Hôm nay,  

Hát Đêm

09/10/202600:00:00(Xem: 110)

hat dem
Tôi tập hát một mình vào lúc gần nửa đêm.

Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.

Tôi bật chiếc đèn LED soi giá nhạc. Trên đầu trang là dòng chữ in đậm: Chẳng Hiểu Sao. Bên dưới, in nghiêng và nhỏ hơn: Don't Know Why. Bài nhạc của Norah Jones từ những ngày tôi đang phân vân có nên giữ việc làm mà tôi đã quá chán nhưng được một cái là lương cao, hoặc bỏ để tìm việc gì khác tôi thích hơn. Và tôi đã chọn cái sau. Kết quả là đến bây giờ tôi vẫn chưa quyết định được rằng mình đã làm đúng hay sai.

Tôi mang headphone vào, nhấn nút phát.

Đoạn mở đầu lách cách báo nhịp. Rồi tiếng synth vang lên một cách mơ hồ lơ đãng chạy dưới tiếng bass đều đặn chậm rãi, giữ từng nhịp chắc chắn như một người đàn ông biết rõ mình muốn gì. Rồi tiếng trống chổi lướt nhẹ trên mặt snare. Tất cả đã được người bạn nhạc sĩ sắp đặt từ nhiều tuần trước, gửi cho tôi trong một điện thư cùng lời nhắn ngắn ngủi:

"Mày cứ hát thoải mái. Tao vẫn chừa chỗ cho giọng hát."

Tôi đã nghe câu ấy nhiều lần mà không để ý. Nhưng đêm nay, không hiểu sao hai chữ "chừa chỗ" lại làm tôi băn khoăn. Trong một bản phối đã được thu xong, người nhạc sĩ có thể chừa lại chỗ nào cho tôi? Những hợp âm đã cố định. Nhịp trống không chậm lại nếu tôi hụt hơi. Cây đàn bass cũng chẳng đợi dẫu khi tôi vào trễ. Ngay cả khoảng lặng cũng đã được định sẵn.

Tôi chỉnh micro và tấm chắn để tôi có thể nhìn bài nhạc nếu cần, rồi bắt đầu hát. Nhưng chưa hết câu, một giọng nói đã vang lên trong tai nghe: "Ngưng lại đi."

Tôi giật mình, quay về phía cửa. Đâu có ai. Tôi tháo một bên tai nghe. Căn nhà hoàn toàn yên tĩnh. Chỉ có tiếng máy điều hòa rù rù trên trần nhà.
Tôi đeo tai nghe trở lại rồi kéo con trỏ về đầu bản nhạc. Lần này tôi hát được đến câu hai "… thật chẳng hiểu sao rồi lại không đến…"

"Đã bảo ngừng lại mà. Làm ơn đi."

Tôi nhấn phím cách. Nhạc tắt.

"Ai đó?"

"Tôi."

"Xin lỗi chớ… tôi nào?"

"Câu hỏi mà ông vừa hát."

Tôi ngớ ra. "Câu hỏi gì?"

"Chẳng hiểu sao."

Tôi nhìn màn hình. Những đường sóng âm màu xanh nằm im trên rãnh nhạc. Trong đầu tôi chợt nghĩ đến những tay ‘hacker’ chuyên nghiệp. Rồi những tin đồn về phần quay hình của cái máy vi tính thường theo dõi người ta hằng ngày. Tôi vẫn cho đó là những chuyện tầm phào. Hơi sức đâu mà tin. Tôi. Giọng một người đàn ông chung chung, nhưng không hẳn quen. Không Bắc. Không Nam. Có thể là spoofing, hay là scam?

"Anh… là ai?"

"Tôi nói cho ông rồi."

"Anh là… bài hát?"

Tôi liếc nhìn đồng hồ ở góc phải của màn hình. Đã 12 giờ 23, quá nửa khuya.

"Phải. Nếu ông cứ tiếp tục hát như vậy, chẳng những ông đã chẳng hiểu sao, mà người nghe cũng không hiểu ông đang hỏi điều gì."

Tôi nghe chút châm biếm trong giọng hắn nói. Tôi kéo ghế ngồi xuống.

"Ý anh muốn phàn nàn tôi chuyện gì?"

"Trước hết, ông hát chữ mà như là sắp công bố một bi kịch."

"Đó là tôi muốn tạo cảm xúc ngay từ đầu."

"Không phải. Đó là cách ông muốn bảo trước cho người nghe rằng họ phải xúc động."

"Có gì khác nhau đâu?"

"Rất khác chứ. Tôi chắc chắn không bắt đầu bằng bi kịch. Tôi bắt đầu bằng sự ngạc nhiên. Trời đã hừng sáng, tôi vẫn chưa quyết định được. Đến hay không đến; không ai hiểu tại sao, kể cả chính tôi."

"Tựa bài đã nói rõ như vậy."

"Ông chỉ hát cái tựa thôi à? Ông chưa hát được sự không hiểu."

Tôi hơi bực mình.

"Không hiểu thì hát thế nào?"

"Hát như người đang thật lòng tự hỏi, không phải như người đã chuẩn bị sẵn câu trả lời, chỉ hỏi cho có lệ."

Tôi cầm ly rượu lên nhưng rồi đặt xuống.

"Được rồi. Còn gì nữa?"

"Ông kéo chữ cuối quá dài. Ông làm cả câu thỏng xuống, giọng nghe như muốn khóc. Rồi ông nhấn mạnh chữ không đến đến ba lần, mỗi lần lại nghe nặng hơn."

"Vì đó là trọng tâm của bài."

"Không. Trọng tâm không nằm ở việc không đến. Trọng tâm nằm ở chỗ chính tôi chẳng giải thích được mình."

"Tôi nghĩ anh đã biết rồi mà."

"Nếu biết thì đã không có tôi."

"Có thể anh biết nhưng anh tự dối với chính anh."

"Điều đó là do ông nghĩ như vậy, đâu có phải điều tôi nói."

"Người hát phải có cách diễn giải riêng, đúng không? Anh không thể bắt tôi phải hát cho giống một ai khác." Rồi tôi hạ giọng xuống, "mà hát giống để làm gì?"

"Đúng. Nhưng diễn giải không có nghĩa là cưỡng ép tôi thú nhận một điều tôi chưa từng thú nhận."

Tôi ngả người vào lưng ghế.

"Anh làm khó khăn quá. Tôi chỉ muốn tập hát cho xong."

"Ông mới là người khó tính. Ông muốn mọi cảm xúc đều phải có nguyên nhân, mọi câu hỏi đều phải có câu trả lời. Ông hát tôi như thể cuối bài người nghe nhất định phải hiểu vì sao tôi cứ chập chờn, cứ không chịu giải quyết chuyện đến hay không đến."

"Chẳng lẽ hát hết một bài mà không đi đến đâu?"

"Có những bài hát tồn tại chính vì chúng không đi đến đâu. Vẫn đâu có sao đâu? Đâu có ai bắt là chuyện gì cũng phải có giải đáp, phải theo một mô hình hay khuôn khổ nhất định?"

Tôi nhìn lại trang nhạc.

"Thôi, anh đừng dài dòng nữa. Mau nhất là anh cho tôi hiểu anh không đến vì lý do gì?"

"Tôi không biết."

"Ủa?"

Rồi tôi im. Hắn cũng im, như chờ đợi.

"Sợ hãi?"

"Có thể."

"Kiêu hãnh?"

"Có thể."

"Đã hết yêu?"

"Có thể."

"Còn yêu quá nên không dám đến?"

"Cũng có thể."

"Anh trả lời như vậy thì khác gì không trả lời?"

"Tên tôi là Chẳng Hiểu Sao. Ông còn đòi hỏi gì?"

Lại cái giọng châm biếm. Tôi cười khảy. Nhưng bài hát không cười theo. Một lát sau, hắn nói:

"Còn thêm chuyện phát âm."

"Lại chuyện gì nữa?"

"Chữ tinh mơ ông hát như hụt hơi. Chữ chần chờ ông đặt quá nặng vào phụ âm đầu. Cái câu mình lại không đến phải để cho nó trôi qua như một ý nghĩ người ta không muốn giữ, nhưng ông hát nó y như một lời tự kết tội trước đám đông."

"Tiếng Việt cần rõ chữ. Tôi đã từng bị vài nhạc sĩ lớn chê tôi thích biểu diễn cảm xúc đến độ quên hát cho tròn chữ."

"Rõ chữ không có nghĩa là mỗi chữ phải đứng nghiêm chào khán giả."

"Không rõ thì người ta không hiểu lời."

"Rõ quá, người ta chỉ còn nghe chữ mà không nghe thấy điều nằm giữa hay sau lưng những chữ ấy."

Tôi cầm trang nhạc lên.

"Nói thật nha. Không có tôi, anh chỉ là những dấu mực này. Anh không có phổi, không có thanh quản. Anh không biết chờ một người suốt đêm là thế nào. Anh chưa từng đứng trước cửa một căn nhà rồi quay lưng bỏ đi. Anh cũng không biết uống đến khi men rượu thấm vào tim mà vẫn không quên được một người. Chính tôi cho anh hơi thở, âm sắc và cảm xúc."

Bài hát im lặng một lúc.

"Đúng," hắn nói. "Nhưng không có tôi, tối nay ông chỉ là một người đàn ông đứng trước chiếc micro đã tắt."

"Tôi có thể hát bài khác."

"Và bài khác sẽ gọi ra một con người khác trong ông."

"Tôi vẫn là tôi, y chang từ trước tới giờ."

"Ông có chắc không?" Giọng nói có vẻ nhạo báng.

"Chắc." Tôi trả lời cộc lốc, nhưng trong bụng lại có cảm giác kỳ cục, hơi hụt hẫng.

"Người hát một bản tình ca có hoàn toàn là người vừa hát một bài thánh ca không? Người hát về một cuộc ra đi có phải vẫn là người vừa hát về một buổi sum họp? Ông nghĩ giọng hát chỉ đi từ ông vào bài hát. Ông không nhận ra bài hát cũng đang đi vào ông à?"

"Tôi đã sống trước khi tôi biết đến anh."

"Nhưng 'ông của bài hát này' chưa tồn tại trước khi ông hát tôi."

Tôi định phản bác nhưng không tìm được câu trả lời ngay. Tôi nghĩ đến chủ thuyết kinh nghiệm thuần túy từ Nhật Bản mà tôi có nghe qua một lần, đại khái là chủ thể và đối tượng chỉ hiện hữu từ kinh nghiệm trực tiếp giữa hai bên.

"Ông nghĩ ông cho tôi tiếng nói," bài hát tiếp tục. "Có lẽ đúng. Nhưng tôi cũng cho ông một câu hỏi mà trước đây ông chưa biết cách hỏi."

Tôi cười khảy, "Tôi từng có rất nhiều câu hỏi trước khi tôi nói chuyện với anh."

"Nhưng có bao giờ ông tự hỏi vì sao mình không đến một nơi mà chính mình muốn đến chưa?"

Tôi nhìn xuống ly rượu. Chút đá cuối cùng đã tan mất.

"Chắc chắn là có rồi."

"Vậy tôi có thể hỏi tại sao ông không đến không?"

"Tôi không nhớ."

"Hay ông không muốn nhớ?"

Tôi tháo tai nghe ra. Giọng nói biến mất.

Trong khoảnh khắc, tôi nghĩ mình nên ngừng buổi tập. Đã quá khuya. Có lẽ ly rượu làm tôi mệt. Có lẽ giọng nói chỉ là phần đối thoại tôi vẫn thường có với chính mình mỗi khi nghe lại một bản thu không vừa ý. Cũng có lẽ tôi đang mớ ngủ không chừng.

Nhưng rồi tôi nhìn thấy đoạn ca từ trong bản nhạc:

Mãi miên man giữa chốn mịt mùng
Tìm lãng quên, mà lòng không dứt
Bước chân đi chênh vênh gập ghềnh
Đường quẩn quanh, đường dài vô định…
 
Tôi đeo tai nghe trở lại.

"Anh còn đó không?"

"Còn."

"Anh có hài lòng với lời Việt không?"

Bài hát không đáp ngay.

"Đó không hoàn toàn là tôi," hắn nói.

"Vì không dịch sát nguyên tác?"

"Không phải chỉ vì thế. Trong hình hài ban đầu, tôi đơn sơ hơn. Tôi không cố giải thích nhiều. Tôi có mặt trời lên, có bãi cát, nước mắt, rượu, một con đường và một con người cứ tiếp tục đi. Mọi thứ hiện ra như những mảnh rời. Câu hỏi nằm giữa chúng nhưng không nối chúng lại."

"Còn bản tiếng Việt?"

"Bản tiếng Việt đã cho tôi một câu chuyện."

"Như vậy phải tốt hơn chứ? Ta sẽ thấy cảm xúc rõ ràng hơn là sự mơ hồ."

"Có thể là như vậy. Nhưng câu chuyện cũng là một cái khung."

"Anh thấy mình bị đóng khung à?"


"Có thể là như vậy. Bản dịch nói đến chia tay, đến đêm dài, đến lãng quên, đến bước chân chênh vênh và con đường vô định. Cuối cùng còn muốn quay lại. Người dịch đã nhìn thấy trong tôi một kẻ bỏ đi rồi hối tiếc."

"Chẳng phải anh là như thế sao?"

"Có thể. Nhưng trước khi được dịch, tôi chưa nhất thiết phải là như thế."

"Vậy anh trách người dịch? Anh cho rằng người dịch đã 'phản bội' anh?"

"Không đâu. Tôi biết. Vấn đề dịch thuật không đơn giản. Trước hết, tiếng Việt là ngôn ngữ nhiều thanh điệu, hơi khó khăn khi phải lồng vào giai điệu có sẵn. Thêm nữa, có những ý tưởng không thể chuyển dịch xuyên văn hóa." Hắn im lặng một phút như đang tìm câu nói. "Có lẽ tôi chỉ muốn biết tại sao ông ấy nhìn thấy tôi như vậy," hắn nói bằng một giọng thật nhẹ, như một câu tự hỏi chính hắn.

"Có lẽ ông ấy đã tìm thấy câu chuyện của chính mình trong anh."

"Hoặc có lẽ tôi đã tìm thấy câu chuyện ấy trong ông ấy."

Tôi nhìn lại những câu chữ. Bấy lâu nay tôi vẫn nghĩ dịch một bài hát là mang nó từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, và cố tôn trọng tứ nhạc cũng như văn phong của tác giả. Cho dù những khi phải phá lệ, không khí và xúc cảm của nguyên tác vẫn cần được tôn trọng. Nhưng có lẽ không đúng hẳn. Có lẽ một ca khúc khi đi qua một con người sẽ đánh mất vài thứ, nhận thêm vài thứ, rồi bước ra với một đời sống khác. Có lẽ đây là điều mà Nishida, nhà triết học mà tôi mới chợt nhớ ra tên, đã nói: những tác động đối lập đã tạo thành nhau nhưng không xóa bỏ nhau.

"Nếu bản dịch không còn hoàn toàn là anh," tôi hỏi, "thì giọng nói đang nói với tôi là ca khúc nguyên tác hay bài hát tiếng Việt?"

"Ông nghĩ phải chọn một trong hai sao?"

"Ít nhất anh phải biết mình là ai chứ."

"Còn ông, ông có biết ông là ai không?"

"Tôi là người đang tập hát, mà bài hát chính là anh trong dạng Việt."

"Chưa. Ông chỉ mới là người đang cố làm chủ bài hát."

"Khác nhau thế nào?"

"Người làm chủ đứng bên ngoài và tìm cách điều hành. Người hát bước vào trong và chấp nhận bị thay đổi."

Từ trong tai nghe, phần nhạc dạo bỗng vang lên mặc dù tôi chưa nhấn nút phát.

Tiếng guitar gảy từng nốt thưa thớt. Piano đặt xuống vài hợp âm rồi lùi lại. Tôi chợt cảm thấy người nhạc sĩ đang hiện diện trong căn phòng — không phải như một bóng người ngồi cạnh cây đàn, mà trong từng điều anh đã lựa chọn: nhịp chậm hơn một chút, tiếng bass điềm tĩnh, tiếng trống chổi gần như chỉ còn là hơi thở, và nhất là những khoảng anh cố ý không chơi.

Sự vắng mặt của anh ta cũng đã được phối vào bản nhạc.

"Anh có phàn nàn về người nhạc sĩ không?" tôi hỏi.

"Tất nhiên."

"Ông ấy đã làm gì sai?"

"Ông ấy làm tôi chậm lại."

"Tôi thích nhịp này."

"Lúc đầu tôi không thích. Tôi muốn câu hỏi của mình thanh thản hơn, gần như được nói ra tình cờ. Ông ấy lại đặt vào tôi quá nhiều khoảng trống."
"Rồi sao?"

"Rồi tôi nhận ra trong khoảng trống, người ta tự nghe được nhiều thứ, luôn cả sự chần chờ."

"Ông ấy thay đổi anh như vậy tuy không hề dùng đến một ngôn từ nào?"

"Ông có quyền hát tôi, người dịch có quyền cho tôi một cái khung mới, người nhạc sĩ tạo cho tôi một không gian khác thì có gì mà ngạc nhiên đâu, phải không?"

"Nhưng cuối cùng tôi mới là người đưa anh đến người nghe."

"Đừng quên rằng ông ấy tạo ra con đường để ông đi đến tôi. Người dịch đã giúp ông với những bước đi trên con đường ấy. Ông, ông không đến với tôi một mình."

Đến lúc này thì tôi thấy hơi muộn màng để nói với hắn rằng chính tôi là người đã dịch ra ca khúc này. Tôi im lặng đứng dậy trước micro.

"Bây giờ hát lại," tôi nói. "Tôi phải hát thế nào thì anh thấy ok?"

"Đừng bắt đầu bằng nỗi buồn."

"Nhưng đây là một bài buồn."

"Buồn là điều người nghe có thể nhận ra sau đó. Ông không cần đứng ở cửa để báo trước."

"Được rồi. Vậy còn cảm xúc?"

"Đừng trùm cảm xúc lên tôi."

"Không có cảm xúc thì hát làm gì?"

"Tôi không bảo ông đừng cảm xúc. Tôi bảo ông đừng trình diễn cái ý tưởng rằng mình đang xúc động."

"Khác nhau thế nào?"

"Khi ông thật sự không hiểu vì sao mình đã không đến, ông có chuẩn bị trước một giọng nói thật đau khổ để tự hỏi mình không?"

Tôi im lặng.

"Hãy hát câu đầu như thể ông vừa tỉnh dậy," hắn nói. "Trời đã sáng. Ông chợt nhận ra mình đã để một người chờ suốt đêm. Đừng khóc vội. Trước hết, hãy ngạc nhiên."

"Rồi sau đó?"

"Sau đó cứ đi."

"Đi đâu?"

"Nếu tôi biết thì đã chẳng có con đường vô định."

Nhạc bắt đầu lại.

Lần này tôi không cố làm cho chữ mà trở nên quan trọng. Tôi để nó thoát ra như một điều gì tôi vừa sực nhớ. Tôi chờ thêm một phần tư phách trước khi vào câu kế tiếp. Tôi không kéo dài chữ cuối. Ở câu mình lại không đến, tôi hát nhẹ đi, gần như không muốn người khác nghe thấy.

Bản phối bỗng rộng ra. Tôi nghe được cây bass đang dịch chuyển dưới giọng hát, không phải để đưa tôi đến một cao điểm, mà để giữ tôi khỏi rơi. Tiếng trống chổi không còn đếm thời gian; nó giống tiếng cát bị gió lùa qua mặt đất. Những khoảng trống của piano mở ra rồi khép lại như những cánh cửa bị gió lùa lung lay khi tôi đang đi ngang, như muốn gọi tôi bước vào.

"Khá hơn," hắn nói khi tôi dừng lại.

"Chỉ khá hơn thôi sao?"

"Ông vẫn hát như thể đã hiểu tôi."

"Không phải người hát cần phải hiểu bài hát trước khi hát sao?"

"Hiểu không có nghĩa là giải quyết nó."

"Vậy tôi phải làm gì?"

"Để lại trong giọng hát một nơi mà chính ông cũng chưa bước tới, hoặc chưa hiểu là có nên bước tới hay không."

Tôi hát lần thứ ba.

Đến câu Lòng thầm ước ao mình vụt tan biến… tôi bất ngờ nhớ đến một buổi sáng đã lâu. Tôi không nhớ rõ năm nào, chỉ nhớ vạt nắng kéo một vệt dài trên sàn nhà và một chiếc điện thoại im lặng bên cạnh. Hình như tôi từng hứa sẽ đến gặp một người. Hình như người ấy đã chờ. Tôi không nhớ mình đã viện lý do gì để không đi, hoặc có thể tôi đã chẳng hề đưa ra một lý do nào.

Suốt nhiều năm, tôi vẫn nghĩ đó chỉ là một việc nhỏ. Nhưng bây giờ, đứng trước micro, tôi bỗng không biết việc mình không đến ngày hôm ấy đã làm thay đổi những gì. Có những con đường không bắt đầu từ một bước chân. Chúng bắt đầu từ bước chân ta đã không bước.

Giọng tôi chao đi trong một chữ.

Tôi chờ bài hát phê bình. Nhưng không nghe hắn nói gì, nên tôi tiếp tục:

Dù tim chơi vơi men rượu nồng Mà sao em vẫn trong hồn…

Ở chữ em tôi nhận ra người trong bài hát không còn là một nhân vật xa lạ. Nhưng cũng không hoàn toàn là người trong ký ức của tôi. Đó chỉ là một khoảng trống có hình dáng của nhiều người. Những người ta đã bỏ lại, những người đã bỏ ta đi, và cả những phiên bản của chính mình mà ta đã không quay về tìm.

Tiếng nhạc vẫn tiếp tục trong tai tôi. Người nhạc sĩ vô hình đặt xuống một hợp âm. Tôi bước vào hợp âm ấy như bước vào một căn phòng đã được xây sẵn cho mình, rồi chợt hiểu rằng căn phòng chỉ thực sự trở thành căn phòng khi có người bước vào. Nhưng người bước vào cũng không còn nguyên vẹn là người đã đứng ngoài cửa.

Tôi hát đến câu cuối Thật chẳng hiểu sao mình không thể quay về… Tôi thoáng có ý nghĩ mình sẽ ngân dài chữ về nhưng, tự nhiên tôi buông nó. Không kết luận. Không cố gợi một xúc cảm nào. Không xin người nghe tha thứ. Sau nốt cuối, piano giữ lại một khoảng ngân ngắn. Guitar chạm vào một nốt cuối cùng rồi thôi.

Tất cả chìm vào im lặng.

"Lần này sao? Anh nghĩ gì?" tôi hỏi.

Không có tiếng trả lời. Tôi đợi.

"Ê," tôi gọi. "Anh còn đó không?"

Trên màn hình, đường sóng âm đã chạy đến cuối. Những trang nhạc vẫn nằm trên giá. Các dấu móc vẫn đen và bất động. Tôi cầm một trang lên. Đó chỉ là giấy, mực và những ký hiệu do con người quy ước. Những chữ chẳng hiểu sao không còn nói gì nữa.

Tôi tháo tai nghe. Căn phòng yên tĩnh như đặc quánh.

Tôi bấm nút phát lại phần vừa thu. Giọng hát từ loa vang lên. Tôi nhận ra đó là giọng mình, nhưng không hoàn toàn giống giọng mình trước đó. Nó mang theo nét chập chờn của ca khúc nguyên thủy, câu chuyện mà lúc tôi dịch, tôi đã đặt vào lời Việt, những khoảng trống do người nhạc sĩ để lại, cùng một ký ức mà trước đêm nay tôi không biết mình vẫn còn giữ.

Ngay cả chỗ giọng chao đi cũng không hẳn giống một lỗi kỹ thuật. Nó như một vết nứt nhỏ để điều gì đó không thuộc riêng về tôi len qua.

Tôi đã hát ca khúc. Điều ấy đúng. Nhưng ca khúc cũng vừa dùng hơi thở của tôi để tự nghe thấy nó trong một ngôn ngữ khác. Người dịch đã thay đổi nó. Người nhạc sĩ đã thay đổi nó. Người hát cũng đã thay đổi nó. Nhưng trong khi đi qua chúng tôi, nó cũng lần lượt biến đổi từng người.

Người nhạc sĩ đã rời phòng thu từ nhiều tuần trước, nhưng vẫn hiện diện trong những khoảng không anh chừa lại. Người dịch, một cái tôi trước đây, cũng không đứng bên tôi lúc này, nhưng những lựa chọn vẫn dẫn giọng tôi từ tinh mơ đến bãi cát, từ ly rượu đến con đường vô định. Người sáng tác không biết tôi là ai, nhưng một câu hỏi từ một nơi chốn và thời gian khác đã tìm được đường bước vào căn phòng này.

Còn tôi, sau khi hát xong, không còn hoàn toàn là người đã đứng trước micro vào đầu buổi tối.

Tôi nhớ lại lời nhắn của người bạn nhạc sĩ: "Tao vẫn chừa chỗ cho giọng hát." Bây giờ tôi mới hiểu anh không chỉ chừa một khoảng trống trong bản phối để tôi điền vào. Anh đã chừa một nơi để người hát và ca khúc có thể gặp nhau; nghi ngờ nhau; chống đối nhau; làm tổn thương nhau; rồi cuối cùng cùng trở thành một điều mà không bên nào có thể tạo ra một mình mà cũng không hề xóa bỏ nhau.

Tờ nhạc bỗng tuột ra khỏi giá, rơi xuống một cách vô hồn.

Tôi đứng đó, với sự riêng biệt của chính mình, cùng một câu hỏi lững lờ buông vào đời sống.
 
Nguyễn Thảo
Tháng 9, 2026

Con người ngậm kín cái tốt vào lòng. Để khỏi mua lấy vạ hiềm nghi ghen ghét. Tôi nhìn đứa bé từ sau lưng, sự rung động khẽ của đôi vai nhỏ bé, vẻ hạnh phúc của cái gáy nhỏ xíu măng tơ. Phút này qua phút khác, có lẽ lâu lắm, cho đến khi đứa bé bắt đầu thỏa mãn, bú chậm lại, nhưng nó vẫn ôm lấy bầu ngực của người đàn bà lạ, ngủ thiếp đi.
Biển đêm như vô thức một màu đen mênh mông, nhưng biển chứa toàn bộ lịch sử con người từ lúc còn là tế bào phôi sống cho đến khi biến thành DNA, rồi từ thú vật tiến lên con người. Lịch sử đó đầy ngập dữ liệu nhưng chôn sâu dưới đáy nước. Hồi tưởng chỉ là những con sóng nổi dập dìu, cho dù sóng lớn dữ dằn trong bão tố vẫn không mang được hết đáy nước lên trên mặt. Vì vậy, biển lúc nào cũng bí mật. Vô thức cũng bí mật. Càng gây thêm khó khăn để chứng minh sự thật vì vô thức có khả năng biến đổi dữ liệu hồi tưởng. Chỉ những người thiếu bản lãnh mới tin vào trí nhớ của mình và của người khác. Nhưng toàn bộ nhân loại sống và tạo ra ý nghĩa hầu hết dựa vào bộ nhớ. Một số ít người hiểu rõ điều này, nhưng không làm gì khác hơn, vì hồi tưởng tự động và tự nhiên xuất hiện dù không đầy đủ, kể cả, khi con người kêu gọi ký ức đến, nó cũng đến trên xe lăn, hoặc chống nạn, hoặc bò lết như kẻ tàn tật.
Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.