu cầu nguyện.  

thanh-mai-2
Căn nhà thủa bé của tôi có một phòng thờ rất rộng, nơi đặt nhiều bàn thờ các vị Phật, đức Quan Công và tổ tiên, cũng là nơi chính cho các tiệc giỗ. Năm sáu tuổi, sáng sớm tôi theo bà nội hái những chiếc hoa sứ trắng đặt trên bàn thờ rồi thắp hương cúng Phật. Bà dạy tôi những lời khấn đầu tiên, xin cho bà cha mẹ anh chị em khỏe mạnh, xin cho con học giỏi.

Năm mười bảy tuổi trước khi vượt biên, mẹ dặn trên đường niệm nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát cho con tai qua nạn khỏi. Ba mươi mấy tuổi, tôi đưa mẹ về Long Thành tu ở Thiền Viện Thường Chiếu. Mẹ nói để xin hòa thượng Thích Thanh Từ quy y cho con, mẹ gieo nhân duyên này để con tìm đến khi cần thiết. Thầy đặt cho pháp danh Thích Thanh Nhàn, chắc vì tôi mang số tử vi của một đời gian truân.  

Mẹ ở trong chiếc cốc nhỏ tu tập và làm việc thiện. Mỗi lần tôi và con gái về thăm, ba bà cháu đi dạo loanh quanh trong cảnh chùa thanh tịnh thênh thang, vào chánh điện lạy Phật, rồi ra tháp thắp hương tưởng nhớ bố và bà nội. Sự tín ngưỡng của tôi dừng lại ở đây; mẹ hiểu, nhưng thỉnh thoảng vẫn dúi vào tay tôi một băng cassette hay một quyển kinh để mang về.  

Mấy mươi năm trôi qua, cảnh chùa ngày càng xanh tươi đông đúc. Nhưng cốc của mẹ không còn. Những chậu hoa mẹ trồng bây giờ đang vươn nở trong khu vườn khác. Tôi đã trải qua những đau khổ, mất mát, thất bại, thăng trầm mà gắn liền với đời sống của tất cả mỗi sinh vật. Cây cỏ hoa lá cũng hiển nhiên bệnh hoạn héo tàn và chưa hẳn sẽ trở lại sau mùa đông. Hữu sinh thì hữu diệt, có sinh thì có tử, đến rồi sẽ đi. Như vậy, mục đích của đời người là gì? Sống, đòi hỏi vật chất và tình người – hạnh phúc hoàn toàn phụ thuộc vào hai điều kiện này mà chúng khi ẩn khi hiện, thay đổi không ngừng khiến mình lao đao. Những người tin vào luật nhân quả cố gắng giữ gìn đạo đức nhưng vẫn không tránh khỏi tai ương, vì còn phụ thuộc vào những nghiệp đã gây ra trong kiếp trước (ai biết là gì!). Nói cách khác, không ai kiểm soát được số phận. Không ai nên mong chờ gì hơn số phận của một chiếc lá úa vàng trong mùa thu ảm đạm, rơi xuống mặt đường nằm chờ mục rữa.  

Nhân duyên của mẹ gieo cuối cùng được quả. Tôi giờ chú tâm tìm hiểu Phật pháp. Và khám phá ra đạo Phật không có thần thánh mà là một triết lý uyên bác thâm sâu, dẫn dắt con người thoát khỏi khổ đau. Các hình ảnh tượng đài là phương tiện giúp người ta hướng về. Chùa chiềng là phương tiện giúp tín đồ tu tập. Tôi tiếc cho mình đã không bồi đắp đời sống tâm linh sớm hơn. Nghĩ lại, những lời khấn cầu bà và mẹ dạy chủ yếu là gieo trong tôi niềm tin.  
Niềm tin là cứu cánh duy nhất của con người.  

Trong những cơn lao đao trên bờ vực thẳm. Với cảm giác thất lạc tận cùng, sức ép đè nặng nề trên ngực, trước mắt tối tăm. Khi con người không thể cho mình hy vọng. Mình muốn tin vào một quyền năng thiên nhiên cho mình lối thoát.  

Các khoa học gia ước lượng có hai ngàn tỷ thiên hà trong vũ trụ; tỷ lệ đường kính một giải ngân hà to gấp bảy mươi bốn ngàn tỷ lần trái đất, tương tự như Bắc Mỹ và một hạt cát. Họ còn cho rằng vũ trụ vẫn không ngừng bành trướng. Chỉ một cơn bão trên mặt trời có thể bùng phát to hơn trái đất nhiều lần. Những con số này luôn khiến tôi choáng ngộp mỗi lần nghe đến. Tôi muốn tin cách nhìn của triết gia Alan Watts trong ảnh hưởng Phật giáo - con người sinh ra từ vũ trụ, mỗi con người là một chức năng của toàn bộ vũ trụ, giống như con sóng là chức năng của toàn bộ đại dương, con sóng và đại dương không tách biệt, chúng liên tục. Và tôi đặt niềm tin vào quyền năng của vũ trụ huyền bí, chấp nhận chức năng của riêng mình cho một mục đích cao hơn.  

Chấp nhận vì không có chọn lựa. Chấp nhận để biết xem nhẹ. Khi khổ đau, biết tỷ sinh vật đang đau khổ hơn mình; mình không duy nhất. Khi hạnh phúc, biết sẽ có ngày mất mát. Mất mát cũng chỉ là một cách gọi khi ngoài tầm tay tầm nhìn. Bà nội, bố mẹ mất đã nhiều năm nhưng họ vẫn sống trong lòng tôi, vẫn cho tôi hạnh phúc ấm áp khi nghĩ về họ. Từ góc nhìn này, tôi không hề mất họ. Hơn nữa, mất là đã có; tỷ sinh vật không có diễm phúc đánh mất những gì chưa bao giờ có.  

Tôi hái một ít hoa sứ trắng ngoài vườn đặt lên bàn thờ. Vài cánh hoa mong manh chóng tàn cho tôi niềm tin suốt một đời.  

Những ước mơ cho riêng mình mà vẫn chưa thực hiện, tôi hiểu, cần gói ghém lại cho kiếp sau. Kiếp còn lại để tìm an lạc – bình an trong tâm hồn và hạnh phúc. Không phải hạnh phúc tối thượng của Niết bàn – một trạng thái thoát khỏi tham, sân, si – mà con người sẽ không bao giờ đạt tới. Mà là hạnh phúc với gia đình và qua những ai có thiện duyên với mình. 

Qua Tết, đại gia đình chúng tôi sẽ chuẩn bị đám cưới cho cô con gái duy nhất của tôi. Đứa cháu duy nhất sinh ra khi bà ngoại sang Mỹ được ba ngày và được bà nuôi mấy năm trước khi bà về lại quê hương đi tu. Tôi hy vọng nó sẽ sớm ý thức sự quan trọng của đời sống tâm linh, sớm hơn tôi. 

Đám cưới sẽ diễn ra đầu mùa xuân. Thiên nhiên sẽ tưng bừng những mạch sống mới; con người cũng sẽ hớn hở qua khỏi một mùa đông âm u. Không gian sẽ toát ngời những năng lượng tích cực, chào mừng duyên lành của đôi vợ chồng trẻ. Tôi nhìn thấy một bắt đầu đẹp đẽ. 

 VTTM, áp Tết Bính Ngọ 2026
 

Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da. Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.
Hai đứa cùng lớp từ tiểu học. Nhà Quỳnh Lâm ở gần sân vận động. Nhà tôi ở đường Quang Trung, gần trường Chấn Hưng. Hai đứa đến trường Nữ Tiểu Học từ hai hướng khác nhau. Vậy mà vẫn cứ đi vòng, để cùng đến lớp. Hai đứa vẫn thường tắm chung trước khi rời nhà. Quỳnh Lâm mặc mấy áo đầm kiểu trong báo Thằng Bờm, Thiếu Nhi. Ba tôi bảo thủ, cho tôi diện những kiểu đầm xưa lắc, xưa lơ. Có năm, kiểu áo đầm xoáy, tay cụt rất thịnh hành. Chị Thanh Tâm xin Mạ ra tiệm Ly Ly may cho tôi một áo. Nhưng Ba bắt phải cải biên, tức là phải dài quá gối (đâu còn thuộc họ mini jupe nữa đâu), và tay phải dài che cùi chỏ.
Người con gái ngồi bất động như thế đã từ lâu lắm; dễ chừng có cả tiếng đồng hồ rồi. Trời biếc xanh, lác đác những khóm mây bông gòn trắng nõn, biển xanh thẫm phía trước, sóng dạt dào xô nhau vỗ vào ghềnh đá tung bọt trắng xóa dưới chân. Tất cả như cùng cuốn hút nàng vào cái bao la mịt mùng bí mật. Ở một góc nhìn từ bên sườn dốc đá, thấy nàng nhạt nhòa trong nắng như một phần của núi non đã hóa thạch từ ngàn năm trước. Người con gái, như tượng đá, mong hoài một điều không bao giờ xảy ra; một ước mơ không bao giờ thành sự thực; hay nàng đứng chờ trông một người đã mịt mù bóng chim tăm cá?
Ngày Hiền Phụ hay là Ngày Lễ Cha (Father’s Day) rơi vào ngày Chủ Nhật thứ 3, tháng 6 hàng năm tại Hoa Kỳ, được Tổng Thống Lyndon Johnson chính thức công nhận là ngày lễ quốc gia từ năm 1966, sau đó Tổng Thống Nixon ký thành luật, ban hành năm 1972. Theo lịch sử Hoa Ký, vào năm 1909, bà Sonora Smart Dodd lúc đó 27 tuổi, sau khi nghe diễn thuyết về ngày Lễ Mẹ tại đền Spokane tiểu bang Washington, bà nảy sinh ý muốn có một ngày đặc biệt để tôn vinh người cha, vì cha cũng xứng đáng được tôn vinh như mẹ. Tư tưởng này xuất phát từ lòng can đảm, sự hy sinh và tình thương dành cho các con của cha bà là ông William Smart. Vợ chết ngay khi sinh đứa con thứ 6 vào năm 1898, ông William Smart đã ở vậy, một mình nuôi 6 đứa con ở một nông trại miền Đông tiểu bang Washington Hoa Kỳ.
Tình yêu không phải là thứ ngôn ngữ nói ra, mà là ngôn ngữ để giữ kín! Tôi đã chôn kín hình ảnh đẹp nhất một đời người. Bây giờ người con gái năm xưa đang ở đâu, sống ra sao trong vạn nẽo đường trần hệ lụy. Có còn nhớ cơn mưa bong bóng chiều nào nơi hiên ngôi chùa nhỏ? Có còn tìm thấy những cơn mưa bong bóng bên đời? Hay tất cả đã phôi pha, đã trôi theo những giọt mưa bong bóng một thời đã mất?
Sau khi đội chiếc mũ beret đen lên đầu ông Hậu bước ra ngoài, thấy lòng thoải mái hẳn ra, ở trong nhà này toàn là “luật lệ” ăn cơm đúng giờ, đi ngủ đúng giấc, con dâu “kiểm tra” ông từng tí một “Ủa hôm nay sao ba tắm trễ, tắm vào buổi tối dễ bị cảm lạnh đó ba.” Con trai cũng “để ý” ông từng tình huống: -“Tối qua ba thức khuya quá, 12 giờ đêm con dậy đi tiểu thấy phòng ba còn sáng đèn. Ba nên ngủ sớm dậy sớm tốt cho sức khỏe”. Ông có niềm vui với computer lúc đọc báo xem tin tức, xem you tube mọi đề tài, lúc nghe nhạc, lúc vào group trò chuyện với bạn bè gần xa, ngồi với computer cả ngày cũng chưa chán. Thế mà con cũng… phê phán.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.