Thơ Nguyễn Đức Sơn

20/12/201910:12:00(Xem: 11552)
bia 1
Hình bìa.

THƠ VÀ ĐÁ

 

Đá hát

Ngàn thâu

Tóc râu

Ta nhịp

Thơ hát

Đá át

Hồn sa

Bát ngát

 

****

 

RẰM

 

Đá nhập thơ

Nhảy trờ trờ

Trời nguyệt mở

 

****

 

VẠN CỔ

 

Đá chọi thơ

Thơ chọi đá

Sáng mịt mờ

Cõi quá lạ

 

****

 

ĐÁ HÁT

 

Đá ca

Trăng tà

Thiên ma

Bách chiết

Khuya nghe đá hát

Đòn roi thấm rát

Bất tận hồn mơ

Bốc cao tiếng sát

 

****

 

MỘNG

 

Nhà đá

Trăng tà

Vạn cổ

Hồn ta

 

****

 

ĐÊM NAY

 

Qua khe cửa sắt nhà tù

Tôi thấy trăng mù

Nín thở

 

****

 

THIÊN CAO

 

Mây bạc về đâu

Bên trên cửa sổ

Ta đợi ngoài thâu

Chuyến đi quá đắt

 

****

 

TRĂNG và MỘNG

 

Thôi trăng

Đừng vào thăm ta

Mộng đã chín ngoài xa

Vạn dặm

 

****

 

BÀI THƠ HY VỌNG

 

Thơ ca

Không đồng nghĩa

Với kêu la

Trối chết

Đồng hóa

Với trời đất bao la

Thơ ca

Có tiếng la

Từ đó

Từ đó

Giọt lệ phải sa

Cho thiên hà

Lấp ló

 

****

 

SAO

 

Núi sinh ra

Họa hoằn lắm

Mới

Có chỗ mềm

Nhưng

Cũng đủ

Cho kẻ xấu

Ngày đêm

Chê trách

 

****

 

TÔI KHÔNG HIỂU

 

Những trái tim

Trăm năm chao đảo

Nói gì

Với cái đầu

Ngàn năm

Trụ giữa giông bão

 

****

 

SỐNG

 

Cùng với thơ

Chẳng lẽ

Chỉ còn có

Một cách

Là đứng một chân

Trên núi

 

****

 

CHIỀU

 

Gò đống

Ngang qua

Ma

Một lũ

Đang ngồi cú rủ

Không thấy đứa nào hỏi

Trái đất

Mới hay cũ

Dẫu sao thì

Người

Đang sống

Phải nhào với

Ma

Một đống

 

****

 

GIỜ ĐỢI HÀNH QUYẾT

 

Cứ hỏi

Thật

Trời xanh

Khi

Các anh

Chưa bóp cò

Thì

Tự do

Đã gục

 

****

 

MAI KIA TỪ GIÃ CÕI ĐỜI

 

Mai kia từ giã cõi đời

Đừng nghe

Cái cẳng từng rời cái chân

Cái xa nhập với cái gần

Cái lạ lẫm

Cái thiết thân một rồi

Không có đứng

Không có ngồi

Không trên

Không dưới

Bồi hồi là sao

Không nghiệt ngã

Không ngọt ngào

Trần gian trở lại

Ta chào chính ta

 

 

*****

 

Nguyen Duc Son _Truong Dinh Uyen minh hoa
Nguyễn Đức Sơn, nhìn bởi HS Trương Đình Uyên



Vài dòng tiểu sử nhà thơ Nguyễn Đức Sơn

 

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn quê gốc làng Thanh Lương, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế.  Ông sinh ngày 18 tháng 11 năm 1937 tại làng Dư Khánh, tỉnh Ninh Thuận.  Nguyễn Đức Sơn bắt đầu sáng tác thơ với bút hiệu Sao Trên Rừng. Ông làm thơ rất sớm, xuất bản nhiều tập thơ và truyện ngắn từ đầu thập niên 60 cho tới năm 73. Ông là một trong bốn thi sĩ thường được gọi là “Tứ trụ thi ca” của miền Nam Việt Nam (ba người kia là Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên.) Sơn Núi là tên gọi thân mật khi hàn huyên với bạn bè. Hiện vợ chồng Nguyễn Đức Sơn sống ở đồi Phương Bối, xã Lộc Châu, thành phố Bảo Lộc.

 

Các tác phẩm đã xuất bản:

 

Tập truyện:

  • Cát Bụi Mệt Mỏi (An Tiêm, 1968)
  • Cái Chuồng Khỉ (An Tiêm, 1969)
  • Xóm Chuồng Ngựa (An Tiêm, 1971)
  • Ngồi Đợi Ngoài Hành Lang (chưa in)

 

Thơ:

  • Hoa Cô Độc (Mặt Đất, 1965)
  • Bọt Nước (Mặt Đất, 1966)
  • Lời Ru (Mặt Đất, 1966)
  • Đêm Nguyệt Động (An Tiêm, 1967)
  • Vọng (An Tiêm, 1972)
  • Mộng Du Trên Đỉnh Mùa Xuân (An Tiêm, 1972)
  • Tịnh Khẩu (An Tiêm, 1973)
  • Du Sỹ Ca (An Tiêm, 1973)
  • Thơ và Đá (Văn Học Press, 2019).

Hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao, rồi vĩnh viễn mang thảm sầu, sợ hãi, hy vọng dìm sâu xuống lòng nước. Những ghe bầu vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt tháng ngày vất vả, tìm kẽ hở chui ra biển cả. Hồn oan triền miên theo ngọn sóng thét gào. Trên đỉnh núi biến động, đại pháo tấn công, biệt thự tướng Lân bốc khói. Biểu tượng hấp hối khủng hoảng người dân chạy loạn tìm về Vũng Tàu, bến tuy cạn mà sâu ngày di tản. Đám dân buôn bán trên bờ tán loạn, bầy còng tận sức trốn núp những bàn chân hốt hoảng, chẳng biết nơi nào tỵ nạn thoát thân.
Cứ gọi, mãi gọi… một nốt thời gian xưa sóng sánh… một nơi chốn quẫy lòng quá khứ. Gọi để nhớ. Gọi để nhắc. Gọi cho tỏ tường tên tuổi, cho trong chập chùng thức ngủ ấy còn một điều chưa quên. Gọi để thấy để nghe, để lóe lên một cái ngoảnh đầu lại. Và ở đây, những ngoảnh đầu, xâu kết nỗi niềm rơi thành chữ, giải oan: Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Cao Đăng Khánh, Trần Mộng Tú, Lê Học Lãnh Vân, Lê An Thế, Âu Thị Phục An, Đặng Tiến (Thái Nguyên), Linh Phương, Nguyễn Thị Khánh Minh, Ocean Vương – Pháp Hoan
Mặt đất đầy lửa người đàn bà ngồi khóc | khuôn mặt bằng sáp ong |
Nghìn Năm Trước 50 Năm Tôi không muốn không thể không cách nào xa rời hạt bụi của vũ trụ rơi bên bờ biển xanh.
có lúc ngã | một thành phố đổi người đổi màu đổi chữ | đổi nhiều tầng | tôi vẫn sống Saigon | một Saigon khác
thành phố này nhiều nắng nhiều mưa | vỉa hè của mưa của nắng | tôi mượn tạm đi qua | ngược chiều thiên hạ | thành phố nhiều mặt lạ
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi/ Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng
Vài phách trôi trong một nhịp thở | Vài nhịp lạc trong một khúc ca | Vài hơi thoát ra từ một đời
Thôi thì thào cùng con suối nhỏ | Thương hoài thương hủy vại triều âm
đêm cuối năm, không trăng | chúng tôi quen nhìn lên. không lưu ý dấu chân để lại | những ngã rẽ | những đường vòng
Tết âm lịch thường rơi vào giữa mùa Đông của vùng đất tôi đang sống. Lạnh thế nào thì lạnh Tết vẫn phải về, hoa trong lòng vẫn nở dù nở trong nỗi bâng khuâng.