Hôm nay,  

Khi Mùa Thu Tới

09/10/202600:00:00(Xem: 155)

IMG_6440
 
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc.
 
Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
 
Bay đi đâu? Bay về sân trường Nữ Trung Học Thành Nội - Huế của chúng tôi ngày xưa. Thấy mình tóc thề ngang vai, áo trắng bay trong gió heo may, bay trong mùa tựu trường. Thấy bạn bè gọi nhau í ới "mi, tau" trong sân trường đầy lá me bay. Thấy mình, thấy gái Huế đua nhau mặc áo tím xuất hiện mọi ngõ ngách trên đường phố khi mùa thu chớm.
 
Thấy một nhạc sĩ thẩn thờ bên dòng sông Hương (*1)
 
“Mặc dòng sông dịu hiền luyến tiếc
Mặc chiều thu buồn như gối chiếc
Tôi mơ...màu áo
Ước mong sao áo màu khép kín tim nhau...”
 
Khi mấy O tóc dài thả gió lê thê đi qua cầu Trường Tiền gió lộng. Khi đêm thu dưới ánh trăng mờ ảo, có nhóm bạn trai gái đem theo cây đàn guitar tụ họp trước sân nhà đàn hát bài: Em Tôi, Cô Láng Giềng, Chiều ơi, Đêm Đông... uống tách trà sen thơm ngát.
 
Rồi lại bay đi nữa, bay về những lần họp mặt NTN hải ngoại. Từ buổi đầu năm 2014 ở Santa Ana cho đến San Jose, đến Nam Cali. Những lần đó, lúc nào cũng có một người đàn bà lanh lợi lăng xăng, miệng cười nói luôn tay. Đó là chị Xuân Ba, con chim đầu đàn của chúng tôi.
 
Chị đi rồi, vào cuối tháng Tám vừa qua. Từ nay nhóm NTN hải ngoại mất đi tiếng chim gọi đàn. Mất đi người nửa đêm nghe máy tính kêu "keng" là nhào dậy xem có em nào trả lời email không.
 
Chị đi vào mùa thu, lòng có còn níu kéo (*2)
 
“Nghìn năm sau ta níu bóng quay về
Ôi mùa thu của ước mơ”
 
Vì vậy mùa thu năm nay buồn hơn mọi năm. Lá chưa kịp vàng đã thấy úa. Nỗi buồn không ập đến ào ạt, nó thấm từ từ, thấm vào tách trà nguội, vào trang sách mở dở, mắt nhìn vào hàng chữ, nhưng không biết hàng chữ diễn ý gì. Buồn như sợi khói lam chiều, mỏng mà dai dẳng, day dứt.
 
Những lúc như vậy, tôi chỉ biết tìm đến nhạc mùa thu. Nhạc mùa thu thật ma mị. Nó không cho mình đáp xuống đất. Nó cứ ru mình đi qua những miền nhớ, miền quên. Nghe một câu (*3):
 
“Hồn thu tới nơi đây gieo buồn lây
Lòng vắng muôn bề không liếp che gió về...”
 
“Giọt mưa thu thánh thót rơi...” mà thấy như có ai mở cửa ngục cho hồn mình. Bao nhiêu phiền muộn bỗng tan ra như sương.
 
Nghe một đoạn (*4):
“Với bao tà áo xanh đây mùa thu
Hoa lá tàn hàng cây đứng hững hờ
Lá vàng từng cánh rơi từng cánh
Rơi xuống âm thầm trên đất xưa...”
 
hay (*5):
“Thôi thế từ đây anh cố đành quên rằng có người
Cầm bằng như không biết mà thôi
Lá thu còn lại đôi ba cánh
Đành lòng cho nước cuốn hoa trôi”
 
Rồi lại mê man (*6):
“Em có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ
Em có nghe nai vàng hát khúc yêu đương
Và em có nghe khi mùa thu tới, mang ái ân mang tình yêu tới
Em có nghe, nghe hồn thu nói mình yêu nhau nhé”
 
Ôi những từ ngữ sao thấy mùa thu sang cả và lãng mạn vô cùng, cho tôi mơ màng bay đến Ngũ Đại Hồ bên tiểu bang Minnesota. Được thấy tận mắt rừng thu vàng. Được nằm trên đống lá ngập dưới gốc cây, kề con suối. Và nghiêng bút thả những dòng thơ của tình yêu, ơi mùa thu của tôi...
 
YÊU QUÁ THU ƠI
Thu về một sớm ngập ngừng chi
Làn gió heo may ấp úng gì
Có phải đưa em về lối mộng
Cho đầy biển nhớ thủa thu đi
 
Xa vời cõi tục bước thênh thang
Sao lại buồn tênh nhặt lá vàng
Gốc Phượng rơi đầy hồn lá úa
Bồi hồi tiễn hạ đón thu sang
 
Ôi kề hạnh phúc gặp tình nhân
Man mác hương thu lại đến gần
Dẫn lối tình yêu lùa ảo ảnh
Say say ngất ngưởng đắm bao ngần
 
Thu đang thỏ thẻ nói cùng em
Cứ mãi bâng khuâng nắng lụa mềm
Chiều xuống em ơ thờ mắt dại
Nhìn thương lá rụng trải qua thềm
 
Thu làm sao biết tận lòng ai
Thổn thức từng đêm tiếng thở dài
Sắc cảnh mờ sương vời quyến rũ
Dâng sầu buông nhẹ bám bờ vai
 
Lời nào tả hết tiếng lòng yêu
Tim tím mây trời lãng đãng thêu
Bức họa khung tranh choàng  diễm tuyệt
Vàng phai muôn lối vẫn in đều
 
Tim yêu trở lại với tình thu
Em sợ ngày đi sẽ chóng vù
Cố níu từng giây nồng ấp ủ
Ơi tình dạt mãi chốn hoang vu
 
Rừng thu suối vắng khói đan mờ
Chim hót hoa chào dẫn lối thơ
Chút nắng hắt hiu đùa vạt cỏ
Thu mời em hát khúc tình mơ
Thuyền em trôi lạc bến sương mù
Kết lá làm mền đắp nép thu
Níu gió đùa trăng vùi giấc ngủ
Ước chi cõi mộng được giam tù
 
Em mơ rồi tỉnh nếm ly sầu
Bởi lá vàng phai rụng úa mầu
Cành lá cây trơ trùm ảm đạm
Linh hồn thu chứa nỗi niềm sâu
                                    MTTN
 
Nghe tiếng chim hót của một thế giới thần tiên, quên những nhọc nhằn cuộc sống, áp lực từ sự lo âu. Dìu tâm hồn vào cõi âm nhạc, ru êm bằng tiếng đàn guitar, tiếng kéo violon ngây ngất dịu vợi.
 
Mỗi nhạc sĩ cho ta một mùa thu khác nhau, nhưng đều gặp nhau ở một chỗ: khi mùa thu tới là để nhắc ta nhớ. Nhớ người đã đi, nhớ một thời hoa mộng.
 
Tôi bật bản nhạc thu (*7):
 
“Mùa thu vàng tới là mùa lá vàng rơi
Và lá vàng rơi, khi tình thu vừa khơi
Nhặt lá vàng rơi, xem màu lá còn tươi
Nghe chừng đâu đây màu tê tái...”
 
Tôi nhắm mắt lại và để cho hồn mình bay. Bay rất xa, nhưng lại bay về rất gần với chính mình. Bay qua nỗi buồn mất mát, để thấy lòng mình trong veo trở lại, như một cô nữ sinh Thành Nội ngày xưa.
Thu này, chúng tôi sẽ nhớ chị nhiều lắm. Chị Xuân Ba ơi, chị ngủ yên nhé
 
Minh Thúy Thành Nội
Tháng 9/2026
(*1) Tà Áo Tím (Hoàng Nguyên)
(*2) Có Phải Em Mùa Thu Hà Nội (Trần Quang Lộc)
(*3) Giọt Mưa Thu (Đặng Thế Phong & Bùi Công Kỳ)
(*4) Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay (Đoàn Chuẩn - Từ Linh)
(*5) Lá Đổ Muôn Chiều (Đoàn Chuẩn - Từ Linh)
(*6) Mùa Thu Cho Em (Ngô Thụy Miên, thơ Thụy Anh)
(*7) Thu Vàng (Cung Tiến)

Cuối cùng, vợ tôi cũng đồng ý một cách vui vẻ cho tôi lấy vợ bé. Một hành động vượt ra ngoài quan niệm ái tình nghiêm túc của bà. Vợ bé tên Hà, do vợ lớn đặt. Tên khai sinh của Hà là Đỗ thị 451. Vợ lớn nói, số này hên, cộng lại là 10. Hà lai Ái Nhỉ Lan. Ở lứa tuổi gần ba mươi, chưa lấy chồng, không có con, một thân hình phước đức cho bất kỳ người đàn ông nào, sáu mươi bảy tuổi, như tôi.
Kế hoạch của anh ấy thật là hợp lý: anh ấy sẽ giấu tôi phía sau cốp xe Austin-Healey, một chiếc xe dạng rất thấp mà anh vừa mới mua bên Áo và đã tháo kính che gió ra. Chúng tôi chỉ cần đi qua bên dưới rào chắn, trong khi mấy tên cảnh sát nhân dân Vopo*2/ thì bận lo kiểm tra giấy tờ như thường lệ. Rolf đã tính toán nhiều lần, tính đi tính lại, anh lại còn xì bớt hơi các bánh xe: như thế cái xe sẽ không vượt quá 90 cms bề cao. Anh chỉ cần cúi đầu xuống, nhấn mạnh vào cần tăng tốc, thế là chúng tôi sẽ qua bên kia địa phận đất Mỹ! Một "bờ thành" nhỏ làm bằng gạch sẽ bảo vệ tôi khỏi những lằn đạn có thể xảy ra. Và rồi sau đó là tự do...
(Viết cho bằng hữu tháng tư 1954. Chúng tôi 300 thanh niên trình diện trại Ngọc Hà động viên vào Đà Lạt cùng hát bài ca Hà Nội ơi, năm 20 tuổi chưa từng biết yêu. Sau 21 năm chinh chiến, tháng tư 75 khóa Cương Quyết hát tiếp. Bao nhiêu mộng đẹp, tan ra thành khói, bay theo mây chiều. Ngày nay, tháng 7-2024 vào nursing home thăm bạn cùng khóa. Ba anh bạn đại tá lữ đoàn trưởng mũ xanh mũ đỏ cùng đại đội võ bị ra đánh trận Quảng Trị chỉ còn Ngô Văn Định. Ghé lại bên tai nghe Định hỏi nhỏ. /Bên ngoài còn mấy thằng,/ Còn liên lạc được 4 thằng. Ngoài 90 cả rồi.Tôi báo cáo./ Thằng Luyện mới đến thăm./ Định nói./ Luyện nhảy Bắc 21 năm biệt giam mà còn sống. Hay thật./ Tôi nói./ Bạn yên tâm. Ngoài này còn thằng nào chơi thằng đó./ OK bạn còn sống lo cho anh em.)
Năm Giáp Ngọ 1954 có thể gọi là năm đại diện cho tuổi thơ tôi. Chỉ trong một năm 1954 đã có quá nhiều biến cố xảy ra dồn dập trước mắt chú bé mười hai tuổi mà suốt trong đời chưa có thời điểm nào đặc biệt như vậy...
Dẫn nhập: chuyện này được viết khi sắp tròn nửa thế kỷ Sài gòn bị mất tên. Qua một phần đời của một vị Thầy dạy Toán, gắn liền với nhiều thăng trầm của lịch sử từ Việt Nam đến Mỹ, cùng nhìn lại những vết chân xưa với hy vọng các thế hệ kế tiếp học hỏi được nhiều điều để đưa được đất nước trở về vị trí "minh châu trời Đông"
Cây Phượng Vĩ Hoa Vàng có tên khoa học là Delonix regia var plavida thuộc họ Fabaceae có nguồn gốc từ Myanmar được sư trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng mang về Việt Nam, đầu tiên được trồng ở Huế một số cây dọc theo con đường ở phố Ngô Quyền, ngã ba Phan Bội Châu, Lê Lợi... đã thu hút nhiều du khách đến ngắm cảnh và chụp hình. Hoa phượng vĩ vàng có tuổi đời lên đến 5, 6 chục năm, cây nhỏ hơn hoa phượng đỏ, ít lá và hoa có màu vàng tươi bắt mắt, thường nở từ tháng giêng, tháng hai và nở rộ và khoảng cuối tháng ba, đầu tháng tư, nên còn gọi là loài hoa “ chào mùa hè”. Hoa nở rụng tạo thành một “thảm hoa vàng” trên đường đi, gây nhiều ấn tượng cho những ai đi dạo trên những con đường này. Năm 2005, Công ty công viên cây xanh Sài Gòn mang về trồng một số nơi ở Sài Gòn nhưng chưa được nhiều.
Mùa hè quê tôi không có hoa phượng rơi, mà bắt đầu một mùa nước nổi. Nước lên cao, mênh mông ngập khắp cánh đồng và cả khoảng sân nhà mẹ. Những cơn gió trở mùa mát dịu dàng bao đêm dài mộng tưởng. Ngày sẽ lên, đời ập tới cho dù chúng ta có chờ đợi hay lãng quên. Mẹ tôi báo tin, “Tháng tới là đám cưới con Lệ. Cũng mừng cho con nhỏ, gia đình chồng giàu có. Chỉ tội là nó phải theo chồng đi xa”. Tôi nghe tin, thấy lòng trống trải vô cùng. Một khoảng trống mênh mông, cứ tràn ngập mỗi ngày một lớn. Tôi biết mình đã yêu chị thiết tha...
Trước giờ thi, một cô học trò láu táu, “Thầy bao nhiêu tuổi hả thày?” Câu hỏi từ cặp môi đỏ chót và cái nháy mắt từ cặp lông mi lướt thướt làm cả lớp cười ồ. Hồi ấy tôi vừa mới ba mươi, và tôi là ông thầy giáo bị hỏi câu ấy ngay trong lớp học, cái lớp học có quá nửa số học sinh là nữ, và tôi bị hỏi khi đang giúp học trò ôn bài thi cuối khóa. Quá bất ngờ, ông thầy sựng lại một giây, rồi thong thả trả lời, “Cái này đâu có trong đề thi.” “Em hỏi là tại vì hồi đêm em nằm chiêm bao thấy thày,” cặp môi cong chậm rãi giải thích. Cả lớp chăm chú lắng nghe. Cô học trò gật gù như chờ cho mọi người theo kịp rồi mới tiếp, “Vì vậy em cần biết tuổi thày để mua số đề.”
Năm 2015, Milana đã ba mươi tuổi, đang làm việc trong một công ty Network ở California. Mẹ nàng tỏ ra lo lắng tại sao tuổi này mà không chịu lấy chồng, mà cũng ít thấy có bạn trai; bà e rằng phụ nữ sau ba mươi lăm tuổi khó sanh nở. Nhưng nàng có lý do riêng không nói được với ai...
Cái tên Pulau Bidong nghe rất đỗi thân thương và gần gũi với nhiều người vượt biển Việt Nam lánh nạn cộng sản từ sau năm 1975 và cũng là biểu tượng của ngưỡng cửa Tự Do mà nhiều người mơ ước. Mảnh đất nhỏ bé này là một hải đảo, cách xa tiểu bang Terengganu của Malaysia khoảng một giờ đi thuyền. Nếu có cơ hội, những người thuyền nhân năm xưa nên trở lại, chỉ một lần thôi, thực hiện một cuộc hành hương trở về vùng đất Thánh. Dù không phải là một cựu thuyền nhân tạm dung nơi hải đảo hoang vu này, đôi chân lạ lẫm không quen của tôi đã đặt chân lên Pulau Bidong trong một chuyến du lịch ngẫu hứng, cho ký ức quãng đời tỵ nạn ngày xưa lần lượt trở về trong tôi.
Tả sao cho hết cảnh cổng lớn đồ sộ. Từ chân lên đến đỉnh, tràn ngập mặt nạ treo kín mít. Đủ loại mặt nạ tượng trưng cho thiện ác, xấu đẹp, đúng sai. Có cả mặt nạ Chúa, Phật, thánh thần, hiền nhân, ác tặc, vân vân. Dọc bên dưới là những thùng lớn chứa vô số mặt nạ theo kiểu treo bên trên. Người nào đi vào, tự động lựa cho mình một loại mặt nạ hợp với tính tình, mang lên, rồi mới được tiếp tục đi. Mỗi người có hai mặt nạ, một thật đã thói quen thành giả và một giả thật chồng lên.
Chúng tôi cùng cười vui vẻ tìm đường ra khỏi cổng chùa Thiên Trù tức “chùa Ngoài” để rồi tiếp tục cuộc hành trình vào chùa Hương Tích tức “chùa Trong”...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.