Phố Thị

27/03/202220:16:00(Xem: 5445)

TâyNguyên

 

(Viết cho Banmethuot yêu dấu).

 

Em xa Phố Thị lâu rồi,
Có quên không nhỉ những nơi hẹn hò,
Khu rừng Trắc - Bá bây giờ, (1)
Mùa Thu đã gọi vàng xưa đổ về,
Cánh buồn che khuất lối đi,
Cỏ non cũng úa xuân thì chiều qua,
Lủng - Hồng phủ màu xót xa , (1)
Ái - Ân một thủa mặn mà còn đâu,
Vườn - Ương ôm đầy nét sầu,
Cây khóc tử biệt, hoa đau theo người,
Đài trang rã xuống khắp nơi,
Bầy Chim - Chích cũ đã rời rừng xưa,
Hoang sơ phủ khắp bốn mùa,
Phố phường đổi chủ, người chưa quen người !

 

Vinh - Sơn đã mất trên đời, (2)
Và tên Tỉnh - Hạt đã rời trần gian,
Hưng - Đức, Tổng - Hợp, La - San,
Đâu còn bóng dáng những nàng kiều xưa,
Bồ - Đề đã vào cõi mơ,
Hai hàng Phượng rũ, đôi bờ để tang,
Phố phường mang nét điêu tàn,

Những con đường cũ đã sang tên rồi,
Người người phiêu bạt ngàn nơi,
Em ơi phố thị của thời xa xưa,
Chỉ còn dư âm trong mơ,
Chỉ là vị đắng những giờ nhớ thương.


Em xa phố thị, xa trường,
Bao lâu rồi nhỉ - còn thương nhớ gì,
Con đường Thống - Nhất quen đi, (3)
Hay là Y - Jút mỗi khi xuân về,
Mùa Thu rụng trên hàng me,
Chơ vơ những cánh bên lề Hùng - Vương,
Phan - Chu – Trinh, Xóm - Đạo buồn,
Hàm - Nghi dốc đứng mù sương che người,
Buồn Muôn Thủa - Bụi Mù Trời,
Biển dâu đã đẩy em rời phố xưa,
Mà ta vẫn sống trong mơ,
Đường xưa phố củ bao giờ mới quên!

 

– tử du

 

(1) Địa danh, những thắng cảnh của địa phương.
(2) Tên các Trường Trung Tiểu Học.
(3) Tên những con đường.

 

Việt Báo hân hạnh giới thiệu một bài thơ mới nhất của nhà thơ Trần Mộng Tú. Chị là một trong những người cầm bút có sức sáng tạo bền bỉ nhất của văn học Việt Nam hải ngoại, từ thời người Việt mới định cư nơi xứ người cho đến ngày hôm nay. Và mặc dù trải qua chừng ấy năm tháng, tiếng Thơ chị không già, mà vẫn trong trẻo, tinh tuyền, sáng ngời hy vọng tin yêu, như bài thơ dưới đây. Xin mời quý bạn đọc cùng thưởng thức. – TYT.
Thơ Quảng Tánh Trần Cầm/ Tranh Lê Thánh Thư
Chúng ta mỗi bước qua rừng vắng / chừng tưởng như đi giữa cuộc đời / một mùa khương nhiệt xa tít tắp / chút náo huyên cầu nghe rụng rơi
ai sẽ mở cửa cúng rằm / bọn chúng ma sống / lóc vỏ cây / một bầy lặt cỏ cỏ nguỵ trang gốc / sống chui rúc trong kẽ lèn chủ thuyết
Em cứ yêu đi đâu cần chi li / yêu dung dị / tình yêu chưa hề / là xa xỉ phẩm
lời kinh thấm sâu vào Đất Trời rộng lớn / sớm mai nguyện cầu / kiếp nhân sinh mù mịt / mất còn trong gang tấc / những con lạch nước đen mùi bùn réo rắt kỷ niệm / những đêm trăng hoang sơ / im lặng như thơ
con giun nằm yên lòng đất co mình dưới bàn chân hung bạo / tiếng than của đồng loại thấm sâu / nghe trăn trở oặn mình / tấm thân như cỏ dại / trườn đi vào những quanh co ái ngại / con người tinh khôn nhất / nên đã đóng vai tất cả các loài thú / vượt qua bao nhiêu năm tháng
tháng mười trời mưa / tình anh là mây / đậu lại bờ này / hôn từng ngọn cỏ / gửi lời thơ bay / từng hạt sương mai / ướt tóc em dài / thấm vai hờ hững / cho hồn anh say
Độc giả nào đọc thơ Ngu Yên trong 36 năm qua (từ 1985), có lẽ cũng nhận ra, thơ của ông luôn luôn thay đổi vì luôn luôn tìm tòi, đào sâu bí ẩn của thi ca. Ông đã từng xác nhận, hành trình làm thơ là thứ yếu, mục đích lớn hơn, là truy lùng và dự đoán thơ thế giới và thơ Việt trong tương la. Ông là người thám hiểm phiêu lưu.
Thị Ngạn am một “ Góc Tùng” tự tại / Hai nẻo đường gánh vác nặng trên vai / Thân gầy gò ý chí chẳng đơn sai / Phách kim cang trong hình hài lau sậy
Vào thời điểm này, phải chăng thơ đã là món ăn tinh thần lỗi thời, mất hương vị quyến rũ, thua mùi phở hấp dẫn khi đói bụng? Đúng như vậy, có đói mới thèm ăn. Làm sao biết tâm tư của bạn đang đói? Hỏi thử nó có mệt mỏi, có căng thẳng, có phiền muộn chuyện đời, có ghét bỏ người khác? Nếu có, đúng rồi, nó đang đói. Thơ là món ăn tinh thần cổ truyền từ tiền sử. Nếu tiểu thuyết là bữa tiệc, truyện là bữa ăn tối, thì thơ Việt chính là phở. Một món ăn độc đáo cho bất kỳ người Việt nào tại gia hoặc tha hương.