Saigon Tôi Ơi

04/08/202111:55:19(Xem: 5148)
Saigon
Sài Gòn - Đinh Trường Chinh



 

Saigon bây giờ đêm ngày giới nghiêm

Saigon giẫy chết, saigon im lìm

Saigon ban đêm không đèn điện sáng

Saigon ban ngày không họp chợ đông

 

Saigon bây giờ cửa đóng then gài

Không được ra ngoài, không được hẹn ai

Gặp không bắt tay, không lời chào hỏi

Saigon bây giờ sống đếm từng ngày

 

Saigon mẹ tôi không miếng trầu tươi

Không miếng vôi nồng, môi miệng biếng cười

Mẹ ngồi lặng nghe từng con số tới

Số cứ tăng dần, mắt Mẹ lệ rơi

 

Saigon cha tôi không cà phê sáng

Không bạn không bè không chuyện râm ran

Một góc cha ngồi im nghe tin dữ

Hết người này chết lại đến người kia

 

Saigon bạn tôi mỗi ngày đón tin

Con số người nhiễm bệnh covid

Bạn mừng khi nghe tin bệnh đang giảm

Mắt bạn lệ nhoè khi bệnh tăng lên

 

Saigon em tôi không thể đến trường

Tuổi thơ hồn nhiên bị nhốt trong nhà

Đôi mắt mở to nhìn đêm đen đến

Em học chịu đựng từ mẹ, từ bà

 

Saigon có người nhung lụa phủ phê

Bước xuống xe hơi có lọng phủ che

Một bước chân đi có người tiếp đón

Người không thấy đời đau khổ bên kia

  

Saigon nhiều người đói khát từng ngày

Lê tấm thân còm bán vặt đó đây

Gom không đủ tiền mua từng lon gạo

Ngày lại qua ngày, cuộc sống lất lây

 

Saigon dân tôi nằm nhà chết đói

Oằn mình chịu đựng cơn đói hoành hành

Saigon dân tôi có miệng không nói

Bởi có ai nghe người không chiếu manh

 

Saigon tôi ơi, Saigon tôi ơi

Saigon địa ngục, Saigon tả tơi

Tôi gởi Saigon niềm thương nỗi nhớ

Tôi gởi Saigon mong mỏi xa vời

 

Saigon tôi ơi, Saigon tôi ơi.

 

Trịnh gia Mỹ

1 tháng 8 năm 2021

 

Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.
Câu thơ chưa kịp viết / Cả rừng cây đứng chờ / Và gió ngàn vẫy gọi / Tới đây xem mùa thu...
ghi thêm nét sắc hình hài / vẽ lên câu chữ ngón tay chợt buồn…
nặng lòng là bởi / xuân đang tới / và cây đang rộn rã lên hồng / ta đã đi / chưa chào em, đà-lạt!...