Mười Hai Tháng Sáu

12/06/202314:47:00(Xem: 3374)
Vũ Hoàng Chương
Vũ Hoàng Chương. Bản hí Họa của Chóe



Riêng gửi Kiều Thu

Trăng của nhà ai? trăng một phương!
Nơi đây rượu đắng mưa đêm trường.
Ờ! đêm tháng sáu mười hai nhỉ!
Tố của Hoàng ơi! hỡi nhớ thương.

Là thế! là thôi! là thế đó!
Mười năm thôi thế mộng tan tành
Mười năm, trăng cũ ai nguyền ước?
Tố của Hoàng ơi! Tố của anh!

Tháng sáu, mười hai, từ đấy nhé
Chung đôi, từ đấy nhé lìa đôi!
Em xa lạ quá, đâu còn phải
Tố của Hoàng xưa, Tố của tôi.

Men khói đêm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu, ghi mười hai.
Tình ta, ta tiếc; cuồng, ta khóc,
Tố của Hoàng nay Tố của ai.

Tay gõ vào bia mười ngón rập
Mười năm theo máu hận trào rơi.
Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp,
Khúc Cổ Bồn Ca gõ hát chơi.

Kiều Thu hề Tố em ơi!
Ta dương lửa đốt tơi bời Mái Tây,
Hàm ca nhịp gõ khói bay
Hồ, xừ, xang, xế, bàn tay điên cuồng.

Kiều Thu hề trọn kiếp thương!
Sầu cao ngùn ngụt mấy đường tơ khô
Xừ, xang, xế, xự, xang, hồ,
Bàn tay nhịp gõ điên rồ khói lên.

Kiều Thu hề Tố hỡi em!
Nghiêng chân rốn bể mà xem lửa bùng.
Xế, hồ, xang... Khói mờ rung.
Nhịp vươn sầu toả năm cung ngút ngàn.


Nguồn: Vũ Hoàng Chương, Mây, NXB Đời nay, Hà Nội, 1943

*

Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương, Con Rồng Thi Ca Việt Nam (Sinh năm Bính Thìn 1916 - Mất năm Bính Thìn, 1957)

Sinh ngày 5 tháng Năm, 1916 tại Nam Định, Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn của Việt Nam.
Ông học chữ Hán từ trong gia đình, sau theo học trường Albert Sarrault, đỗ Tú Tài Pháp năm 1937, đi học Luật, học Toán, rồi buông hết, đi làm thơ, viết và diễn kịch!

Di cư vào Nam từ 1954, Vũ Hoàng Chương là một thi hào của miền Nam tự do, hai lần được Giải thưởng Văn chương Toàn quốc, năm 1959 và 1972. Là chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, ông tham dự các hội nghị Văn Bút Quốc Tế, diễn thuyết về thi ca Việt Nam trước các diễn đàn thế giới.

Sau khi miền Nam sụp đổ, ông bị chế độ Cộng sản bắt giam trong khám Chí Hoà ngày 13 tháng Tư 1976. Khi biết đã "đạt chỉ tiêu" hành hạ thi sĩ đến sức cùng lực kiệt, chúng trả ông về nhà và vài ngày sau, thi sĩ tạ thế tại nơi mà ông gọi là "Gác Bút", ngày sáu tháng Chín năm 1976.

giọt ngắn giọt dài | thấm vai nghe lạnh | đôi mắt nhả ra thứ ánh sáng mịt mờ | nhận chân niềm hạnh phúc vỡ mau
phận người như vỏ bào mạt cưa trong cơn lốc xoáy | quá khứ thập thò van xin | ký ức bé mọn chập chờn lang bạt ̶ ̶ ̶ nào ai nhớ
Như một người đi tìm kỷ vật | Tờ lịch xưa đánh tráo góc mù | Con số nhảy múa trên triền dốc | Đời buồn như một chiếc mộng du
Nếu cần, con tin Chúa sẽ chịu đóng đinh thêm một lần nữa | để con chiên Chúa được bình an có cái ăn cái ấm chắc chắn Chúa đã làm, đang làm và sẽ làm | bởi vì Người là Đức Chúa trời hằng cứu giúp chúng con.
Ngỡ mình ở cuối năm tây | Dòm trật năm cũ thấy ngày đã xa Ngỡ mình là gió bay qua | Không phải. đứng khựng. chỉ là cây khô | Ngỡ mình đâu đó phất phơ | Năm. tháng. chấm. phẩy, một tờ sang trang
Những bài thơ xuất sắc của Giáng Vân nằm ở biên giới giữa điều có thể nói và điều không thể nói ra. Thơ chị có nhiều đề tài, tình yêu, suy tư lịch sử, những xúc động mới về thế giới hiện nay. Đó là một loại thơ sâu kín, cắm rễ trong vùng tối đen của tiềm thức, nhưng hướng về phía ánh sáng. Giáng Vân không ngần ngại nói về sự bế tắc, sự cùng đường của xã hội, cái chết và sự diệt vong của con người. Trong tập thơ gồm 36 bài, những mảng tối được thấy rõ, sự buồn rầu, lo lắng, cảm giác phẫn nộ, nhưng chị nói nhiều hơn đến sự vượt qua. Chị tin vào tâm hồn. Thơ chị có hai nguồn mạch: những câu chuyện riêng tư và những nỗi lo âu của thời đại mình. Chị có những bài thơ đi tới chỗ tận cùng, nơi giao điểm của hai niềm cảm hứng, đó là một kiểu thơ trữ tình thời sự hiếm gặp hôm nay.
Em một đời quanh quẩn giữa bông hoa Báo Xuân, con Chim non, con Ve Sầu, | con Chuồn Chuồn Kim con Giun đất… và ngất ngây rượu Mận | Em không tìm ra em
mùa đông đem lại chút bão giông | hát ca một đời hao hụt | hôm qua và ngày mai | thế giới vỡ tung trước mắt
Sống đến một lúc nào | nhìn xung quanh hết thấy con nít. | Biết ngay | hồn nhiên tự tại chết ướp trong khôn ngoan.
Nhà thơ Vũ Trọng Quang bảo mũi tên ấy bay hoài bay không tới. Làm sao bay kịp thời gian. Hoặc giả như vầy. Nơi tôi ngồi cố định, và. thời gian đi qua đi qua. Khi lời thơ vừa thốt lên là lúc tôi rơi mất thời gian. Không gian nào giữ những lời đi. Ở những bài thơ sau đây bạn có thể thấy được nơi thời gian và không gian gặp nhau trong nhịp lẫy tình cờ. đã ra đi là muôn đời ở lại…Bây giờ là bao giờ??? Bao giờ là bây giờ!!!, chiếc kim đồng hồ lẩn thẩn/ như con kiến già bò trên miệng chén… …Bạn cùng tôi như ai kia thập tự vác mình qua đông gió, cứu chuộc nỗi tàn phai của Màu thân thể ngó chừng cũng cũ cùng sự lãng quên muôn đời, để có thể trong thế giới siêu hình yên tĩnh của ta được an ủi Mưa trầm trầm dương thế/ Ngấm sâu miền âm gian… , dù mưa không dội sạch được những linh hồn run rẩy, và dẫu Đó là cánh cửa bí mật/ từng khép cửa linh hồn…
hết xuân sang hạ | hồi cư chiếc buồn | một mình vẫn | một mình luôn
người bán hàng tiếp tục chu mỏ thuyết minh | con cóc nhảy ra và ngồi đó ̶ ̶ ̶ vừa lắng nghe | vừa gật gật đồng ý: “văn hóa phi vật thể”
Khóc mùi một trận đi, quê núi | Vuốt ngực trôi xuôi những nỗi niềm | Trả hết về xưa cho gió xóa | Để hồn ươm vạt nắng vàng im |