Mười Hai Tháng Sáu

12/06/202314:47:00(Xem: 3364)
Vũ Hoàng Chương
Vũ Hoàng Chương. Bản hí Họa của Chóe



Riêng gửi Kiều Thu

Trăng của nhà ai? trăng một phương!
Nơi đây rượu đắng mưa đêm trường.
Ờ! đêm tháng sáu mười hai nhỉ!
Tố của Hoàng ơi! hỡi nhớ thương.

Là thế! là thôi! là thế đó!
Mười năm thôi thế mộng tan tành
Mười năm, trăng cũ ai nguyền ước?
Tố của Hoàng ơi! Tố của anh!

Tháng sáu, mười hai, từ đấy nhé
Chung đôi, từ đấy nhé lìa đôi!
Em xa lạ quá, đâu còn phải
Tố của Hoàng xưa, Tố của tôi.

Men khói đêm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu, ghi mười hai.
Tình ta, ta tiếc; cuồng, ta khóc,
Tố của Hoàng nay Tố của ai.

Tay gõ vào bia mười ngón rập
Mười năm theo máu hận trào rơi.
Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp,
Khúc Cổ Bồn Ca gõ hát chơi.

Kiều Thu hề Tố em ơi!
Ta dương lửa đốt tơi bời Mái Tây,
Hàm ca nhịp gõ khói bay
Hồ, xừ, xang, xế, bàn tay điên cuồng.

Kiều Thu hề trọn kiếp thương!
Sầu cao ngùn ngụt mấy đường tơ khô
Xừ, xang, xế, xự, xang, hồ,
Bàn tay nhịp gõ điên rồ khói lên.

Kiều Thu hề Tố hỡi em!
Nghiêng chân rốn bể mà xem lửa bùng.
Xế, hồ, xang... Khói mờ rung.
Nhịp vươn sầu toả năm cung ngút ngàn.


Nguồn: Vũ Hoàng Chương, Mây, NXB Đời nay, Hà Nội, 1943

*

Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương, Con Rồng Thi Ca Việt Nam (Sinh năm Bính Thìn 1916 - Mất năm Bính Thìn, 1957)

Sinh ngày 5 tháng Năm, 1916 tại Nam Định, Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn của Việt Nam.
Ông học chữ Hán từ trong gia đình, sau theo học trường Albert Sarrault, đỗ Tú Tài Pháp năm 1937, đi học Luật, học Toán, rồi buông hết, đi làm thơ, viết và diễn kịch!

Di cư vào Nam từ 1954, Vũ Hoàng Chương là một thi hào của miền Nam tự do, hai lần được Giải thưởng Văn chương Toàn quốc, năm 1959 và 1972. Là chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, ông tham dự các hội nghị Văn Bút Quốc Tế, diễn thuyết về thi ca Việt Nam trước các diễn đàn thế giới.

Sau khi miền Nam sụp đổ, ông bị chế độ Cộng sản bắt giam trong khám Chí Hoà ngày 13 tháng Tư 1976. Khi biết đã "đạt chỉ tiêu" hành hạ thi sĩ đến sức cùng lực kiệt, chúng trả ông về nhà và vài ngày sau, thi sĩ tạ thế tại nơi mà ông gọi là "Gác Bút", ngày sáu tháng Chín năm 1976.

Ông đó là ai? | Chân tay dài thòng, đầu cao đến mây. | Chưa ai thấy mặt thật. | Tay xích cổ hàng tỷ con chó dẫn đi. | Đám chó hỗn loạn chờ tranh giành ăn uống. | Rồi dần dần tắt thở bên đường. | Đúng là ngu như chó.
Tôi có một cây chuối kiểng, trồng trong một chiếc chậu để ở phòng khách cùng với mấy chậu hoa lan. Những cây lan thỉnh thoảng trên những chiếc lá của chúng có một loại nấm ký sinh trắng bám vào. Cây chuối hàng xóm cũng bị vạ lây, nấm ký sinh của lan bay sang cư ngụ trên khắp tầu lá, làm những tàu lá chuối đang xanh mướp bỗng ủ rũ, héo vàng...
kìa con sâu bụ bẫm trên nhánh cà / có biết không lâu nó sẽ hóa bướm / theo chu trình tự nhiên đã định...
Người người hoan ca Mỹ Sơn quần tháp rêu phong / trơ trọi một mình em, một tháp / mấy ai biết muốn trả cái giá bằng an / bao thân thế sa mưa / bụi vùi, rêu lấp....
Tôi thích ngắm những buổi chiều lá rụng / Nghe bâng quơ tiếng thở của thời gian / Những con đường thơ mộng một màu vàng / Đang run rẩy theo từng cơn gió bụi...
Phần lớn các nhà thơ nữ sinh sau cột mốc đau thương 1975, đã dường như nhẹ nhàng hơn, những ám ảnh của chiến tranh, ít bị day dứt hơn vấn đề ý thức hệ. Họ ít nhiều đã hưởng được quả ngọt của nữ quyền, thoát ra khỏi khung cửa chật hẹp của định kiến, góp phần nở rộ một dòng thơ mạnh mẽ, tự tin, khao khát tự do, và bản lĩnh, nói rất thực nhân sinh quan của mình về những mối tương quan trong một thế giới vật chất như hiện nay. Họ cũng rất phóng khoáng thể hiện những cảm xúc đam mê dạt dào nữ tính. Mang những trạng thái có vẻ như đối nghịch nhau như thế khiến dòng thơ của lớp thơ nữ này tỏa sức quyến rũ lạ lẫm, tạo nên một lớp độc giả với cảm thụ thi ca mới mẻ.
Khi những cơn ho kéo tới / lồng ngực em có những đóa lục bình / vừa trôi vừa nở / những cánh hoa màu tím...
Thật háo hức! | Thật hiệu lực! | Sáng sớm, còi báo động đánh thức | xe cứu thương lên đường túa ra khắp nơi,| xác chết đong đưa trong gió | băng ca tròng trành nạn nhân... gọi mưa từ mắt mẹ,
khi câu thơ la cà / ở những con đường lắc léo của hoài niệm / là lúc tôi hiểu ra / những khúc mắc của tâm thức / những chập chùng duyên khởi giữa quá khứ và hiện tại...
Bước lên / giọt nắng / xuân ngời / cái tôi bỗng nhẹ / bời bời gió thơm…
Âm vọng mỗi lúc động hưởng hơn / Không có chỗ thầm thì cho ngọn gió ướt mềm / Và lời nói không cũng không còn lưu trú trong bảo tồn ngữ nghĩa...
Những đoản thi của nhà thơ Nguyễn Hàn Chung...
Xin có lời tâm sự, rằng trong lòng tôi vẫn luôn luôn là một đứa trẻ rất mực ngây thơ, nghĩa là, chưa bao giờ lớn cả. Nói cho đúng, tôi đã lớn dậy giữa rừng văn học cổ tích quê nhà, đã say mê đọc truyện cổ về những vị Bụt bay tới khi có ai đó gặp nạn và ngồi than khóc, đã miệt mài với những thần thoại tuyệt vời trong Kinh Phật… Và rồi, tôi tin rằng Đức Phật không bao giờ rời bỏ chúng sinh.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.