Trang Thơ Tháng Ba

03/03/202315:24:00(Xem: 3267)
AutoStyle-Louis Soutter (1871-1942)
Autostyle của họa sĩ Louis Soutter (1871-1942).



QUẢNG TÁNH TRẦN CẦM


 

ngày mùa đông

 

1.

thơ viết buổi tối rất đen

đen cháy / đen mun / đen than / đen lọ nồi

nàng nói đen như huyền thoại

đen như phim noir

chậm chạp nhỏ từng giọt trong bầu khí quyển căng thẳng

đôi khi vương ánh nến chập chờn

trong những giờ phút chờ đợi rạng đông bừng sáng. 

 

2.

mưa nơi này  ̶ ̶ ̶  như tôi biết  ̶ ̶ ̶  không nhiều

nhưng gần đây có thể dai dẳng cả ngày đêm

nàng kéo cao cổ áo

sáng nay thức dậy chợt thấy chứng sổ mũi viêm họng và

cơn ho tức ngực không còn

không là hoang tưởng

mùi huệ trắng thật thà nồng ngái

lan tỏa cùng khắp phòng đợi

khoảng không bỗng nhiên chơ vơ xa cách mênh mông

chờ đợi lời chia tay sau cùng và những giọt nước mắt

chấm phá trên bức thủy mặc bến bờ thiên thu hiu quạnh. 

 

3.

bia hơi bên bia đá

những chân nhang bạc màu bụi tro vương vãi

buổi chiều vẩn vơ trong nghĩa trang

trời sụt sùi chuyển mưa

bóng người xiêu đổ trong cơn mất trí tập thể

thời tiết mùa đông ở đây bất định

nhẫn nhục chịu đựng nỗi ám ảnh không rời.

 

4. 

hạnh phúc là vạt nắng lấp lánh linh hoạt ngày mùa đông

bên hành lang dài sâu thẳm

bất chấp giấc mơ lênh đênh xuyên suốt giấc ngủ vùi

buổi trưa bước qua dòng cảm xúc tươi mát 

lẫn lộn đôi chút ngờ vực

những khuôn mặt / tiếng nói / điệu cười / danh tính

lảng vảng chập chờn  ̶ ̶ ̶  nghe chừng xa lạ bỗng dưng gần gũi

có phải hạnh phúc đến khi chúng ta không tìm nó? 

 

– Quảng Tánh Trần Cầm

 

*

 

THY AN

 

 

Bạc tóc đèn đêm

 

đốt cháy niềm tin như đốt sợi tóc

bốc lên mùi khét

kêu cái xèo ngắn gọn

rồi xong

kỳ vọng làm chi ở những bám víu và vá víu

thời gian đang xói mòn hoài niệm

và ký ức bị lủng một lỗ quá to

 

làm thế nào định vị trái tim thật thà nhất

giữa rừng hoa hay rơm rạ

để treo lên đỉnh ngọn làm thần tượng tôn thờ

hơi hám văn minh không đủ an ủi  

chỉ đem lại thật nhiều ảo tưởng như rượu và thơ

cạn ly tửu trần chữ nghĩa

khác chi giọt nước mưa rơi xuống giếng đời

bằng hữu xôn xao rồi bặt tiếng

 

chui vào hang động đầy góc tối

trăng soi trăm ngàn hình vật biến dạng

một đống câu hỏi chập chùng

chồng chất tình yêu, gia đình, bản ngã, quê hương

mấy con đường xao động đáy sâu tri kỷ

 

nỗi buồn vẽ lên những dấu hỏi và chấm than

cô đơn bạc tóc đèn đêm…

 

 

Chữ nghĩa đàn hồi

 

ta chạy nhảy với con mắt mù vì vui

có sáng ngời bao nhiêu cũng không thấy con đường mê lộ

ta cười to với trí khôn bị giam tù

tiếng át cả lương tâm bé nhỏ

ta nâng ly rượu nồng vô cảm

đắng trái tim chiều đông

và trôi bềnh bồng

nhẹ như rơm rạ

 

máu chảy nhưng ruột chưa mềm

miệng lưỡi dẻo như cao su

chữ nghĩa nghe tội nghiệp đàn hồi

lăn trầm như viên sỏi

không ngóc đầu lên nổi

 

vung tay đánh gió thấy đau

mùa bao dung chạy vòng vòng xin lỗi

cẩu một thánh giá hay tượng Phật

treo lên cao và ngắm

ve vuốt

đồi xanh có bóng ai qua nhanh

 

– thy an

 

*

 

VĨNH  NGỘ

 

Chào em

 

Chào em buổi sáng tinh khôi
Chào anh buổi tối lên đồi thẩn thơ
Chào cô một mối tình hờ
Chào người giã biệt đừng chờ đợi nhau

Chào em thấp thoáng ngày sau
Chào anh sám hối lên cầu lang thang
Chào ai chưa hết bẽ bàng
Chào người đã hết nợ nần gì đâu

Chào ai còn chạnh lòng đau
Chào ta lòng vẫn còn sầu tư hương
Chào người đi hết con đường
Chào em ở lại hết buồn hết mong.

Chào anh một thuở long đong
Chào em một dạ một lòng chờ ai
Chào ai còn sợ ngày dài
Chào ta chào hết cảnh đời trầm luân.

Chào em buổi sáng phân vân
Chào người buổi tối tần ngần chưa đi
Chào sương còn đọng rèm mi
Còn chào ai nữa, xuân thì đã qua.

 

– Vĩnh Ngộ

 

*

 

NGUYỄN HÀN CHUNG

 

 

Trung úy và trung sĩ

 

Thi rớt răng khểnh bỏ tôi

dạo phố với chàng trung úy

 

Bây giờ trung úy đã già

tôi hoài đeo lon trung sĩ

trung sĩ vẫn còn ngơ ngơ

ngó nàng bón cơm trung úy

trung sĩ trở thành nhà thơ

lưu vong cuối trời xứ Mỹ

 

Năm mươi năm đã qua rồi

chiều nay một cựu trung sĩ

ngâm bài thơ gió mồ côi

gửi sóng tình về cố lý

 

Không biết trung úy phu nhân

đọc thơ ghét mình không nhỉ!

 

 

Thề không triệt sản

 

Bây chừ anh sang nước Mỹ

Lắp bắp cũng thành công dân

Sao em giục anh triệt sản

Không cho anh đẻ tản thần

 

Triệt sản anh còn cái xác

Hoặc như mới vừa thai sinh

Anh cứ hoài thai rụng trứng

Không em anh đẻ một mình

Anh đẻ trong niềm phấn hứng

Con bầy nhưng cũng khá xinh

 

Không tin em hỏi bạn hữu

của anh trên khắp hành tinh

Bạn trai cũng như bạn gái

Sao anh triệt sản cho đành!

 

Anh xin thề không triệt sản

Trời cho cứ đẻ tành tành

Miễn không đẻ loài phản bạn

Suốt đời dối trá lưu manh

 

Anh đẻ và anh dạy dỗ

con yêu đất nước của mình

chung lưng với người đói khổ

phận đời trôi nổi điêu linh

 

Chín mươi nếu anh còn sống

Vẫn đẻ, em đừng cấm anh!

 

– Nguyễn Hàn Chung

Thơ của ba người: Quảng Tánh Trần Cầm, Thy An & Trần Hạ Vi...
---- Bài thơ tặng cặp tình nhân Trương Vấn & Kim Oanh Một thời anh mời em bước ra từ Thiên ý ngập tràn ánh sáng nơi những tiếng cười bay theo mây trời lãng đãng nơi niềm vui lơ lửng hương thơm tuổi học trò
Trong bài thơ “Không Đề” của cố thi sĩ Quang Dũng, có hai câu của chàng nói với nàng sau hai mươi năm xa cách, Em mãi là hai mươi tuổi/ Ta mãi là mùa xanh xưa… Điều gì khiến Quang Dũng vô hiệu hóa được sự tàn phai của thời gian? Mùa xanh ấy có phải là điểm nhấn rực rỡ của mùa xuân trên dòng trôi bốn mùa, và phải chăng tuổi hai mươi là nơi mà nhịp bổi hổi bồi hồi của đôi trái tim để lại dấu ấn? Nó mạnh mẽ tới mức người ta thấy thời gian ngừng lại. Ngang đó. Không trôi. Cứ là mùa xuân, cứ là hai mươi tuổi...
Khai bút đầu năm của nhà thơ Trần Mộng Tú...
Một sáng mùa Xuân ngập ánh hồng, / Một cung đàn ấm khắp Tây, Đông. / Một rừng thông điểm trời mây biếc, / Một vũng vàng tô biển nước trong. / Một khối bao la hoa lá trổ, / Một bầu bát ngát sắc hương nồng. / Một tia nắng đẹp soi muôn cõi / Một chữ là mang một tấc lòng.
Thưa người nước mắt bình minh/ Cái trong veo để phục sinh lại đời / Thưa người những bước rong chơi / Đưa nhau ngàn dặm nụ cười tung tăng / Sóng cao vực thẳm thưa rằng / Chân con kiến bé cứ lằng lặng đi / Mùa nào hút cánh thiên di /Qua sông núi biếc. Sợ gì nắng mưa
Thơ của hai nhà thơ Thy An & Kim Loan...
tết đến. công viên vắng, nơi đây | hàng cây chìm trong lớp sương mù dày đặc | những hình ảnh hiện ra trong đầu không lớp lang gì hết | trái ớt khô lá dong khô cội mai già chết
Nàng muốn anh là của nàng / Dẫu chỉ trong phạm vi một câu chuyện / Có thể yêu anh nửa cuộc đời / Đem hạnh phúc của mình / đánh đổi một cuộc chơi...
sáng sớm ngày thứ tư / như thường lệ / hoàng tử be bé dẻo miệng khua môi / bội ước / bội tín / bội tình / và như thường lệ hoàng tử be bé bội thực / lộn nhào trên con dốc...
Trong vũ điệu day dứt của hoang mạc gió, lữ khách dừng lại, gõ cửa. Căn nhà trống mùa đông. Bàn tay lạnh quẹt một que diêm, nhen lên nỗi buồn, thảng thốt những ước mơ ngày cũ theo tro bụi bay lên, buồn bã như những lời em sắp nói, như ánh lửa lụi tàn, như tuổi thơ đi qua… Có tiếng chuông xa đâu vọng về, đơm hoa trong bóng tối lời nguyện cầu, lữ khách cảm thấy móng vuốt của băng giá tan ra bởi niềm khát khao cháy bỏng… Tuyết rơi trên ô cửa sổ, lấp lánh một nỗi chờ.
Ừ xuân uyển chuyển như em bước / Mỗi khoan thai là mỗi nhành mai / Cớ gì anh lại như... chú chuột? / Để em mang vuốt giấu trong tay?...
Đàn bà trong chiến tranh không giống hình vẽ hay tiểu thuyết. Giống búp bê biết nói, thời bình giá cao thời chiến giá rẻ. Thời nào cũng dễ thay áo cởi quần. Để búp bê nằm xuống, nó nhắm mắt. Bóp mạnh vào thân, nó kêu. Lúc lắc, nó tự động nói. Nhưng đàn bà chỉ giống, không phải búp bê vì khóc ra nước mắt thật.