Thơ Trần Yên Hòa

02/04/202009:54:00(Xem: 4122)

Ghi lên đá

 

Ghi lên đá một thuở áo sờn vai

Vác thập ác quảy tiêu điều âm vọng

Nợ máu xương, nợ người lận đận

Của một thời vàng tím trẻ trai

 

Ngó lên núi thấy thân mình hắt bóng

Nỗi cực cùng vò xé những mầm xanh

Treo lơ lửng đầu cành ngày nóng bỏng

Mộng ban đầu tiêu tán, mong manh

 

Ngó xuống biển loài san hô bạch tuột

Ngoi đầu lên hớp hắc khí nặng nề

Mưa thấm đất rắc đôi bờ nhật nguyệt

Cùng sương mờ che khuất bãi sơn khê

 

Tháng tư về nhớ tháng tư hung hãn

Hàng hàng người như kiến giữa chảo rang

Lặn ngụp giữa trùng trùng vây khốn

Núi non nào ghi khắc đá giải oan

 

Ghi lên đá ngày năm xưa vật vã

Để đời sau nhớ mãi tháng tư nào

Cái ảo vọng của lợi danh lắng xuống

Còn lại mình tịnh độ giữa lao xao


*** 


Xa chỗ em nằm

Dù cũng biết tháng ngày qua là gió

Là mây trôi mải miết phía đồi xa

Nhưng có lúc lòng bừng cơn dị mộng

Em đâu rồi một thuở đã lìa xa

 

Tháng thốt nhớ những ngày êm dịu ấy

Lắng sâu vào tâm thức những ngày xanh

Cái hạnh phúc nhỏ nhoi mà, có lẽ

Suốt một đời mong ngóng, rất mong manh

 

Như gió thoảng mây bay về phía núi

Cùng em trôi theo mãi tháng năm rồi

Cũng đã mấy năm ròng không nhìn thấy

Em bây chừ cũng trở bạc như vôi

 

Thấy thấp thoáng mù sương em ngày cũ

Giấc nồng phai hơi hướm lúc em còn

Dang díu với những ngày tình ấm áp

Còn hương hoa, còn bụi đỏ em qua

 

Cơn đồng thiếp giấc mơ ân ái cũ

Đã xa rồi phế tích suốt trăm năm

Hương quanh quất như là em hội ngộ

Bến bờ xa đã rời chỗ em nằm

 

Trở lại đây trên bãi sông vọng nguyệt

Một lần thôi hồn phách có quay về

Xin hãy giữ niềm yêu thương tận tuyệt

Suốt một đời ngó mãi bến trời quê.

*** 


quạnh hiu tôi

 

Quạnh hiu quá ngày em từ bỏ tôi

Đi xa như về phía chân trời

Mây bay trên núi chừng ngưng lại

Tôi lại mồ côi em xa khơi

 

Cũng như vết lửa khô nứt nẽ

Xước bầm cô quạnh phía không em

Thì ra em chính là đao phủ

Chém xuống đời ơi những vết đau

 

Để lại trong tim hiu quạnh lớn

Trăm năm không biết có mờ phai

Như bóng chim trời bay lởn vởn

Một đời nhỏ lệ cơn mưa mau

 

Em có là loài hoa hướng dương

Mưa còn ướt cả lối đi mòn

Tay lật lại từng trang cổ sử

"Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương"*

*(Tiền Xích Bích phú của Tô Đông Pha)


*** 


Nằm nghe gió hú

 

Nằm nghe cơn gió hú

Ngoài hiên mưa bụi bay

Thế giới đầy mưa lũ

Lòng ta cũng loay hoay

 

Tháng ba lòng chùng thấp

Những nhớ thương vơi đầy

Một ngày nao hớt hãi

Một ngày nao không may

 

Gió hú ngoài bãi xa

Gió hú quanh triền núi

Gió hú suốt ta bà

Ơi đất trời quạnh quẽ

 

Tháng ba nghe gió hú

Những cơn mê mệt nhoài

Trở mình tim nhức nhối

Tháng ba ơi tháng ba

 

Tháng ba rời Đà Nẵng

Tình cũng đã biệt tăm

Đà Nẵng tháng ba buồn

Mắt trừng cơn thịnh nộ

 

Nằm đây nghe gió hú

Tưởng vọng một ngày xưa

Ta quay tròn thân thể

Nước mắt buổi chia lìa

 

***

Tịnh không

Lòng chập choạng nỗi vô hồn

Cơn thức tỉnh bỗng như cồn cào tôi

Thôi tôi hết đứng lại ngồi

Trơ thân phiền muộn rồi thôi em à

Miền quê cũ bỗng hiện ra

Trơ thân lữ thứ hồn xa vọng về

Thời gian khuất nẽo sơn khê

Mây và nước cũng trôi về có nhau

Tôi ì ạch giữa vàng thau

Thân như mỏi những nát nhàu thời gian

Trở về bến vắng tịnh không

Thân trơ quán tưởng mênh mông sắc chiều

Trở về bóng đổ liêu xiêu

Cơn mê cũ cũng nhẹ hèo trôi đi

Tôi nghe tiếng gọi thầm thì

Tịnh không vàng đá ôm ghì lấy thân

Thì thôi bỏ mặc căn phần

Trở về lòng tịnh phân vân nỗi gì

 

 

Trần Yên Hòa
(Anaheim,  30.3.2020)

Lòng cây mấy thưở ai người biết | Từng khóc từng reo đã mấy lần
nhỏ xuống giọt mưa trên vai áo | câu chữ phía trước phía sau vóc dáng | nghe tiếng buồn thế kỷ ngân vang tâm thức
Gió nồm thổi rát mặt | Đấy cát chảy kinh niên | Nước nước nước tù đọng | Nhà trôi như bóng thuyền
Thiên Lý Độc Hành, là tựa một tập thơ của Thầy, và cũng là bốn chữ được viết treo trên hương án của Thầy tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, nơi Thầy ở vào những năm tháng cuối đời. Thiên lý độc hành, hình ảnh biểu trưng nhất về Thầy Tuệ Sỹ, muôn dặm cô lữ dằng dặc nỗi ưu tư phận nhà vận nước…Và, khó làm sao để tường tận cái chấp chới của vạt áo tỳ khưu đẫm ánh trăng đêm, thấp thoáng ẩn hiện Người và cõi thơ tịnh tĩnh. Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở/ Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan... Hỏi, tại sao, vì đâu, lòng muối kiên định... để bất khuất chưa tan?
Collage là một nghệ thuật. Hay chỉ là một thao tác thủ công? Có người cho cắt dán ( thơ ) mang tính nghệ thuật vì có sự suy nghĩ và đồng cảm của tác nhân. Có người cho đấy là một trò chơi lắp ráp trẻ con vì sự dễ dàng của cắt xén. Có người cảm nhận thơ cắt dán là một hình thức của họa thơ tân thời. Thử nghiệm xem
Mời đọc ba bài thơ: 1. Thảnh Thơi Đường Ngộ của Hoàng Xuân Sơn. 2. Nhẫn Nại của Thy An. 3. Buổi Trưa Ấy của Trần Yên Hòa
Có ai lật dùm pho Sử Việt | 50 năm máu vẫn thấm từng trang | Có ai cầm khăn thấm hộ | 50 năm sao lệ vẫn chứa chan.
Em là con cá Hồi | mấy chục năm sống nhờ biển khác | suối nào đợi em về | cho em trầm mình gửi nắm xương da | ôi những con suối quê hương
Hãy sống thêm một ngày nữa / Tới trước cánh cửa em chưa bao giờ mở ra / Hãy đọc lời ai điếu trên mộ chúng ta / Hãy đi qua / Dòng sông mùa lũ / Đặt tâm hồn / Vào trong tay một người khác / Hãy bắt đầu / Ngồi xuống / Giữa kẻ thù / Hãy để mưa / Rơi trên nghĩa địa / Hãy để tự do làm thành trí nhớ / Của quê hương chúng ta, hãy để người thiếu nữ / Đã chết trở thành hoa, hãy bắt tay một người .
Tháng tư nắng quái trên tàng lá / Ngày nóng rang, khô khốc tiếng người / Nước mắt ướt đầm trên mắt mẹ / Nghìn đêm ai khóc nỗi đầy vơi? / Tháng tư em dắt con ra biển / Hướng về nam theo sóng nổi trôi / Thôi cũng đành, xuôi triều nước lớn / Làm sao biết được, trôi về đâu?
Em biết không, khi em chết trước. Giường ngủ sẽ chết theo. Toàn thể căn nhà đều bệnh nặng.
Dù đứng bên bờ vực của tận diệt, con người vẫn có thể cứu chuộc chính mình bằng ngôn từ và ký ức, đó là tinh thần của giải Nobel Văn Chương năm nay. Trong ánh sáng của niềm tin, Việt Báo đăng lại bài thơ “Hãy để nước Mỹ lại là nước Mỹ” của Langston Hughes – một khúc ca vừa đau đớn vừa thiết tha, viết gần một thế kỷ trước, mà như viết cho thời đại ngày nay. Giấc mơ Hughes gọi tên lại vang lên – giấc mơ về một xứ sở nơi lời hứa của nước Mỹ là hơi thở chung của những người cùng dựng lại niềm tin vào công lý, vào tự do, vào chính con người.
Đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp, nhất là trong tập Tôi Cùng Gió Mùa, nếu cho là chủ quan, tôi vẫn nói rằng, Khí thơ của Nguyễn Xuân Thiệp là khí thu. Trăng ở thơ đó là trăng thu. Gió ở thơ đó mang cái hắt hiu thu. Không biết tại sao, chỉ thấy Khi đọc thơ Nguyễn Xuân Thiệp tôi lại liên tưởng đến cảm xúc của Trương Trào trong U Mộng Ảnh xưa: “Thơ và văn được như cái khí mùa thu thì là hay.”. Nguyễn Xuân Thiệp, xuất hiện lần đầu tiên trên dòng thơ của văn học miền Nam Việt Nam vào năm 1954 trên Thẩm Mỹ Tuần Báo với bài thơ Nhịp Bước Mùa Thu. Bài thơ tính đến lúc này là 71 năm -tiếng thở dài một đời người-, hôm nay tôi đọc lại, cảm xúc vẫn bị lay động bởi hình ảnh u buồn của lịch sử vào thời gian xa xăm đó.